13 thg 6, 2022

SÀI GÒN XƯA BAO ĐIỀU ĐỂ NHỚ

 

 

      


      Phải công nhận đây là một status thật hay của bác sĩ Trần Ngọc Quang .Bài viết đã khiến Mru tôi đọc tới đâu khâm phục đến đó bởi tác giả có trí nhớ phong phú và phi thường.Cuối bài còn có phần phụ lục ông ghi lại tên các con đường Sài Gòn ngày xưa, Sài Gòn sau 1954 và Sài Gòn sau 1975 rất quý hiếm cho những ai muốn tìm hiểu và sưu tầm về thành phố Sài Gòn.

Đúng là :

Sài Gòn xưa còn nhiều điều chưa sáng tỏ,

Song chẳng thể bảo Sài Gòn xưa đã chết

Bởi đó là vùng đất phong phú đa mang

Tiềm ẩn biết bao điều hay và thú vị…

*****

     


     Từ hơn một thế kỷ nay, nước Việt Nam đã chịu rất nhiều thay đổi về chánh trị, hành chánh, văn hóa, xã hội…. luôn cả tên đường của Sài Gòn. Nhiều đường đã thay đổi tên hai, ba lần và vài đường mang tên các vị anh hùng hồi đời nhà Nguyễn đều biến mất. Vài người Việt ở nước ngoài khi trở về nước gặp nhiều khó khăn mới tìm lại được nhà mình đã ở lúc trước. Những bạn sanh ra sau 1975 lại không thể hình dung các tên đường thuở trước, nói chi đến lịch sử và tiểu sử của các vị đó. Riêng tôi, nhờ những kỷ niệm in sâu vào óc từ thuở niên thiếu và lại có tánh tò mò muốn biết thêm lịch sử nên tôi cố gắng nhắc lại đây vài tên đường để công hiến các bạn đọc giả và xin ngọn gió bốn phương cho biết thêm ý kiến để tu bổ về sau.



    Tôi sanh ra tại nhà bảo sanh của Bác Sĩ Lâm Văn Bổn số 205 đường Frère Louis, gần chợ Thái Bình thuộc Quận 3 thuở đó của Đô Thành Sài Gòn, vào thời Đông Dương sắp vào chiến lửa binh đao, chín tháng trước khi Trân Châu Cảng chìm trong khói lửa, lúc đó Việt Nam còn là một thuộc địa của Pháp Quốc và nhiều đường Sài Gòn mang tên Pháp.

    Tôi lớn lên tại Sài Gòn, tại số 148 đường Colonel Boudonnet dọc theo đường rầy xe lửa, sau nầy đổi tên là Lê Lai tới nay, đường lấy tên của Đại Tá Théodore Boudonnet thuộc Sư Đoàn 2 Bộ Binh Thuộc-Địa và Tư lệnh Sư Đoàn Bộ Binh An Nam, tử trận bên Pháp hồi 1914. Mặt đất đường nầy thấp hơn các đường Frère Louis, Phan Thanh Giản và Frères Guillerault nên mỗi khi mưa lớn là đường bị ngập : “nhờ vậy” mà sau khi tạnh mưa, dọc theo bức tường ngăn đường rầy và đường lộ những con dế từ đất chui ra hang để khỏi bị ngộp, nên tôi đi bắt đến khuya mới về ít lắm là ba bốn con và thường bị mẹ tôi quở trách.

       Sau khi “chạy giặc” hồi 1945 vì máy bay đồng minh oanh tạc nhà ga và đường rầy xe lửa để chận tiếp tế cho quân Nhựt, gia đình tôi trở về sống tạm trước Nhà thờ “Huyện Sỹ” đường Frères Guillerault và năm sau rồi dọn trở về lại hẻm 176/11 đường Colonel Boudonnet.



Nhà thờ Huyện Sỹ xây cất năm 1905, ông là người giàu có vùng Gò Công, tên thật là Lê Phát Đạt và là Ông ngoại của Nam Phương Hoàng Hậu, vợ của Hoàng Đế Bảo Đại.

Gần nhà thờ Huyện Sỹ có hai đường mang tên Frère nhưng nếu Frère Louis là để tưởng nhớ đến Thầy Louis Gaubert lập ra trường Taberd, đường Frères Guillerault (có chữ “S” sau Frères) là để tưởng nhớ đến hai anh em Roland và Léon Guillerault sinh trưởng tại Sài Gòn và tử trận trong Đệ Nhứt Thế Chiến bên Pháp.

 


  Trong lúc “tản cư” tôi đi học lớp chót trường làng tại quận Hóc Môn và vì một sự tình cờ mà Ba tôi ghi cho tôi học tiếp miển phí lớp “Douzième” trường Chasseloup-Laubat, thay vì Petrus Ký như Ba tôi.”Trường Chasseloup” xây cất trong ba năm nơi rạp hát bội của Tả Quân Lê Văn Duyệt, lúc đầu mang tên Collège Indigène de Saigon, nhưng khi khánh thành năm 1877 thì đổi lại là Collège Chasseloup-Laubat và từ 1928 trở thành Lycée có nghĩa là luyện thi đến lớp Tú Tài, mang tên của Hầu Tước Justin De Chasseloup Laubat, Bộ Trưởng Bộ Hải Quân và Thuộc Địa dưới thời Napoléon III, người quyết tâm chiếm và giữ Nam Kỳ. Hồi 1946 quân đội Pháp mới trở lại Việt Nam nên ít có gia đình và trẻ con Pháp sống tại Sài Gòn nên dư giáo viên mà thiếu học trò ! Lớp 12è niên khoá 1946-1947 trai và gái học chung tại Collège Calmette gần đó, sau đó vài năm trường nầy đổi tên là Lycée Marie Curie cho đến ngày nay. Tôi còn nhớ lúc ra về tôi chạy nhanh ra cổng, không phải để tìm Ba tôi, thường người ra sở trễ và đi xe đạp từ “Toà Tân Đáo” (Sở Ngoại Kiều) ở đường Georges Guynemer dưới Chợ Cũ lên rước tôi, mà là để tranh thủ thời gian để cạo mủ cao su !



     Thật vậy, giữa trung tâm thành phố Sài Gòn không hiểu ông Tây nào có ý kiến trồng cây cao su theo hai bên đường Jauréguiberry cho có bóng mát ? Bernard Jauréguiberry là một Đề Đốc Pháp đã đánh vào Đà Nẳng và chiếm thành Gia Định, về sau giữ chức Thượng Nghị Sĩ và Bộ Trưởng Bộ Hải Quân, mà tại sao lại đặt tên cho một đường nhỏ bên hông trường Calmette ? Nhưng dù sao đi nữa những cây cao su đó, sau khi lấy đá đập vào vỏ thì chảy ra mủ trắng rất nhiều. Tôi trét mủ ấy trên cập táp da của tôi rồi khi mủ khô thì cuốn tròn quanh một cục sỏi và ngày qua ngày trở thành một trái banh nhỏ.

    Như vậy tôi thuộc vào thành phần “Nam Kỳ chánh cống” và “dân Sài Gòn một trăm phần trăm”, lớp tuổi gần 70 và và sống tại Saigon trong 34 năm. Những bạn lớn hơn tôi vài tuổi và những bạn gốc “Bắc trước năm mươi tư” mới biết tên đường cũ như tôi, các bạn khác ráng mà tìm các tên trong trang sau cùng ! Không phải tôi bị “tây hóa” nên không chịu dùng tên Việt Nam, nhưng các tên đường cũ đả khắc sâu vào trí nhớ tuổi thơ của tôi, hơn nửa lúc trẻ tôi hay tìm tòi trong tự điển Larousse coi ông nầy là ai mà họ đặt tên đường, sau thế hệ của chúng tôi, ít còn ai nhớ đến tên những con đường Sài Gòn năm xưa…



      Mẹ tôi có thuê một cyclo để đi làm và đưa tôi đi học tại trường Chasseloup, “Chú Ba Xích Lô” mỗi ngày chạy ra phía nhà ga Sài Gòn theo đường Colonel Boudonnet, sau khi qua rạp hát Aristo, nay là New World Hotel, quẹo trái qua đường Chemin des Dames và băng qua đường Lacote (chớ không phải Lacotte, Moïse Lacote là cựu Trưởng Ban Hành Chánh vùng Gia Định và Giám Đốc Thuế Vụ Nam Kỳ vào năm 1896) hoặc theo đưòng Amiral Roze (người đã từng tấn công Nam Hàn) để đi thẳng tới đường Gia Long, tên của đường La Grandière vào khoảng ấy (Đề Đốc Pierre De La Grandière thay thế Đề Đốc Bonard là một trong những Thống Đốc đầu tiên của Nam Kỳ, Ông tự động đi chiếm xứ Cambodge năm 1863 mà không có lệnh của Hoàng Đế Napoléon III và cũng chính Ông đã chiếm ba tỉnh miền Tây năm 1867 làm cho Cụ Thống Tướng Phan Thanh Giản phải đầu hàng và sau đó tự vận, dưới thời Đề Đốc De La Grandière Sài Gòn phát triển mạnh mẻ).

     Chú Ba Xích Lô xuyên qua vườn “Bờ Rô” để có bóng mát rồi ra đường Larégnère, sau nầy là đường Đoàn Thị Điểm. Tôi không biết tại sao người ta kêu công viên đó bằng tên ấy, có thể là phiên âm của chữ “préau (sân lót gạch) nhưng theo học giả Trần Văn Xướng thì do Ông “Moreau”, tên của người quản thủ Pháp đầu tiên chăm nom vườn nầy; thuở trước các người lớn tuổi còn gọi là “vườn Ông Thượng”, có thể là vì trước kia Tả Quân Lê Văn Duyệt là người tạo ra vườn nầy. Dưới thời Pháp thuộc vườn “Bờ Rô” nằm trong khu đất của dinh Thống Đốc nhưng vào năm 1869 Phó Đề Đốc Hector Ohier, người thay thế Đề Đốc De La Grandière, cắt chia đất và tặng thành phố vườn nầy mang tên Parc Maurice Long. Mười năm sau đường Miss Cavell được tạo ra, lúc đó mang tên rue de la Pépinière, để biệt lập với dinh Thống Đốc mà sau nầy là Palais Norodom và sau 1954 trở thành Dinh Độc Lập rồi Dinh Thống Nhứt sau 1975. Cũng có thể tên “Ông Thượng” là Ông Ohier, có tên đường dưới chợ cũ, nhưng tới đời tôi chỉ gọi vườn đó là “vườn Bờ Rổ”, sau nầy mang tên vườn Tao Đàn.



       Ra vườn Bờ Rô gặp đường Chasseloup-Laubat rồi đi thẳng trên đường Larégnère, sau đó tới đường Testard : hai tên nầy ở gần nhau cũng đúng vì Trung Tá Bộ Binh Jules Testard và Thiếu Úy Hải Quân Etienne Larégnère, 31 tuổi (chớ không phải Lareynière hay Laraignère) tử vong cùng một trận đánh ác liệt tại Đồn Kỳ Hòa, ở vùng trường đua Phú Thọ, giữa lực lượng của Thống Tướng Nguyễn Tri Phương và Đô Đôc Victor Charner năm 1861. Ai cũng biết đường Chasseloup-Laubat, một đường chiến lược rất dài đi từ Chợ Lớn, từ đường 11è R.I.C (Régiment d’Infanterie Coloniale) đến Thị Nghè, sau 1955 đường nầy đổi tên là Hồng Thập Tự.

      Đi thẳng đến đường Testard, chú Ba quẹo mặt và bỏ tôi xuống ở góc đường Barbé vì học sinh vào trường Chasseloup bằng cửa sau. Góc đường nầy sẽ liên hệ nhiều với tôi sau nầy khi tôi trở thành sinh viên y-khoa. Đường Barbé (chớ không phải Barbet ) có từ lâu và mang tên của Đại Úy Nicolas Barbé thuộc Sư Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến Pháp bị Ông Trương Định cho tên Nguyễn Văn Sất ám sát vào năm 1860 gần chùa Khải Tường, nơi vua Minh Mạng sanh ra năm 1791 lúc Nguyễn Ánh chạy lọan vào miền nam để tránh anh em Tây Sơn. Chùa nầy do Nguyễn Ánh sau khi trở thành vua Gia Long ra lệnh xây cất để tạ ơn Phật Trời đã che chở cho con trai là Nguyễn Phúc Đàm (vua Minh Mạng sau nầy), sau đó chùa được lập làm đồn chống Pháp nên bị lính Pháp phá dẹp hồi 1880, pho tượng Phật hiện còn lưu niệm trong Viện Bảo Tàng Sài Gòn, trong Sở Thú. Trên nền chùa bỏ hoang nầy về sau có cất lên một biệt thự lầu lớn kiểu âu-châu tại số 28 đường Testard mà Bà Bác Sĩ Henriette Bùi (con gái thứ ba của Ông Bùi Quang Chiêu) mướn lại của người chủ là một luật sư người Pháp làm dưỡng đường sản-phụ khoa vào thập niên 1940. Ông Bùi Quang Chiêu (1872-1945) là kỹ sư canh nông Việt Nam<đầu tiên tốt nghiệp bên Pháp năm 1897 và bị Trần Văn Giàu (phong trào Việt Minh) ám sát cùng ba người con trai vào tháng 9 năm 1945. Còn Bà Henriette Bùi Quang Chiêu sanh năm 1906 là người đàn bà Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp y-khoa bác sĩ tại Paris năm 1929, nay Bà đã 103 tuổi và hiện còn minh mẩn và sống tại ngoại ô Paris: Bà kể lại rằng vào năm 1943 nhà nầy được bán lại cho một người Do Thái tên là David chủ của nhiều biệt thự tại Sài Gòn; vào đầu năm 1945 chánh phủ Pháp trưng dụng nhà nầy và cho Bà thuê một biệt thự khác ở đưởng Blancsubé để dời dưỡng đường đến đấy. Tháng 3 năm 1945 Nhựt đảo chánh Pháp và tịch thu căn villa nầy, và khi Pháp trở lại thì trao cho Viện Đại Học Sài Gòn để rồi năm 1947 nơi nầy trở thành chi nhánh của Đại Học Y-Dược Khoa Hà Nội rồi năm 1954 thành Đại Học Y-Dược Khoa Saigon, nơi tôi được đào tạo trong sáu năm với GS Phạm Biểu Tâm làm Khoa Trưởng. Nơi đầy kỷ niệm nầy nay là Bảo Tàng chứng tích chiến tranh.


           
Lớn lên tôi đi xe đạp về một mình nhưng thích đi theo đường Testard hơn vì có bóng mát dưới hàng cây me, song song với đường Richaud (sau đổi lại đường Phan Đình Phùng) và thường ghé biệt thự số 6 đường Eyriaud des Vergnes (sau là Trương Minh Giảng) chơi với một bạn học cùng lớp, nhứt là vào mùa các cây trứng cá có trái. Ông Etienne Richaud là một Toàn Quyền Đông Dương hồi cuối thế kỷ XIX, còn Ông Alfred Eyriaud Des Vergnes người gốc Châteauroux là Kỹ Sư Trưởng Nha Công Chánh Nam kỳ (Cochinchine), Ông là một thần đồng tốt nghiệp trường Polytechnique tại Paris lúc 17 tuổi sau đó học trường Ponts et Chaussées, ra lệnh lấp kinh Charner, tạo hệ thống cống dài 7 km, cất 12 cầu theo “Kinh Tàu” (Arroyo chinois nối liền với rạch Bến Nghé chảy ra sông Sài Gòn). Ông Eyriaud Des Vergnes là người đầu tiên có ý lập ra đường sắt tại Việt Nam chạy lên Cambodge nhưng kế hoạch không thành, về sau nhờ Kỹ Sư Thévenet Giám Đốc Nha Công Chánh Nam Kỳ và sự hỗ trợ của Cố Vấn chánh phủ Paul Blanchy mà Việt Nam có đường sắt đầu tiên đi từ Sài Gòn đến Mỹ Tho năm 1885. Hai người nầy cũng có tên đường và sau 1955 đổi lại là Tú Xưong (Thévenet) và Hai Bà Trưng (Paul Blanchy).



       Sau khi qua đường Pierre Flandin (tên của một “đứa con” của Sài Gòn tuy sanh tại vùng Vaucluse và tử trận tại Noyon, tỉnh Oise, miền bắc nước Pháp vào năm 1917), đến cuối đường gặp rạp hát Nam Quang (nay vẫn còn), tôi quẹo trái ra đường Verdun (khoảng đó tên là đường Thái Lập Thành), đến ngã sáu Sài Gòn thì tôi lại đi qua đường Frère Louis để về nhà bằng đường d’Ypres cho vắng xe. Đường nhỏ nầy ở sau “Mả Lá Gẫm”, đúng hơn là của Ông Mathieu Lê Văn Gẫm, có bức tượng trong nhà thờ Huyện Sỹ, tử đạo thời vua Thiệu Trị vì bị hành hình lối năm 1847, mả đó nay vẫn còn nguyên tuy bị che khuất, và Ypres là tên một thành phố nhỏ bên vương quốc Bỉ, như thành phố Dixmude, nơi đã xẩy ra những trận đánh lớn hồi Đệ Nhứt Thế Chiến.

      Đi xích lô mỗi ngày như vậy hoài cũng chán nên tôi thường đề nghị với Chú Ba đi về bằng ngả khác, thuở ấy đường phố ít xe hơn bây giờ vì Sài Gòn và Chợ Lớn không hơn một triệu dân cư. Tôi thích nhứt đi về nhà qua chợ Sài Gòn : Chú Ba tránh đường Mac Mahon (sau 1952 đoạn nầy lấy tên De Lattre de Tassigny và sau đó là Công Lý), đi đường Barbé và một đoạn đường Chasseloup-Laubat, rồi quẹo trái qua đường Miss Cavell với hàng cây cao bên hông Cercle Sportif Saigonnais (tên không phải viết Cawell hay Cavel : Edith Cavell là một nữ y-tá người Anh bị quân Đức xử bắn tại Bỉ vào năm 1915 lúc 50 tuổi vì giúp tù binh Anh, Bỉ và Pháp trốn qua Hòa Lan) để trổ ra đường Aviateur Garros rồi xuống chợ Sài Gòn, nơi bán nhiều trái cây (Roland Garros là phi công Pháp đầu tiên bay xuyên biển Méditerranée hồi 1913 và tử trận năm 1918).



Rồi cứ đi theo mãi đường d’Espagne (sau là Lê Thánh Tôn) vì vào 1859 quân lính Tây-Ban-Nha dưới quyền chỉ huy của các Đề Đốc Pháp đóng tại đó) để về Ngã Sáu (Phù Đổng) rồi về Colonel Boudonnet bằng ngã Amiral Roze. Đặc biệt Sài Gòn có rất nhiều tên đường mang tên các trận đánh thời Đệ Nhứt Thế Chiến (Boulevard de la Somme, Chemin des Dames, đường Verdun, đường Arras, đường Champagne, đường Dixmude, đường Douaumont, Quai de la Marne….) và tên các đề đốc Pháp vì dưới thời các vua Minh Mạng và Tự Đức tất cả quân Pháp đến Việt Nam bằng tàu thủy mà hai vị có tiếng nhứt là Charner và Bonard. Đô Đốc Léopold Victor Charner người vùng Bretagne, gốc Thụy Sĩ là Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Hải Quân Pháp tại Đông Nam Á, ngưòi đã chiếm Nam Kỳ, còn Đề Đốc Adolphe Bonard (chớ không phải Bonnard ) là Thống Đốc đầu tiên của Nam Kỳ do hoàng đế Napoléon III bổ nhiệm vào năm 1861 dưói thời vua Tự Đức.

      Vào cuối thế kỷ XIX kinh rộng nhứt của Sài Gòn là “Kinh Lớn” hay “Kinh Charner” đi từ sông Sài Gòn đến Tòa Thị Sảnh, có hai đường dọc hai bên : đường chạy xuống bờ sông là đường Rigault de Genouilly, đường chạy lên là đường Charner. Vì mùi hôi thúi người Pháp lấp kinh lại sau nhiều năm bàn cãi và khi “đường Kinh Lấp” thành lập thì đương nhiên lấy tên Boulevard Charner vào năm 1861 nhưng Ba tôi vẫn gọi là đường Kinh Lấp vào những năm 1930. Trước đó, có một kinh dẫn nước sình lầy chảy ra Kinh Tàu từ chợ Bến Thành (người Pháp gọi là Les Halles Centrales), theo Học Giả Vương Hồng Sển vì gần rạch Bến Nghé và gần Thành Gia Định, kinh đó mang tên kinh Gallimard. Thiếu Tá công binh Léon Gallimart có dự trận đánh Kỳ Hòa, và đào kinh nầy vào năm 1861 theo lệnh của Đô Đốc Charner. Kinh nầy sau khi lấp lại theo ý kiến của kỹ sư Thiếu Tá Bovet năm 1867 lấy tên là Đại Lộ Bonard, vì thế đường nầy mới rộng lớn như ngày nay. Lúc lấp kinh và bến đò họ thành lập một công trường lớn, đó là “Bùng Binh” trước chợ Bến Thành mà người Pháp gọi là Place Eugène Cuniac, tên của một Thị Trưởng Sài Gòn, nay vẫn còn tên Công Trường Quách Thị Trang, một nữ sinh thiệt mạng lúc biểu tình dưới thời Ngô Đình Diệm năm 1963. Trước Tòa Thị Xã Sảnh, ở góc đường Charner và Bonard cũng có một bùng binh nhỏ với nước phun lên tên là Place Francis Garnier, nay là công trường Lam Sơn, để tưởng nhớ đến một sĩ quan hải quân trẻ tuổi phiêu lưu trên đất bắc và tử thương tại Hà Nội hồi 1873. Nhiều đường khác củng do lấp kinh mà ra như Boulevard de La Somme (rạch Cầu Sấu, sau nầy là đại lộ Hàm Nghi), đường Tổng Đốc Phương (hay Đỗ Hữu Phương), đường Pellerin (tên của một Giám Mục đã bênh vực công giáo Việt Nam nhưng khuyên lầm Đề Đốc Rigault De Genouilly lúc tấn công Đà Nẳng vào 1858) sau nầy đường Pellerin lấy tên là Pasteur.



     Đường mà tôi thích nhứt, sang trọng nhứt và có tiếng nhứt Sài Gòn là đường Catinat, có trước khi người Pháp đến và mang tên một thuyền lớn đã bắn đại bác vào Đà Nẳng (chớ không phải tên của một Đề Đốc như nhiều người tưởng, thuyền “Le Catinat” lấy tên của Thống Chế Nicolas de Catinat, sống hồi thế kỷ XVII dưới thời Louis XIV). Nơi đó có rất nhiều tiệm sang trọng, đường phố sạch sẽ và có nhiều “Ông Tây” ngồi uống cà phê tại khách sạn Continental, lúc đó chưa có tiệm Givral và nơi đó là Nhà Thuốc Tây Solirène, thay thế Pharmacie Centrale. Sau nầy có thêm tiệm Brodard ở gốc đường Catinat và Carabelli, tên của một Nghị Viên thành phố. Tôi cũng có dịp vô nhà sách Albert Portail (nay vẫn còn dưới tên Xuân Thu từ 1955) và đi dạo trong Passage Eden vì trong cùng có rạp hát Eden, rạp nầy và rạp Majestic ở cuối đường Catinat là hai rạp chiếu bóng sang nhứt Sài Gòn vào thuở đó; đi chơi vậy chớ có tiền đâu mà mua đồ, nhiều lắm thì lấy vài tấm hình mà các ông phó nhòm chụp dạo lúc đi trước “Nhà Hát Tây”, cất theo kiểu Opéra bên Paris. Đường Catinat là đường tráng nhựa đầu tiên của Sài Gòn, khi mới tráng nguời ta kêu là đường “Keo Su” dài tới Nhà Thờ Đức Bà ; qua công trường Pigneau de Béhaine trước Bưu Điện có bức tượng Ông “Cha Cả” hay Evêque d’Adran dẫn Hoàng Tử Cảnh ra trình diện Louis XVI tại Versailles. Sau khi qua khỏi đường Norodom thì đường Catinat lấy tên của Cố Vấn chánh phủ và Nghị Viên Thị Xã Sài Gòn Blancsubé và tiếp theo công trường Maréchal Joffre với tượng đài chiến si tử vong trong Đệ Nhứt Thế Chiến là đưòng Garcerie với những hàng cây cao, sau nầy mang tên Duy Tân và công trường Quốc Tế hay “Hồ Con Rùa”.



     Ba tôi có nhiều bạn người Tàu và thường vô Chợ Lớn chơi bằng xe lửa điện (tramway) mà người ta thường gọi là “xe lửa giữa” vì chạy giửa đường Gallieni, tới trạm gare de Nancy thì bạn của Ba tôi lên xe lửa đi cùng vì ở gần thành Ô Ma (Camp des Mares, sau nầy là Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia). Tôi còn nhớ xe lửa giữa đó, với ghế cây theo kiểu của Métro xưa bên Paris, chạy thẳng theo đường Gallieni nối liền Sài Gòn với Chợ Lớn. Ba tôi nói lúc trứớc nơi đây toàn là đất hoang và sình lầy, sau khi lấp bưng thành đường đất gồ ghề rồi khi Ba tôi xuống Sài Gòn học vào năm 1928 thì đường mới được tráng nhựa và năm sau điện giăng giữa chia con đường làm hai chiều, một bên chạy lên một bên chạy xuống, đường rầy xe điện đặt trung tâm đại lộ, đến năm 1953 mãn hạn giao kèo khai thác mới dẹp. Đường nầy mang tên của Thống Chế lừng danh Joseph Gallieni chết năm 1916 nhưng phục vụ ngoài Bắc lúc còn Đại Tá Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh và sách vở ghi công Ông về tổ chức hành chánh tại Đông Dương. Tên của Ông viết với chữ “e” chớ không phải với chữ “é” vì là người gốc Ý Đại Lợi.

      Xe điện chạy thẳng vô đường rue des Marins, qua khu Đại Thế Giới nay là khu Cát Tường và đường Jaccario (vì lúc trước pháo hạm “Le Jaccario” đậu gần đó trên “Kinh Tàu” hay Arroyo chinois trong Chợ Lớn, và chắc lính thủy lên bờ nhiều nên mới gọi là rue des Marins), ở góc đường có vũ trường Arc-En-Ciel, sau 1975 đổi tên là nhà hàng và khách sạn Arc-En Ciel Thiên Hồng, đến đường Tổng Đốc Phương thì quẹo qua trái mới đến Bưu Điện Chợ Lớn, nhà ga cuối cùng là Gare Rodier, tại Kinh Tàu.

      Lúc còn ở đường Colonel Boudonnet tôi có nhiều bạn ở khu nhà thờ Huyện Sỹ và thường vô phía sau nhà thờ bắn “giàn thun” trên mấy cây soài nên bị “Ông Từ” rượt nhiều lần ! Ngoài đường Frères Guillerault trước nhà thờ, còn có đường Duranton và đường Léon Combes mà sau nầy đổi tên là Sương Nguyệt “Ánh”. Trung Sĩ Léon Combes là một đứa con của Sài Gòn ở Giồng Ông Tố bên Cát Lái tử trận năm 1917 tại Craonne, thuộc tỉnh Aisne vùng Picardie phía Bắc Paris. Tôi nhớ, vì học “trường tây” nên tôi thắc mắc và tự hỏi Bà nào mà mang họ Sương mà tôi tìm hoài trong sách vở không thấy ? Sau nầy tham khảo mới biết đó là tên bút hiệu của Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuê (có sách nói là Nguyễn Xuân Khuê), con gái thứ tư của cụ Nguyễn Đình Chiểu, người đàn bà đầu tiên làm Chủ Bút báo “Nữ Giới Chung” cho phụ nữ hồi 1918. Tuần báo nầy còn tên là Fémina Annamite và tòa soạn ở 13 đường Taberd, trong sách kể là Sương Nguyệt ANH (=Góa phụ Nguyệt Anh), nhưng tại sao hồi 1955 họ đổi tên đường Léon Combes thành Sương Nguyệt Ánh ?


       Về sau, gia đình tôi dọn về Chợ Lớn ở đường Lacaze, nay là đường Nguyễn Tri Phương, nổi tiếng vì “Mì La Cai”, đường mang tên của Đô Đốc Lucien Lacaze, Bộ Trưởng Bộ Hải Quân từ 1915 đến 1917 hồi Đệ Nhứt Thế Chiến, nhưng chúng tôi ở khúc trên, gần gốc đường Pavie (nay là Lý Thái Tổ chớ không phải đường 3 tháng 2 vì dường nầy mới có vào lối 1957, lúc trước là trại lính) dẫn lên trường đua Phú Thọ. Khúc dưới đường mang tên ông Auguste Pavie (lừng danh trên đất Lào) dặc biệt rộng lớn và rất dài, có nhiều cây và bên trong có đường dành cho xích lô và xe đạp. Nếu đi từ Ngã Bảy xuống công trường Khải Định, từ giữa đường nầy đến đường Frédéric Drouhet sẻ thấy những biệt thự mà “Chú Hoả” cất cho con cháu ở (tên thường gọi của Jean-Baptiste Hui Bôn Hoả một triệu phú người Tàu tham gia với chánh quyền tặng thành phố Sài Gòn Policlinique Déjean De La Bâtie, tên của một bác sĩ tận tụy lo cho người Việt Nam, ngoài đường Bonard, sau nầy trở thành Bệnh Viện Đô-Thành), sau 1954 các nhà nầy dành cho Ủy Hội Kiểm Soát Quốc Tế Đình Chiến ở và khúc đường nầy gọi là đường Hui Bôn Hoả.

      Lúc đó đường Pavie có xe nhà binh pháp chạy nhiều vì có thành lính gần đó và tại khu đường Cây Mai, trước khi tới Phú Lâm. Khu đất từ đường Lacaze đến đường Ducos (sau đổi là đường Triệu Đà) là đồng mả, đường hẻm tôi ở trước một mả đá lớn, mới phá hồi tháng 11 năm 2004 : đó là mả có từ thế kỷ thứ XVIII của một người đàn bà lối 50 tuổi và quan tài thứ nhì chắc là của một người đàn ông, chỉ có vài nữ trang chớ không có vàng bạc chôn theo như người ta tưởng.

     Từ đường Lacaze đi ra trường Chasseloup Laubat xa hơn, tôi phải đạp xe xuống Ngã Bảy, quẹo trái qua đường Général Lizé, rồi đạp thẳng hoài, qua khỏi đường Verdun đường nấy lấy tên Legrand De La Liraye. Qua khỏi trường nữ sinh Gia Long (hồi xưa gọi là Collège des Jeunes Filles Annamites, sau là Trường Aó Tím) và đến tận trường Marie Curie mới quẹo xuống đường Barbé. Đường Général Lizé là một đường chiến lược rất dài lúc trước gọi là đường Hai Mươi, đi từ Ngã Bảy Chợ Lớn, nối dài đường Pierre Pasquier, đến đường Albert Premier trên Dakao, lấy tên của Trung Tướng Lucien Lizé, xuất thân từ trường Polytechnique, Paris, Tư Lệnh Pháo Binh chiến trường Ý tử trận hồi 1918, có phục vụ bên Việt Nam lúc còn Đại Tá, còn Legrand De La Liraye là một trong những linh mục thông ngôn cho Đề Đốc Rigaud De Genouilly và trở thành Thanh Tra phụ trách về các hồ sơ giưã người Việt và chánh quyền bảo hộ. Sau 1954 đường nầy đổi thành đường Phan Thanh Giản, một vị anh hùng sáng suốt và can đảm của Việt Nam. Tiếc thay sau 1975 không còn đường nào trên mảnh đất Việt Nam mang tên anh hùng dân tộc nầy, cũng như không còn đường vào mang tên Lê Văn Duyệt và cũng không còn trường học nào mang tên Petrus Ký ! Cho tới nay tôi chưa thấy một học giả Việt Nam nào giỏi hơn Petrus Trương Vĩnh Ký, tuy vài “Sử Gia” buộc tội vị nầy nhiều điều vô lý, họ quên rằng công lao lớn nhứt của Ông Petrus Ký là truyền bá cho dân chúng sử dụng chữ quốc ngữ có từ Alexandre de Rhodes vào thế kỷ XVII thay thế chữ Nôm khó học và khó viết. Tôi nghe nói ở Vĩnh Long hiện nay có một trường học mang tên Phan Thanh Giản và vào tháng 11 năm 2008 rạp chiếu bóng Nguyễn Văn Hảo đường Trần Hưng Đạo tại Sài Gòn đang hát tuồng “Tả Quân Lê Văn Duyệt”, đó là điều đáng mừng vì những vị anh hùng các triều nhà Nguyễn phải được hồi phục.



    Hồi thời Pháp thuộc cũng có những tên đường mang tên những anh hùng hay nhân tài Việt Nam như đường Paulus Của (Đốc Phủ Sứ Hùynh Tịnh Của) trên Dakao, đường Tổng Đốc Phương (Đổ Hữu Phương) trong Chợ Lớn, đường Phủ Kiệt (Đốc Phủ Sứ Trần Văn Kiệt là Nghị Viên thành phố trên 25 năm), Hùynh Quan Tiên, Nguyễn Văn Đưởm trên Tân Định (cà hai là Nghị Viên Thuộc Địa và Nghị Viên Thành Phố), Nguyễn Tấn Nghiệm (Nghị Viên), và Trương Minh Ký, một trong những Nghị Viên đầu tiên của thành phố, ông nầy tên thật là Trương Minh Ngôn cháu bốn đời của Trương Minh Giảng, được ông Trương Vỉnh Ký đem về nuôi và đổi tên, cho đi Pháp học và là một trong 7 người sáng lập viên ra Trường Thông Ngôn (Ecole des Interprètes) nằm trong Tòa Án, nhờ làm thông dịch viên lúc Traité de Patenôtre năm 1884 nên được vô quốc tịch Pháp, người mất lúc 55 tuổi vì bệnh lao phổi.

      Vị anh hùng Đại Úy phi công của quân đội Pháp, xuất thân từ trường Võ Bị Saint-Cyr và là cựu sĩ quan Lê Dương mang tên Đỗ Hữu Vị có tên trên một đường từ bùng binh chợ Bến Thành đến đường Charner, trước đó đường nầy mang tên Hamelin sau nầy đổi lại là Huỳnh Thúc Kháng. Đại Úy Vị là con thứ năm của Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương, sau khi học trung học tại trường nổi danh Janson De Sailly tại Paris, nhập học vô trường Saint-Cyr vào năm 1904. Trung Úy bên Bắc Phi, ông gia nhập vào binh chủng Không Quân vừa thành lập ; bị thương nặng Đại Úy Vị từ chối giải ngũ và trở về đơn vị Lê Dương và tử thưong tại mặt trận tỉnh Somme năm 1916. Hài cốt được người anh cả là Đại Tá Đỗ Hữu Chấn đem về chôn cất trong nghĩa trang gia đình tại Chợ Lớn.

    Nay Sài Gòn mất nhiều di tích ngày xưa, vì chiến tranh và vì sự thay đổi thời cuộc, tôi tiếc nhứt là hồi tháng ba năm 1983 đã sang bằng “Lăng Cha Cả”, có từ 1799 để lập một công trường mà chả thấy ai ngồi …. Hai người ngọai quốc đã ảnh hưởng Việt Nam nhiều nhứt là Alexandre de Rhodes va Pierre Joseph Pigneau de Béhaine, được dân Việt Nam biết dưới tên Bá Đa Lộc hay Evèque d’Adran, người đã giúp Nguyễn Ánh lên ngôi, đi với Hoàng Tử Nguyễn Phúc Cảnh qua triều đình vua Louis XVI để ký Hiệp Ước Versailles năm 1787. Tên thật là Pigneau, sau đó thêm vô sau tên ấp Béhaine của làng Origny-en-Thiérache mà gia đình có phần đất, thuộc tỉnh Aisne, trong vùng Picardie ở miền bắc nước Pháp. Vua Gia Long cất một ngôi nhà ở số 180 đường Richaud cho Bá Đa Lộc (nay vẩn là Tòa Tổng Giám Mục đường Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3) và đọc điếu văn khi người mất năm 1799. Mộ ông người Sài Gòn gọi là Lăng Cha Cả là một trong những di tích xưa nhứt của Sài Gòn “ở Gia Định” vào thời Gia Long, sau nầy ở trước trại Phi Long trên Tân Sơn Nhứt. Cốt của Cha Pigneau de Behaine được đem về Pháp năm 1983 và chôn trong nhà thờ Séminaire des Missions Etrangères, rue du Bac tại quận XV Paris. Tôi có viếng thăm nhà kỷ niệm cua Cha Pierre Joseph Pigneau de Béhaine, ở làng Origny-en-Thiérache, trở thành từ năm 1953 “Musée Monseigneur Pigneau de Béhaine” và sau khi xem xong tâm hồn tôi thả về dĩ vãng của một Việt Nam oai hùng tranh đấu cả ngàn năm để giử biên cương …

    Tôi cũng có dịp thăm viếng nhiều di tích của xứ Pháp từ thời Trung Cổ, nhiều lâu đài của Âu Châu và Nga Sô có từ thế kỷ XV, luôn cả những ngôi mộ bên Ai Cập có trước nền văn hóa của Hy Lạp và tiếc rằng xứ tôi không biết giữ gìn những kho tàng quý giá của lịch sử.

*****

Phụ lục

Những tên đường Sài Gòn trong bài theo thời cuộc

Thời pháp thuộc         Sau 1954             Sau 1975

Albert Premier     Đinh Tiên Hoàng Đinh Tiên Hoàng

Amiral Roze        Trương Công Định       Trương Định

Armand Rousseau, Jean-Jacques Rousseau  Trần Hoàng Quân        Nguyễn Chí Thanh

Arras              Cống Qùynh   Cống Qùynh

Aviateur Garros, Rolland Garros    Thủ Khoa Huân  Thủ Khoa Huân

Barbé                  Lê Qúy Đôn           Lê Qúy Đôn

Blancsubé, rue Catinat prolongée  Duy Tân     Phạm Ngọc Thạch

Bonard                Lê Lợi            Lê Lợi

Carabelli    Nguyễn Thiệp       Nguyễn Thiệp

Catinat       Tư Do            Đồng Khởi

Champagne        Yên Đỗ       Lý Chính Thắng

Charner     Nguyễn Huệ       Nguyễn Huệ

Chasseloup Laubat      Hồng Thập Tự    Nguyễn Thi Minh Khai

Chemin des Dames     Nguyễn Phi         Lê Anh Xuân

Colonel Boudonnet      Lê Lai         Lê Lai

Dixmude    Đề Thám   Đề Thám

Đỗ Hữu Vị, Hamelin     Huỳnh Thúc Kháng      Huỳnh Thúc Kháng

Douaumont         Cô Giang   Cô Giang

Ducos        Triệu Đà     Ngô Quyền

Duranton   Bùi Thị Xuân       Bùi Thị Xuân

Espagne    Lê Thánh Tôn     Lê Thánh Tôn

Eyriaud Des Vergnes  Trương Minh Giảng     Trần Quốc Thảo

Frédéric Drouhet Hùng Vương       Hùng Vương

Frère Louis Võ Tánh    Nguyễn Trãi

Frères Guillerault Bùi Chu      Tôn Thất Tùng

Gallieni, rue des Marins        Trần Hưng Đạo, Đồng Khánh ,Trần Hưng Đạo 1, Trần Hưng Đạo 2

Garcerie    Duy Tân     Phạm Ngọc Thạch

Général Lizé       Phan Thanh Giản         Điện Biên Phủ

Georges Guynemer     Võ Di Nguy Hồ Tùng Mậu

Huỳnh Quan Tiên         Hồ Hảo Hớn        Hồ Hảo Hớn

Jaccario     Tản Đà       Tản Đà

Jauréguiberry     Ngô Thời Nhiệm Ngô Thời Nhiệm

La Grandière      Gia Long    Lý Tự Trọng

Lacaze       Nguyễn Tri Phương     Nguyễn Tri Phương

Lacote       Phạm Hồng Thái          Phạm Hồng Thái

Larégnère         Đoàn Thị Điểm          Trương Định

Legrand De La Liraye    Phan Thanh Giản       Điện Biên Phủ

Léon Combes     Sương Nguyệt Ánh      Sương Nguyệt Anh

Mac Mahon, De Lattre De Tassigny, Gal De Gaulle  Công Lý     Nam Kỳ khởi nghĩa

Marins        Đồng Khánh       Trần Hưng Đạo 2

Miss Cavell Huyền Trân Công Chúa        Huyền Trân Công Chúa

Nancy            Cộng Hòa          Nguyễn Văn Cừ

Nguyễn Tấn Nghiệm,  rue de Cầu Kho   Phát Diệm Trần Đình Xu

Nguyễn Văn Đưởm      Nguyễn Văn Đưởm      Nguyễn Văn Nghĩa

Ohier          Tôn Thất Thiệp   Tôn Thất Thiệp

Paul Blanchy      Hai Bà Trưng      Hai Bà Trưng

Pavie, Hui Bôn Hoả     Lý Thái Tổ Lý Thái Tổ

Pellerin      Pasteur      Pasteur

Phan Thanh Giản         Ngô Tùng Châu  Lê Thị Riêng

Pierre Flandin     Bà Huyện Thanh Quan      Bà Huyện Thanh Quan

Pierre Pasquier     Minh Mạng             Ngô Gia Tự

Place Eugène Cuniac  C.Trường Quách Thị Trang  C.Trường Quách Thị Trang

Place Maréchal Joffre     Công Trường Quốc Tế       Hồ con Rùa

Richaud     Phan Đình Phùng        Nguyễn Đình Chiểu

Somme                Hàm Nghi     Hàm Nghi

Testard                Trần Qúy Cáp     Võ Văn Tần

Thévenet         Tú Xương          Tú Xương

Tổng Đốc Phương       Tổng Đốc Phương       Châu Văn Liêm

Trương Minh Ký, Lacant       Trương Minh Ký    Nguyễn Thị Diệu

Verdun, Gal Chanson, Nguyễn Văn Thinh  Lê Văn Duyệt  Cách mạng tháng 8

Ypres         Nguyễn Văn Tráng                Nguyễn Văn Tráng

11è R.I.C.        Nguyễn Hoàng                  Trần Phú

 

Tác giả : BS Trần Ngọc Quang

29 thg 5, 2022

TẢN MẠN VỀ TẾT ĐOAN NGỌ 2022

 


                  Chỉ còn vài ngày nữa thôi là đến Tết Đoan Ngọ 2022. Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu xem Tết Đoan Ngọ năm nay là ngày nào, ăn gì, cúng gì, và sự đa dạng của Tết Đoan Ngọ ở nước ta tùy theo vùng ra sao .

          ***

          Tết Đoan Ngọ năm nay (5/5 âm lịch) rơi vào thứ Sáu ngày 3/6/2022. Đây là ngày Đinh Hợi, tháng Bính Ngọ, năm Nhâm Dần, giờ Canh Tý, tháng 5 âm lịch. Với người Hoa thì ngày này còn được gọi là tết Trùng Ngũ. Vì ngũ là số năm trong tiếng hoa mà Tết Đoan Ngọ là mùng 5 tháng 5 có hai con số 5 nên gọi là trùng ngũ.

          Tết Đoan Ngọ có nhiều tên gọi khác như Tết giữa năm, Tết Đoan dương, Tết sâu bọ…Đoan ngọ là giữa trưa. Đoan dương có nghĩa là bắt đầu lúc dương khí đang mạnh nhất .Tết Đoan Ngọ còn gọi là Ngày giết sâu bọ vì theo truyền thuyết dân gian ta tin rằng cúng lễ trong ngày này sâu bọ, giun sán đều sẽ chết hết.

          Ở mỗi quốc gia lại có những truyền thuyết về nguồn gốc khác nhau về Tết Đoan Ngọ. Phổ biến nhất là truyền thuyết về Tết Đoan Ngọ của Trung Quốc và Việt Nam.

          Theo truyền thuyết Trung Quốc thì cuối thời Chiến Quốc có một vị quan đại thần ở nước Sở tên là Khuất Nguyên. Ông là một vị trung thần nước Sở và là nhà văn hoá nổi tiếng thời bấy giờ. Theo lịch sử ghi chép lại thì ông là tác giả bài thơ Ly Tao (thuộc thể thơ Sở từ) rất nổi tiếng trong văn hóa cổ đại Trung Hoa. Bài thơ thể hiện tâm trạng buồn sầu vì đất nước suy vong và hoạ mất nước.Vì Khuất Nguyên can ngăn vua Hoài Vương không được, thêm bị gian thần hãm hại, ông đã uất ức gieo mình xuống sông Mịch La và qua đời ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch. Do thương tiếc người trung nghĩa, mỗi năm cứ đến đúng ngày đó, người dân Trung Quốc xưa hay làm bánh, quấn chỉ ngũ sắc bên ngoài (để cho cá sợ, khỏi đớp mất) rồi bơi thuyền ra giữa sông, ném bánh xuống, và lấy bỏ gạo vào ống tre rồi thả xuống sông cúng Khuất Nguyên.

                Trong truyền thuyết Việt Nam thì Tết Đoan Ngọ lại gắn liền với việc tiêu diệt sâu bọ phá hoại mùa màng. Người xưa kể lại rằng một ngày sau khi thu hoạch, nông dân đang ăn mừng vì bội thu nhưng bỗng dưng sâu bọ lại kéo đến ăn mất cây trái, thực phẩm đã thu hoạch. Mọi người đau đầu không biết làm cách nào để có thể giải được nạn sâu bọ này thì có một ông lão từ xa đi tới tự xưng là Đôi Truân.

Ông chỉ cho dân chúng mỗi nhà lập một đàn cúng gồm các vật đơn giản như bánh tro, trái cây, sau đó ra trước nhà mình vận động tập thể dục. Nhân dân nghe lời làm theo chỉ một lúc sau, sâu bọ đàn lũ té ngã rũ rượi. Ông lão cũng căn dặn vào ngày này hằng năm thì sâu bọ đều rất hung hăng. Nên mỗi năm vào đúng ngày này cứ làm theo những gì ông đã dặn hôm nay thì sẽ trị được chúng.Dân chúng biết ơn định cảm tạ thì ông lão đã biến mất. Làm theo lời của lão ông, dân chúng đặt cho ngày này là ngày “Tết diệt sâu bọ”, có người còn gọi đó là “Tết Đoan Ngọ” vì giờ cúng thường vào giữa giờ Ngọ.

           Vì giai đoạn diễn ra Tết Đoan Ngọ cũng là lúc chuyển mùa nên dịch bệnh rất dễ phát sinh do đó ngoài ý nghĩa diệt sâu bọ hại cây trồng thì người dân cũng mong trừ bệnh tật trong ngày này. Đây cũng là dịp để con cháu trong gia đình đoàn tụ ,cũng là ngày để cả làng cùng nhau quây quần làm bánh và hái trái cây, thắt chặt tình làng nghĩa xóm và giữ gìn nét đẹp văn hoá Việt.

Tết Đoan Ngọ cúng gì ,ăn gì ?

            Người dân thường làm lễ cúng Tết Đoan Ngọ vào lúc sáng sớm mùng 5 tháng 5 âm lịch. Nhưng vì giờ Ngọ là khoảng thời gian từ 11 giờ trưa đến 13 giờ chiều nên thời điểm cúng Tết Đoan Ngọ chuẩn phải là vào khoảng thời gian này. Vì theo nhiều nghiên cứu văn hóa dân gian, Tết Đoan Ngọ được ghép từ Đoan (mở đầu) và Ngọ (giờ ngọ). Chính vì thế, thời gian cúng Tết Đoan Ngọ vào lúc nào chuẩn thì thường vào giờ ngọ từ 11 giờ sáng đến 13 giờ ngày 5 tháng 5 âm lịch.

 


• Cơm rượu, rượu nếp, nếp cẩm là những món không thể thiếu vào ngày Tết Đoan Ngọ ở Việt Nam. Theo quan niệm của mọi người, bộ phận tiêu hóa của con người thường có các loại vi khuẩn hoặc giun sán có hại, chúng thường cư trú sâu trong bụng nên không phải lúc nào cũng tiêu diệt được.

• Chỉ vào ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch, các loại ký sinh này thường ngoi lên thì chúng ta mới có thể tận dụng cơ hội để loại bỏ chúng bằng cách ăn những thức ăn có vị chua, cay, chát. Trong đó nổi bật nhất là cơm rượu, rượu nếp hay nếp cẩm. Đặc biệt, nếu bạn thưởng thức món rượu này vào buổi sáng, ngay khi thức dậy thì càng hiệu quả hơn.

 


                    Bánh tro là loại bánh có màu vàng nâu, được làm bằng gạo nếp ngâm trong nước tro của các loại cây khô. Sau đó bánh được gói trong lá chuối rồi nấu chín. Có vùng gọi đây là bánh ú nước tro, có vùng chỉ gọi là bánh ú hoặc bánh tro.

 


        • Trái cây cũng là một món không thể thiếu của ngày Tết Đoan Ngọ. Với mong muốn “tiêu diệt sâu bệnh” bên trong người, dân gian thường lựa chọn các loại quả có vị chua như mận, xoài xanh… và ăn chúng vào buổi sáng ngay sau khi thức dậy. Nhưng hiện nay việc lựa chọn trái cây cũng khá dễ tính hơn. Ví dụ như mùng 5 tháng 5 thường rơi vào mùa vải nên cũng có thể cúng và ăn vải.

    • Trong ngày Tết Đoan Ngọ ở miền Trung thời thịt vịt là một món ăn không thể thiếu. Nhiều người tin rằng vì mùng 5 tháng 5 là ngày tiết trời oi bức nên ăn vịt sẽ giúp cho cơ thể mát mẻ hơn. Biếu quà trong ngày Tết Đoan Ngọ không phải là điều phổ biến nhưng một số vùng như Vinh, Nghệ An có tập tục con rể biếu quà Tết Đoan Ngọ cho nhà vợ. Việc tặng thịt vịt là cách để con rể bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn với bố mẹ vợ.


                • Ở miền Nam thì chè trôi nước là một món ăn đặc trưng của ngày Tết Đoan Ngọ. Những viên chè trôi được làm từ bột nếp với nhân đậu vàng ươm bên trong cực kỳ thơm ngon. Ăn kèm là nước đường, gừng và cốt dừa tăng thêm vị béo ngậy khó quên của món ăn.


          • Chè kê là món ăn đặc trưng của người Huế trong dịp Tết Đoan Ngọ. Sau khi xay hạt kê và loại bỏ lớp vỏ, người ta ngâm rồi đun sôi cho đến khi nở mềm, sền sệt rồi thêm nước đường cùng chút gừng là đã được một nồi chè kê thơm phức, vô cùng hấp dẫn cho cúng kiến và thưởng thức.

              Mâm cúng Tết Đoan Ngọ thường phải đặt trên bàn thờ gia tiên giống như nghi lễ cúng gia tiên thông thường. Mâm cúng Tết Đoan Ngọ cũng có thể được đặt ngoài trời với mong muốn xua tan sâu bệnh, ước mong con người, vật nuôi, cây trồng tươi tốt, khỏe mạnh.


                 Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ các lễ vật cần thiết để cúng, mọi người sẽ bày biện các lễ vật vào một chiếc mâm cúng và đặt ngay ngắn ở trên bàn thờ hoặc bàn ngoài trời, thắp nến xung quanh. Đợi đến đúng giờ tiến hành nghi lễ cúng bái, thắp hương và đọc văn khấn gia tiên.


  •             Theo lệ thì đúng ngọ , người dân ở các vùng thôn quê sẽ rủ nhau đi hái lá. Đây chính là thời khắc có dương khí tốt nhất trong năm. Lá cây cỏ hái được vào thời điểm này có tác dụng chữa bệnh rất tốt như các bệnh ngứa ngoài da, nhất là các bệnh về đường ruột. Hoặc là đem những lá thuốc như vậy nấu nước xông để giải cảm rất tốt. Ở miền Bắc ,Tết Đoan Ngọ thì thường người ta sẽ dùng những cây mùi già để nấu lấy nước tắm để giải trừ vận xui và khí độc trên người.Ở miền Nam mọi người vẫn thường buộc một chùm lá xông như vậy ở trước nhà để xua đi điềm rủi. Ở vùng ven sông hay biển thì người dân cũng hay rủ nhau ra tắm sông, tắm biển thay cho tục tắm lá mùi xưa.

13 thg 5, 2022

TUỔI GIÀ & NỖI BUỒN TRÊN ĐẤT MỸ…



   Một bài viết nên đọc cho biết, nếu đọc xong thấy đó là chuyện đương nhiên, không cần bàn cãi ( No wonder, No contest ) thì Mru tôi mừng cho bạn ,chúc bạn thanh tâm an lạc ,sống hạnh phúc, sống thật khỏe, tiền nhiều tiêu không hết, thọ trên 100 tuổi , ra đi thanh thản trong vòng tay người yêu thương nhất của đời mình.

 ****

       Ngày 19/6/2017, nhà thương chuyển tôi về skill nursing home , họ chọn chớ gia đình không có quyền chọn . Bấy giờ, hội đồng bác sĩ đã quyết định : thời gian còn lại, dự trù tối đa 2 năm, nursing home sẽ là căn nhà cuối cùng của cuộc đời.Nơi nursing home, có hai dải, một bên trả tiền và một bên do chính phủ đài tho. Có thể nói: thiên đàng tạm thời - và địa ngục là đây!!!

      Tôi không đi vào chi tiết, sau 19 ngày, với sự hỗ trợ của người con, tôi bằng mọi giá xin về nhà, với lý do: tôi tin rằng, tôi mất đi, sẽ thanh thản ra đi, bằng tiếp tục sống nơi đây, linh hồn tôi luôn trầm luân .

Khi về nhà, insurance có gửi tôi survey, tôi ghi hết mọi điều mà tôi gọi là cười ra nước mắt. Sau đó, nghe tin health department thăm viếng cơ sở nầy nhiều lần.Tôi không may mắn, nhưng cầu mong quý anh, còn ở nhà được, còn bò, còn lết, nhứt là còn có bả bên cạnh, đừng nghĩ đến nhà dưỡng lão. Tiền , và tiền mới mua được sự săn sóc nào đó.

         Mới đây tình cờ đọc được một bài viết trên mạng xã hội ờ Mỹ phản ảnh một phần thực tế về sinh hoạt tại một viện dưỡng lão ở quận Cam, California, của một cô gái Mỹ gốc Việt, cô Mary Tran, một người được đào tạo trong lãnh vực "Y Tế & Dịch Vụ Nhân Sinh" (Health & Human Services field). Bài viết có tựa đề:

"The journey to find a Nursing Home"

(Hành trình đi tìm nhà dưỡng lão)

           Xin trân trọng lược dịch và đăng lại để làm trải nghiệm cho những ai đang đi tìm nhà dưỡng lão hay viện hưu dưỡng (Nursing Home - Senior Assistance Living) trên đất Mỹ cho người thân, đỡ bàng hoàng.

  “  ....Tháng trước đây mình có giúp làm một tờ Giấy ủy quyền (Power of Attorney) cho một người thân của bạn mình, đang điều trị tại một bệnh viện địa phương về bịnh tai biến, lý do bệnh viện muốn chuyển người thân bạn mình qua một khu trung tâm nghỉ dưỡng có cơ sở Phục hồi chức năng để bệnh nhân vừa dưỡng bệnh vừa qua vật lý trị liệu. Tình hình đại dịch COVID-19 như hiện nay, tất cả mọi nơi đều quá tải, không còn chỗ trống, nhân viên quản lý bệnh nhân (Case Manager) vẫn chưa tìm được một nơi nào khả dĩ. Thế là bạn mình gọi nhờ tôi giúp đỡ.

          Tôi hứa sẽ giúp bạn tôi tìm một nhà dưỡng lão tốt. Chưa có kết quả, thì bạn tôi báo tin vui rằng không cần làn phiền tôi nữa, nhân viên sở xã hội của bạn mình đã tìm giúp cho bạn mình một trung tâm Phục hồi chức năng vừa có luôn cơ sở dưỡng lão tốt, gần bệnh viện, để tiện cho việc đi lại, đưa đón. Mình rất vui và yên tâm vì biết rằng người thân của bạn mình biết được tiếng Anh và còn rất tỉnh táo, nên tin chắc là sẽ không một ai có thể ăn hiếp được người thân đó của bạn tôi. Với lại, sau này khi đã phục hồi được một phần chức năng, người thân của bạn tôi cũng sẽ phải chuyển qua sống trong một viện dưỡng lão lâu dài thôi. Vì thế đây coi như một cuộc trải nghiệm...

       Nghe bạn nói thế mình chỉ biết khuyên bạn mình nên hết sức cẩn thận, đừng quá vội tin ai trong việc chọn lựa cho người thân mà bạn yêu thương một nhà hưu dưỡng. Bỡi lẽ trong nghề mình quá biết "con quạ nào lại không đen", chẳng qua nó có biết khéo che đậy hay không mà thôi.

      Thật vậy, hai ngày sau khi được bạn mình cho biết địa chỉ cơ sở của nhà "Care Home" nầy, mình đã ghé thăm người thân của bạn tôi tiện thể cho bạn tôi ý kiến chuyên môn của mình. Vào thăm, gặp người thân của bạn tôi, ngồi đó, trên một chiếc xe lăn, gục đầu, nửa thức nửa ngủ, lờ đờ. Tôi hỏi người giúp việc ở đây, họ trả lời là bạn ấy từ ngày vào đây ban ngày thường hay ngủ suốt. Mới đầu tôi nghĩ có lẽ ông ta mới từ bệnh viện qua nên chưa quen hơi, với lại uống nhiều loại thuốc mới, có thể chưa quen. Tôi yêu cầu xin họ cho tôi coi lại danh sách thuốc PRN mà y tá đang cho ông ta uống. Cũng nên biết thêm đơn thuốc PRN là chữ viết tắt của "pro re nata" có nghĩa là việc dùng thuốc không theo lịch trình. Thay vào đó, đơn thuốc được thực hiện khi cần thiết. Tôi xem qua danh sách PRN, khám phá ra họ cho bệnh nhân uống tối đa liều thuốc ngủ cho phép, tôi có hỏi bệnh nhân thì người thân của bạn tôi nói là không hề yêu cầu thuốc ngủ, trong khi Y tá một mực nói là có yêu cầu.

          Trước khi đi mình lấy điện thoại chụp nhiều hình ảnh chung quanh gian phòng của ông bạn. Hai ngày sau tôi quay lại, thùng rác và rác cá nhân vẫn chưa đổ hay dẹp, tôi gọi Y tá trực hôm đó để khiếu nại, họ đổ thừa là tại có hai loại rác khác nhau, người phụ trách vệ sinh (house keeping) tưởng là rác y tế nên không dọn. Mùi hôi thúi từ đó xông lên nồng nặc.

       Còn đồ ăn thì khỏi phải bàn, 90% món ăn là từ đồ hộp có sẵn, thứ phát chẩn, hoặc là thức ăn đông đá, thịt gà thì cứng và khô như gỗ, đậu đũa (green beans) từ hộp lon ra thì mặn chát, nguội lạnh, thế mà tụi nhà bếp lại còn cắt luôn khẩu phần sữa dinh dưỡng của người già làm mình phải đi cãi lộn với họ, vì mình biết chắc một điều là tụi nó giấu sữa Ensure để đem về.

       Ngày hôm sau nữa mình lại đến, lần nầy Y tá quên không rửa vết thương và thay băng mới cho vết thương ngã té của ông bạn mình trong lần ngã trước đây bị nhiễm trùng. Trời ạ, vết thương cần thay băng mỗi ngày 2 lần. Thuốc uống cho bệnh nhân thì một số đã được phân chia sẵn (prepack) trong những túi nylon nhỏ, tụi nó cứ đem cho bệnh nhân uống mà không cần coi lại, vì dạng thuốc đóng gói sẵn, nên chuyện sai sót thuốc dư thiếu thừa là chuyện bình thường, nhưng Y tá không hề kiểm tra lại. Thuốc huyết áp, mém chút nữa người thân của bạn tôi phải uống liều gấp đôi. Tôi khuyên ông khi uống thuốc phải coi chừng, nhưng vì quá đau nhức và không đủ sức khỏe nên ông cũng không buồn lên tiếng. Mình biết chắc ông bị cho uống thêm liều thuốc ngủ trong mục PRN mà không làm gì giúp được ông.

        Đỉnh điểm là khi cô nhân viên phụ việc cho Y tá (Nurse Aid) đưa cho ông ly nước để uống thuốc, tôi thấy không bình thường, khi ngửi có mùi rất khó chịu, mình vặn hỏi sao lại đưa nước lấy trong cầu tiêu (rest room) cho bệnh nhân uống, nàng một mực chối. Mình yêu cầu nàng viết giấy xác nhận cho mình lấy mẫu nước để gởi đi phòng lab thí nghiệm, nếu không mình dọa sẽ gọi cảnh sát (state police) và tố giác trung tâm về tội ngược đãi bệnh nhân (neglected patient), tới khi đó nàng mới xin lỗi rối rít và đổ thừa cho nhà bếp đưa, chớ nàng hoàn toàn không biết gì.

      Còn nữa, họ cho biết trung tâm có dịch vụ đưa đón chuyên nghiệp (professional transportation), hôm đó mình mới vỡ lẽ chứng kiến bà thư ký phục dịch tại quầy tiếp đón (front desk) lại kiêm luôn tài xế trong dịch vụ nầy. Bỡi khi chứng kiến cảnh bà nầy đưa người già đi khám bệnh về, khi đưa ra khỏi xe, chiếc xe lăn (wheel chair) của ông lão bị vướng vào vạt áo dài đầm xòe của bà tài xế làm cho ông lão bị lăn cù xuống đất không tài nào đứng lên được nữa, may mà ông lão không hề hấn gì. Vì không kinh nghiệm và không qua khóa huấn luyện chuyên môn nào về "transfer patient" nên bà ta mới mặc chiếc váy dài lê thê như đi dự dạ tiệc, tội nghiệp cho ông lão phải một phen lộn nhào bầm dập. Thấy tình cảnh nầy mình chạy vào gọi người ta ra giúp. Mình chắc chắn là gia đình họ sẽ không hề biết những chuyện thương tâm như thế này.

        Ngồi một chút, bỗng tiếng la hét của người già khóc lóc, trộn lẫn tiếng mấy cô nhân viên la hét, mùi hôi khai ở đâu xông lên nồng nặc không thể nào chịu nổi. Mình thừa biết, khi có nhân viên từ tiểu bang (state) xuống kiểm tra thì mọi thứ đều tốt lành, nhưng khi họ rời khỏi thì mọi thứ đâu cũng vào đó.

      May mắn thay cuối cùng mình cũng tìm ra được cho người thân của bạn mình một nhà dưỡng lão tương đối tốt hơn mà theo bản đánh giá của một viện đánh giá độc lập trên bản xếp hạng có điểm khá cao, ở đây có RN (Registered Nurse) và BSN (Bachelor of Science in Nursing) làm việc, chứ không phải chỉ có LPN (Licensed Practical Nurse) như tại trung tâm cũ. Phòng ốc sạch sẽ không hôi khai. Giường nằm tối tân có gắn máy báo động (sensor), cứ mỗi 2 giờ sẽ gọi báo vào beeper của Y tá trực, sẽ có người đến xem chừng bệnh nhân, trở bên thế nằm và chăm sóc vệ sinh cá nhân cho họ. Thực đơn nhà bếp thì tương đối phong phú hơn, nhiều món ăn chọn lựa, có đầu bếp chuyên nghiệp lo việc nấu nướng. Nói chung mọi thứ làm bạn yên tâm.

      Mình gọi cho bác sĩ phụ trách yêu cầu xin chuyển ông ta đi qua chỗ mới nầy ngay. Hai ngày sau mình ghé thăm ông ta tại nhà dưỡng lão mới nầy, không ngờ đi tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa, ông ta than với mình là ông bị co rút bắp chân (muscle spasm) liên tục nên rất đau nhức không chịu được. Nghe thế mình sinh nghi là có thể ông ta đã không được cho uống đúng thuốc hay bị thay thế (withdrawal), tôi hỏi ông có uống thuốc giảm đau không, ông nói có, mình chờ đúng giờ ông ta được cho uống thuốc, để coi có phải là loại thuốc giảm đau loại tốt Hydrocodone đúng hiệu không? y chang, nó đổi thuốc bằng hiệu Tylenol, mình lại thêm một lần cải vã với Y tá và dọa sẽ tố cáo gian lận, sau đó thì mọi việc yên ổn, ông không còn bị uống thuốc dzỏm nữa. (Tình trạng Y tá ăn cắp thuốc rất phổ biến ở viện dưỡng lão)

         Y tá ở đây làm việc rất máy móc, như câu chuyện về cái giường nằm thông minh được họ xử dụng ở đây, cứ hễ 2 tiếng, bất kể bệnh nhân ngủ hay không, nhân viên trợ y CNA (Certified Nurses Assistant) cứ đè bạn mình ra quay trái quay phải, khiến cho 2 đêm đầu làm cho ông mất ngủ. Bạn tôi kể, con nhỏ trợ y CNA mới đầu thấy anh ta là người Việt tưởng không biết được tiếng Anh, nên vừa ôm điện thoại nói chuyện với bồ vừa giúp ông ta, bạn tôi hỏi lại có phải mày đang nói chuyện với bồ mày không? nó xin lỗi cứ tưởng bạn mình không biết tiếng Anh, sau đó cô gái đổi qua ngôn ngữ khác để nói chuyện. Mình kêu ông bạn mình thu âm gửi cho mình, mình nhờ nhóm bạn đồng nghiệp của mình tại sở làm nghe là tiếng nước nào, sau khi biết là loại tiếng lóng hay tiếng bồi (Creole), mình nhờ nhóm bạn dịch cho mình, họ không dám dịch vì nó quá tục. Mình nói cứ dịch, hôm sau mình trở lại yêu cầu cho gặp Y tá trưởng (Nurse Manager) hay Social Worker, hoặc Administrator để trình bày câu chuyện. Họ tưởng mình là dân làm tiền chuyên nghiệp, kiểu như giả vờ bị ngược đãi (abuse neglected) rồi giả vờ đòi đi kiện, để được ăn ở miễn phí, hay hù dọa kiếm tiền. Bà quản lý ở đây hứa hẹn nhiều thứ cho mình, nghĩ thật buồn cười. Lúc đó mình mới nói thật là mình đã từng làm việc trong nghề nên biết, chỉ cần chăm sóc tốt cho bạn tôi là được.

       Thời gian 3 tuần cũng qua mau, bạn mình nói đâu ngờ viện dưỡng lão (Nursing Home) trên đất nước văn minh nầy sao mà nó kinh khủng như vậy. Mình cố giải thích cho bạn mình rất nhiều chuyện, không hẳn hễ cứ biết được tiếng Anh, biết luật là không ai ăn hiếp được mình. Ở viện dưỡng lão họ rất tinh vi, họ rành mọi kẽ hở, lơ mơ là mình không làm gì được họ đâu.

        Mình suy nghĩ rất nhiều trước khi viết bài này. Là một người từng làm việc ở viện dưỡng lão, Hospice (khu chờ chết), Bệnh viện, mình biết người nhà của bệnh nhân luôn phải biết ăn nói nhã nhặn, luôn biết tôn trọng, hòa nhã với các nhân viên làm việc ở đây. Những ai đã từng gặp mình ở ngoài thì biết mình hiền khô à  Nhưng đối với những vấn nạn như thế nầy thì mình nhất quyết không nhân nhượng.

         Sau cùng, dù biết mỗi gia đình, mỗi hoàn cảnh khác nhau. Nhưng nếu bạn thật lòng yêu thương cha mẹ, anh em và người thân của mình thì xin bạn đừng bao giờ có ý định đưa họ vào nhà dưỡng lão - Vô số nỗi buồn ở Nursing Home!"

(Hết trích)

Một lời khuyên của người trong nghề nghe sao não lòng!

Hay đó cũng là con đường mà mình sẽ chuẩn bị cho đời mình...

"NGÀY SAU SỎI ĐÁ CŨNG CẦN CÓ NHAU" (tcs)

Anre Huynh

……………………………………………………………………………………….

Chia sẻ từ nguyên tác :

Tuổi Già Và Nỗi Buồn Trong Viện Dưỡng Lão Trên Đất Mỹ

Để có được một mái ấm 

an dưỡng tuổi già trên xứ Mỹ,

 nhất là trong thời kỳ đại dịch

 coronavirus,...................


31 thg 3, 2022

CẨM NANG LẤY VỢ

            Một người bạn định cư ở Mỹ tâm sự với tôi rằng mình có đứa con trai duy nhất qua tuổi  "tam thập nhi lập" rồi mà chưa có vợ .Hỏi cơ sự làm sao mới hay là vì vợ chồng anh chỉ muốn nó mang về nhà một đứa con dâu có nhiều phẩm chất truyền thống của người phụ nữ Việt Nam mà tìm ở Mỹ thì không thể .Người bạn nhờ tôi mai mối và hướng dẫn anh đưa con về Việt Nam lấy vợ. Bài viết này sưu tầm ,tổng hợp trên mạng bàn về con gái 3 miền Bắc ,Trung ,Nam và ghép cái tựa "Cẩm nang lấy vợ"để hỗ trợ bạn mình trong việc lấy vợ cho con, người post chân thành cẩn báo,mong tác giả Ngọc Linh thứ lỗi.

***
CON GÁI BẮC
Con gái người Bắc (mà điển hình là con gái Hà Nội), là những cô gái khôn ngoan và tinh tế. Họ làm ra vẻ như rất giữ khuôn nếp nhưng thực ra họ đong đếm bạn kỹ lưỡng trước khi bật đèn xanh cho bạn tiến đến.
Họ nghĩ nhiều đến vấn đề gia đình đôi bên môn đăng hộ đối, do đó khi đã thành đôi rồi, dù bên ngoài có nhìn vào như thế nào đi nữa họ cũng vẫn thấy vừa lòng với nhau và cuộc sống hôn nhân ít xao động.
Nếu mà như thế được cả thì đâu có gì mà nói nhỉ?
Sau khi về nhà chồng thì những cái mà các cô dâu Bắc hay có là :
- Khắc kỵ với mẹ chồng.
- Kiểm soát chồng chặt chẽ và tranh giành tài sản cũng như quyền lực trong nhà chồng.
Còn trong gia đình thì khỏi nói : con gái Bắc coi chồng như một anh lao công và khi nắm quyền lực trong gia đình rồi thì bắt đầu nhiều lời.
Những câu nói đay nghiến dấm dẳng không biết có phải từ trong tiềm thức tổ tiên để lại bắt đầu tuôn ra một cách rất tự nhiên. Khi những điều đó bành trướng lên quá đáng thì anh chồng bắt đầu ngao ngán gia đình.
- Chuyện ngoại tình là sẽ đến và nếu có điều kiện là "chuồn" luôn cái bà vợ chán chường đó mà đi lấy một người vợ khác.
Con gái Bắc còn có tật thiên vị tình cảm nội ngoại, và không ít những chuyện không hay thường bắt nguồn từ nàng dâu.
Thêm một tính nữa là hơi một tí là bỏ về nhà cha mẹ, và gia đình ngoại hay có chuyện can thiệp vào gia đình chồng.
Nói đến các cô gái Bắc còn phải nói đến cái tính điêu ngoa và đanh đá.
Và từ đó dẫn đến hỗn láo xấc xược là rất gần. Những cuộc cãi nhau, chửi nhau của các bà vợ Bắc cứ như những bản nhạc được học thuộc lòng trước khi lên xe hoa.
Tránh được mấy điều này thì các cô gái Bắc trở thành số một vì họ là những người tiếp tay cho chồng rất đắc lực trong công việc làm ăn, cai quản tài sản, chăm sóc con cái. Sẵn sàng hy sinh vì chồng. Ở tù, ăn đạn cho chồng cũng OK luôn.
***
CON GÁI TRUNG
Miền Trung được tính từ Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh vào đến Phú Yên, Ninh Hòa. Có thể nói đây là một khu vực nhân văn đa dạng.
Phía Bắc thiên về văn hóa Hà thành còn phía Nam thiên về Sài thành. Họ đều có những đức tính chung của những người con của biển.
Con gái miền Trung cần cù, nhẫn nhục. Những bông hoa xương rồng lộng lẫy. Tình yêu của họ không rộ nở tưng bừng nhưng lại sâu lắng. Họ ít đòi hỏi nơi người chồng nhưng lại hy vọng rất nhiều vào người chồng. Nếu ai cần một người vợ để dựng nghiệp thì nên chọn con gái miền Trung. Bạn sẽ luôn được sự yên tâm về lòng chung thủy của họ. Họ cần cù nhẫn nhục chịu đựng gian khổ với bạn.
Nhưng nếu mà bạn đổ đốn ra, phụ bạc chân tình của họ thì cũng hãy coi chừng đấy. Đã nghe câu "con gái Bình Định múa roi dạy chồng" chưa?
Điểm yếu của những cô gái miền Trung là hơi quê mùa, dù rất nhiều cô tỏ ra mình bảnh như ca sĩ Mỹ Tâm chẳng hạn... bạn vẫn nhìn được cái nét quê mùa của họ. Miền Trung nói chung và nên có nói riêng về Huế. Đó là một vùng đất dường như là rất riêng biệt của Việt Nam .
Huế có văn hóa của cố đô nên Huế trầm lặng, lắng đọng và lãng mạn như những vần thơ.
Những cô gái Huế có những nét rất riêng biệt đối với miền Trung và các vùng khác trên lãnh thổ cuả Việt Nam do cái truyền thống cố đô để lại.
Nhưng nếu bạn cưới được một cô vợ người Đà Lạt thuần gốc...
Đó là những tiểu thư gốc người Huế vào Đà Lạt dựng nghiệp từ thời Pháp thuộc.
Những tiểu thơ da trắng môi hồng với văn hoá Anh, Pháp, Việt. Bạn khó kiếm ở đâu trên thế giới một người vợ lý tưởng hơn ở đây.
Cao nguyên Lâm Viên với rất nhiều thú vị cho những chàng trai đi tìm vợ. Có những cô gái làm bạn ngỡ ngàng về nhan sắc cũng như về phong cách.
Bạn ngơ ngẩn bám theo và rồi hiểu ra đó là một cô gái Jarai lai Pháp từ cái thời ông cố nội nào đó. Bạn cũng có thể gặp những cô gái da trắng tóc vàng, mắt xanh và mũi cao như Tây.
Nhưng kìa, cô ấy nhu mì và có vẻ như không văn minh hơn những người Kinh.
Họ là những người dân tộc Thái gốc Indian. Tôi khuyên bạn là nếu quen những cô gái ấy, đã yêu thương thì phải cưới, nếu không thì rất là phiền phức đấy! Làm quen với họ không khó nếu biết cách (vì họ có vẻ hơi cô lập).
Mách bạn nhé :
Bạn để ý con đường đi làm của nàng... có thể là ở đâu đó hay ở nương rẫy.... và chờ ở đoạn suối trên đường đi...
Các nàng này rất thích tắm suối và khoe thân thể kiều diễm của mình...
Bạn cứ việc ngắm và thích ai thì cứ để bụng, thò đầu ra lúc này mất mạng không ai thương đâu...
Sau đó thì tìm cách gặp nàng và nói là đang tương tư nàng từ cái hôm ấy...Thành công hay không còn tùy cái bản mặt của bạn!
***
CON GÁI NAM
Những cô gái miền Nam thực sự tôi luôn thấy rất nhẹ nhàng mỗi khi tiếp xúc với họ...Cái chất đơn giản mộc mạc của họ là cái nét làm cho mọi người dễ gần. Giọng nói của người miền Nam trong sáng như tâm hồn họ vậy. Nếu nói là những cô gái miền Nam không có chiều sâu tâm hồn cũng có phần nào đúng, bởi nếu họ cũng sâu lắng thì lấy đâu cái nét hồn nhiên trong sáng kia chứ.
Đó là cái đặc tính được thiên nhiên ưu đãi cho những con người sống trên vùng đất phù sa màu mỡ. Chinh phục một cô gái miền Nam không khó. Họ dễ tin, không tính toán quá xa xôi...Cũng vì thế giữ được một cô gái miền Nam trong vòng tay của mình lại đâm ra khó... vì ai họ cũng tin cả...
Ta có thể thấy số phụ nữ miền Nam thôi chồng, tái hôn rất nhiều là vì các ông chồng không có đủ bản lĩnh để giữ họ.
Tâm hồn của họ gần như là người phương Tây. Khi mà bạn không còn là niềm tin của họ nữa thì họ cũng chẳng lưu luyến bạn làm gì cho mệt xác.
Nói như thế không có nghĩa là nói họ không chung thủy hay hời hợt trong tình cảm. Do sự ưu đãi về phong thổ và tập tục, họ là những người thực dụng.
Tình yêu của họ luôn có giá trị của bạn kèm theo. Họ là những bông hoa giữa trời, giữa đời... Nở rộ một thời xuân sắc và rất nhiều nỗi buồn khi đã tàn hương...Không nhiều người biết lo cho cái tuổi về chiều của mình...
Họ sống tưng bừng một thời và chấp nhận những hẩm hiu trong buổi chiều cuộc đời. Đó là tình trạng đang có nhiều ở các bậc tiền bối của các cô gái miền Nam. Họ là những người rất đáng thương.
Lấy một cô gái miền Nam? Bạn có thể mà. Đó là một bông hoa, một con bướm tung tăng bên bạn. Sống rất nhiệt tình với bạn. Sự đòi hỏi của họ cũng không cao. Vấn đề là bạn cũng đừng quá tệ.
Về phong tục tất nhiên là dễ dàng hơn mọi vùng miền: thương nhau một bữa cơm đơn giản cũng thành vợ thành chồng. Lấy một cô gái miền Nam làm vợ? Bạn hãy nên nếu bạn có một mức sống tương đối.
Bạn ít khi phải đau đầu về họ và đó là một trong những bí quyết sống thọ.
Nhưng đừng nghĩ tất cả họ là như thế nhé. Guốc dép sẽ bay vèo vèo khi mà bạn nhìn không kỹ và nghĩ ai cũng thế. Ở miền Nam con gái Sài Gòn là một đặc trưng. Họ không khác nhiều với những vùng phụ cận, có chăng là lịch lãm hơn và đương nhiên cái nhìn cũng cao hơn.
Ngày nay sự pha trộn của nông thôn vào Sài Gòn cũng làm bão hòa cái đặc tính của con gái Sài Gòn. Đó là dưới cái nhìn tổng quát về con gái Sài Gòn.
Nhưng tinh ý một chút bạn vẫn có thể nhìn ra, phân biệt được con gái Sài Gòn và những cô gái nhập cư. Có ba dạng nhập cư:
1- Những cô gái từ các tỉnh thành tới Sài Gòn để làm ăn sinh sống.
2- Những cô gái theo gia đình nhập cư và định cư tại Sài Gòn.
3- Những cô gái mà cha mẹ nhập cư vào Sài Gòn và được sinh ra ở Sài Gòn.
Trong thành phần thứ 3 này có cô thì đúng là sinh trưởng theo môi trường và thành dân đích thị chính hiệu. Có cô thì vẫn giữ nề nếp của gia đình như ngày ở tỉnh thành.
Tôi gặp nhiều bạn người Bắc vẫn còn giữ nguyên nể nếp từ lời ăn tiếng nói, cách sống y như những người ở quê nhà dù ông nội là người di cư vào Nam từ năm 1954.
Sài Gòn với tất cả những cái phức tạp của một thành phố lớn nhất Việt Nam cho một cái nhìn đa dạng về con người. Có thể nói ở đây có tất cả mọi đẳng cấp - bạn thích đẳng cấp nào cũng có...
Không ở đâu kiếm vợ dễ hơn ở Sài Gòn. Và cũng không ở đâu nuôi vợ khó như ở Sài Gòn. Vì mảnh đất này cái gì cũng phải trả tiền.
Bạn phải có công ăn việc làm, thu nhập ổn định thì mới nên nghĩ tới việc lấy một cô vợ ở đây.
Không thể không nói đến những người đẹp Bình Dương và Tây Đô (Cần Thơ) - hai vùng đất sản sinh ra những người đẹp nổi tiếng của miền Nam . Họ là những bông hoa đáng yêu và bạn dễ dàng chết ngất khi gần họ. Và muốn gần họ, thân cận với họ? Nói nhỏ cho bạn biết nhé:
Bạn phải biết nghe cải lương!
Ngọc Linh ( Tác giả )

HOA HỌC TRÒ-Trời đất dành riêng tuổi học trò.Một loài hoa đỏ rất nên thơ...

HOA HỌC TRÒ-Trời đất dành riêng tuổi học trò.Một loài hoa đỏ rất nên thơ...
Mỗi năm hoa nở mùa thi đến.Chạnh nhớ trường xưa nhớ bạn bè .Nguyenuthang ..