26 thg 2, 2021

ĐẦU XUÂN ĐỌC LẠI MỘT BÀI CA DAO CỔ - " ĐI CHỢ TÍNH TIỀN "

.


Một quan là sáu trăm đồng
Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi
Chồng tôi cỡi ngựa vinh quy
Hai bên có lính hầu đi dẹp đường
                     

      Mấy câu thơ trên trích trong bài "Trăng sáng vườn chè" ,thơ Nguyễn Bính (sau được Văn Phụng phổ nhạc) lấy ý từ bài ca dao cổ “ Đi chợ tính tiền ".Bài ca dao này đã được in làm Bài HọcThuộc Lòng cho học sinh lớp 3 trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư ngày xưa (năm 1948). Bài ca dao kể chuyện một người phụ nữ đi chợ về,phải trình bày minh bạch ,rõ ràng việc chi tiêu với chồng.



        Từ 2 năm trước, tôi được người bạn cũ fw bài viết liên quan đến bài ca dao này . Đọc rồi thấy rất hay và thú vị ,qua đó mình có thêm sự hiểu biết về hệ thống và giá trị những đồng tiền cổ ngày xưa.Hôm nay, trong những ngày đầu xuân Tân Sửu, tôi mạn phép tác giả chia sẻ lên Blog để nhiều người cùng đọc.

         Theo nhà báo Nguyễn Hữu Mão đăng trên Tài Chính Thời báo năm 2016 thì : “ Bài ca dao như một lời khen sự đảm đang của người vợ giữ “tay hòm chìa khóa” trong gia đình biết cách tiêu tiền hợp lý, chính xác đến mức nghệ thuật khi đi chợ mua sắm. Chắc chắn đây là một buổi người vợ đi chợ mua đồ về làm cúng giỗ, với đủ các thứ dùng cho việc cúng lễ như: rượu, trầu cau, vàng mã, chuối, gà, thịt lợn, gạo nếp, gạo tẻ, bột, mật, rau giá, nước mắm, chè tươi…

      


       Bài ca dao phản ánh một thực tế là ngày xưa, nhiều chị em không được đi học, không biết làm các phép tính trên giấy nhưng lại tính nhẩm rất tài; đem một quan tiền đi chợ mua đồ về cúng, tính toán đâu ra đó, mua đủ đồ về nhà mà không thiếu thứ hàng gì và cũng không “lạm chi” hay thừa ra một đồng nào.

         Có người còn ví bài ca dao này như một kịch bản văn học sinh động phục hiện hoạt cảnh giữa một đôi vợ chồng trẻ ngày xưa. Anh chồng chắc hẳn là một người có tính đa nghi và tật bủn xỉn “đo lọ nước mắm, đếm củ dưa hành” nên khi vợ vừa đi chợ về là anh ta đã xăm soi kiểm kê và bắt phải “báo cáo tài chính” ngay tại chỗ. Chẳng phải tay vừa, nàng giải thích đâu ra đó với sự chính xác và tự tin “có gì mà tính chẳng thông”? Thỉnh thoảng nàng lại đệm vào những từ ngữ mỉa mai, diễu cợt ông chồng như: “Ba mươi đồng rượu, chàng ơi (Ý nói rượu này là mua cho chàng đó thôi!) ; hoặc “Hai chén nước mắm rõ ràng…” chàng thấy rồi đấy, đừng có hồ nghi em bớt tiền chợ để ăn quà vặt đâu nhé!

        Thế nhưng, ngày nay để hiểu bài ca dao này cho tường tận thì trước hết ta cần phải biết về tỷ giá quy đổi chính xác giữa 3 đơn vị tiền tệ nêu trong bài ca dao đó là: “quan”, “tiền” và “đồng”.

     Theo các tư liệu nghiên cứu về tiền tệ của Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, 1 quan có giá trị là 10 tiền, còn 1 tiền bằng bao nhiêu đồng lại tùy theo quy định của mỗi triều đại. Từ thời nhà Lê thì 1 quan bằng 10 tiền, 1 tiền bằng 60 đồng nên 1 quan bằng  600 đồng. Kể từ đó hệ thống đơn vị tiền tệ này được dùng ổn định trong hơn 500 năm qua các đời vua Lê, sang nhà Mạc, đến thời Lê trung hưng cho tới nhà Nguyễn và chỉ chấm dứt, khi chế độ phong kiến Việt Nam kết thúc năm 1945.

       Nếu ai yêu thơ Nguyễn Bính có lẽ vẫn nhớ  bài thơ “Thời trước” được ông sáng tác năm 1936, trong đó có hai câu:

                   “Một quan là sáu trăm đồng

                  Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi”…

       Dựa trên từng câu ca dao, tôi xin ghi ra đây bản “báo cáo tài chính” của nàng với mỗi món đều tính ra đồng như sau: gà 180 đồng; gạo nếp 90 đồng; trầu 3 đồng; cau 6 đồng; thịt lợn 90 đồng; rau giá 10 đồng; gạo tẻ 90 đồng; chè tươi 6 đồng; rượu 30 đồng; mật đường 30 đồng; vàng mã 20 đồng; nước mắm 14 đồng; bột nấu chè 21đồng; nải chuối 10 đồng.

Cộng tất cả 14 khoản mua sắm trên đây vừa vặn đúng 600 đồng, tức 1 quan tiền. Không thừa, không thiếu đồng nào!

      Nhân những ngày nghỉ Tết , xin mời các “nhà tài chính” và bạn đọc thử lấy máy tính ra để cộng xem có đúng 600 đồng không? “.

         Song từ xuân Bính Thân 2016 đến nay ,chưa thấy ai trong nước lên tiếng trả lời nhà báo Hữu Mão .Nhưng ở nước ngoài ,trên văn đàn nào và thời gian không rõ trong bài viết mà người bạn sưu tầm gửi cho , thì vấn đề khá rõ ràng vì vấn đề đã được giải quyết đâu ra đó .

         “ Ngày xưa khi học bài này thầy giáo chỉ nêu đại ý như rứa,đồng thời nêu bật tính đảm đang,khéo vén của người phụ nữ xưa....sau đó yêu cầu học sinh học thuộc.Thầy không giảng về bài toán ẩn trong bài thơ,có lẽ vì thời thế đã khác đồng tiền cũng đã đổi thay, hoặc giải bài toán chắc chi những học trò nhỏ hiểu được.(Khoảng năm 1958,chưa được vào trường công lập,người viết học với ông giáo...  ở khoảng giữa cầu An Cựu và lăng Vạn Vạn, (không biết có phải là thân sinh của nhà văn Hải Triều không?) Đã hơn năm mươi năm, bây giờ người học trò xưa đang ngồi ôm tóc trắng... một ngày mưa ngồi buồn chợt nhớ thầy đồ nơi xóm cũ ngày xưa chừ không còn, nhưng bài thơ vẫn còn đọng mãi trong đầu của bài Học thuộc lòng thửa ấy.Bèn tìm giấy giải thử.

          Ngay câu thơ đầu tiên đã gặp ngay vấn nạn."Một quan tiền tốt mang đi".Một quan là bao nhiêu? Quan là đồng tiền cổ,những người muôn năm cũ  giờ không còn,biết hỏi ai đây? Chợt nghe vang vang trong đầu một bài nhạc của nhạc sĩ Văn Phụng:

       “ Một quan là sáu trăm đồng.

        Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi.”

                                      (Thơ của Nguyễn Bính).

         Vận dụng cả 4 phép tính cộng trừ nhân chia,đảo xuôi ngược,lên xuống...mãi vẫn không đủ 600 đồng cho một quan tiền! 

          Lại phải đi tìm  trong lịch sử.Trong một ngàn năm Bắc thuộc,dân Việt không có đồng tiền riêng . Mãi đến sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán ,dân Việt vẫn còn dùng đến đồng tiền của phương Bắc. Đến năm 968,Đinh Bộ Lĩnh sau khi dẹp loạn 12 sứ quân ,lên ngôi hoàng đế với đế hiệu Đinh Tiên Hoàng,niên hiệu Thái Bình. Năm 970 nhà vua đã cho đúc những đồng tiền Thái Bình Hưng Bảo.Đây chính là những đồng tiền đầu tiên của người Việt.Từ đó tiếp đến những triều đại sau đều theo .

          Đơn vị để tính tiền xưa gồm có :quan,tiền ,đồng.Mỗi quan có giá trị là 10 tiền,mỗi tiền bằng bao nhiêu đồng tùy theo quy định của mỗi thời đại.Theo sử sách giá trị đồng tiền các thời đại như sau:

          1/ Năm 1225,vua Trần Thái Tông định phép dùng tiền.1 quan bằng 10 tiền.1 tiền bằng 70 đồng.

          2/ Năm 1428 vua Lê Thái Tổ cho đúc tiền Thuận Thiên.1 quan bằng 10 tiền.1 tiền bằng 50 đồng.

          3/ Năm 1439,vua Lê Thái Tông quy định 1 quan bằng 10 tiền ,1 tiền bằng 60 đồng.

          Như vậy 1 quan=10 tiền=600 đồng.

             Từ đó các triều đại về sau,mỗi khi đúc một loại tiền mới đều theo tỷ lệ này,cho đến cuối triều Nguyễn năm 1945. Chỉ có tên đồng tiền là thay đổi theo tên hiệu.

             Năm 1905, chính quyền bảo hộ Bắc kỳ  cho phát hành loại tiền đúc bằng hợp kim kẽm. Loại tiền này mặt trước in chữ Pháp, mặt sau ghi chữ Hán, có giá trị tương đương các loại tiền đồng như Gia Long Thông Bảo, Minh Mệnh Thông Bảo, Thiệu Trị Thông Bảo và Tự Đức Thông Bảo.

            Trong những đời vua sau của nhà Nguyễn còn có thêm hai đồng tiền khác là Khải Định Thông Bảo và Bảo Đại Thông Bảo, hai loại tiền này không đúc như những đồng tiền xưa mà được dập bằng máy dập nhập từ nước Pháp.

            Đến đây chắc chắn là bài toán ẩn bên trong bài ca dao đã giải được. Ghi lại như sau, bên phải là các phép tính đã giải.

    ĐI CHỢ TÍNH TIỀN

 Một quan tiền tốt mang đi,                                                                  600   

Nàng mua những gì chàng tính chẳng ra.

Thoạt tiên mua ba tiền gà,                                         3x60    =           180

Tiền rưỡi gạo nếp với ba đồng trầu.                   60+30+3    =            93

Trở lại mua sáu đồng cau,                                                    =              6

Tiền rưỡi miếng thịt, giá rau mười đồng.     (1,5x60)+10   =           100

Có gì mà tính chẳng thông?

Tiền rưỡi gạo tẻ,sáu đồng chè tươi.                  60+30+6     =            96

Ba mươi đồng rượu chàng ơi,                                              =            30

Ba mươi đồng mật, hai mươi đồng vàng.               30+20   =            50 

Hai chén nước mắm rõ ràng,

Hai bảy mười bốn,kẻo chàng hồ nghi.                     2x7     =             14

Hăm mốt (21) đồng bột nấu chè,                                         =             21

Mười đồng nải chuối, chẵn thì một quan.                           =             10

                                                                                 CỘNG   =          600

 Trong sách QVGKT, bên dưới bài học thuộc lòng này có 3 từ giải nghĩa, ghi nguyên văn như sau:

"GIẢI NGHĨA: Tiền tốt            =     tiền tiêu được.

                          Vàng             =     đồ làm bằng giấy cúng rồi đốt đi.

                          Hồ nghi         =       ngờ vực,không biết rõ".

        Những giải nghĩa này chỉ để giải thích cho lớp học trò tóc còn để chỏm, dễ hiểu,dễ nhớ. Đi chợ tất phải đem theo tiền, tiền phải có giá trị trong mua bán... là chuyện đương nhiên. Nhưng sao gọi làtiền tốt? Một bài cao dao được lưu truyền, được in trong sách giáo khoa từ lúc ra đời (Bản in đầu tiên năm 1927) đến lúc cải tiến thay đổi, không lẽ vì bí vần mà viết vụng thế sao! Thế là người viết phải đi tìm tiếp.

        Có một giai thoại trong văn học về Bà Chúa thơ Nôm.Chuyện kể rằng Hồ Xuân Hương thiếu tiền bèn hỏi mượn của Chiêu Hổ 5 quan để tiêu tạm. Chiêu Hổ gởi tiền đến, đếm hoài vẫn chỉ thấy có  3 quan. Nữ sĩ bèn làm bài thơ trách người cho mượn tiền:

                 Sao nói rằng năm chỉ có ba.

                 Trách người quân tử hẹn sai ra.

                 Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt.

                 Nhớ hái cho xin nắm lá đa.

        Chiêu Hổ họa lại:

                       Rằng gián thì năm,quý có ba.

                       Bởi người thục nữ tính không ra.

                       Ừ rồi thong thả lên chơi nguyệt.

                       Cho cả cành đa lẫn củ đa.

     Trong bài họa của Chiêu Hổ có chữ gián và quý.Đây là cơ sở dẫn người viết đi tìm tiếp. Đã "có công tất ...chồng không phụ", kết quả đã tìm được:        

          Khoảng thế kỷ 18, dưới triều vua Minh Mạng có hai loại tiền lưu hành. Đó là tiền quý và tiền gián, tỷ lệ như sau: 1quan quý = 600đồng.   1 quan gián chỉ bằng 360 đồng.

Khi hỏi mượn tiền, Hồ Xuân Hương chỉ nói mượn 5 quan, không nói là quan gì. Gặp lúc Chiêu Hổ chắc cũng đang thiếu nên chỉ cho mượn số tiền thấp xuống, nhưng vẫn đủ 5 quan:

                      Quan quý :      3x600  =1800 đồng

                               1800:360 =   5 quan gián

   Giá trị của các loại tiền xưa như thế nào? Đây là những số liệu về lương tiền dưới triều vua Minh Mạng.

    -Quan Nhất Phẩm lãnh mỗi năm 400 quan, 300 phương gạo, 70 quan tiền Xuân Phục, tức tiền áo quần.

   -Quan Chánh ngũ phẩm, hàng tri phủ mỗi năm lương 40 quan, 43 phương gạo, 9 quan tiền Xuân Phục.

   -Lính, thơ lại, phục dịch  ...lương mỗi tháng 1quan tiền, 1 phương gạo. 

Đồng quan ngày xưa nó to thế. Chẳng trách người ta bỏ ...quan ra để mua phẩm hàm ,chức tước...để được làm quan!  Chẳng trách người phụ nữ " thời xưa"(tên khác của bài thơ Trăng sáng vườn chè) quên cả thanh xuân, gác tạm những ẩn ức, dồn nén để một ngày chồng vinh qui về làng... cùng nhau trãi trọn trong một đêm trăng!

         Qua những số liệu vừa tìm được, ta có thể thấy rõ bài ca dao "Đi chợ tính tiền" xuất hiện sớm nhất phải từ thời Minh Mạng. Bởi từ lúc này mới có "Một quan tiền  TỐT"mang đi. Tiền tốt chính là tiền quý, phân biệt với tiền gián có giá trị thấp hơn. Cũng thấy được,người phụ nữ trong một buổi chợ quê đã tiêu số tiền bằng lương tháng một người lính. Nhà nàng chắc phải có chuyện quan hôn, kỵ giỗ chi đây 

        Thật thú vị, để giải bài toán ẩn bên trong bài ca dao, đã phải đi loanh quanh, lòng vòng. Gặp những bài thơ hay, giai thoại đẹp, biết thêm vài điều về lịch sử... Nếu không có Internet chắc gì người viết đã giải được bài toán ẩn bên trong bài ca dao cổ? Chỉ nghĩ đến kho sách phải lục tìm, những thư viện phải đi đến... đã thấy chồn chân chẳng muốn trèo ! “

 ……………………………………………………………………………….

Bài hát liên quan

Trăng sáng vườn chè (nhạc Văn Phụng – Thơ Nguyễn Bính)

Mru mời bạn Click nghe dạng mp3            https://mp3.zing.vn/bai-hat/Trang-Sang-Vuon-Che-Ai-Van/ZWZBW8EC.html?fbclid=IwAR0h5BOGZLKHevQ4WC6b0VvtBVcirdPAyGQSObeob_7-PcL6mPeOAsS59OI


25 thg 2, 2021

BÀI THƠ "MẤT EM RỒI " VÀ "CHUYỆN MỘT CHIẾC CẦU ĐÃ GÃY"

Lời Phi lộ

           Bài viết này của cô Ngọc,bạn đồng nghiệp quê ở Cù lao Phố Biên Hòa đang định cư ở Mỹ.Cách đây 2 năm ,vào dịp Tết Kỷ Hợi 2019, tôi đã có dịp giới thiệu với bạn bè lên Facebook của mình  một status có tựa là “Nhớ về thời thơ bé” ,bài đã được nhiều bạn đọc ưa thích, khen ngợi, nhất là các bạn đồng nghiệp dạy chung dưới mái trường Trần Bội Cơ Q5 Thành phố Hồ Chí Minh .Bài viết hôm nay giới thiệu một sáng tác khác của cô Ngọc ,"Mất em rồi ", bài thơ đoạt giải thưởng tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington nước Mỹ 7 năm trước đây .
                                                                                                                 Mru Thang 
*** 

        Vào một ngày của năm 2014, thành phố Seattle, tiểu bang Washington có một cuộc thi thơ đuợc tổ chức với chủ đề viết về quê hương, giới hạn bài dự thi không quá 60 từ.Cô Ngọc Nguyễn đã chọn thể thơ thất ngôn bát cú để gởi vào đó một chút hồn, một chút tình của người Biên Hòa trong sáng tác của mình :” Mất em rồi “. Bài thơ ngắn chỉ tám câu thất ngôn thôi nhưng đậm tình yêu quê hương xóm làng,có mùi hương bưởi Biên Hòa, có chiếc Cầu Gành mấy nhịp bắt qua Cù Lao Phố, có dòng sông Đồng Nai lung linh, mờ ảo trong những đêm trăng và có cả mái Trường Ngô Quyền với tà áo trắng thướt tha những chiều tan học. Nhưng khi định cư tại Mỹ cô đã hết, mất Biên Hòa,mất cây cầu quê hương , mất ngôi trường thân yêu có những chiều áo trắng quấn quít bên nhau cùng mở khép nỗi niềm tâm sự.

Bài thơ ” Mất em rồi “đoạt được giải thưởng.Thế là Biên Hoà ,cầu Gành mấy nhịp, Trường Ngô Quyền chiều tan học... được đi vào sinh hoạt thường ngày của người dân Mỹ. Bài thơ ” Mất em rồi “ được dịch ra Anh ngữ, được thu âm cả Tiếng Việt và Tiếng Anh cho lên webside " Poetry on the bus " .Người ta còn viết bài thơ bên trong thành xe buýt, chỗ trạm chờ xe buýt, những người đi xe buýt đủ mọi sắc dân có dịp đọc thơ để hiểu biết thêm về con người ,đất nước Việt Nam.






             Dù chỉ bằng một việc làm rất nhỏ ,cô Ngọc cũng thấy vui vui,tự hào vì đã đưa được hình ảnh thành phố Biên Hoà, Cầu Gành mấy nhịp, Cù Lao Phố quê hương ,ngôi Trường Ngô Quyền dấu yêu của mình đi vào cuộc sống người dân Mỹ .Nguyên tác bài thơ như sau :


MẤT EM RỒI!


Tôi nhớ mùi hương bưởi Biên Hòa
Cầu Gành mấy nhịp Phố bắc qua
Dòng nước Đồng Nai sâu trong vắt
Êm soi dáng núi bóng trăng ngà
Ngô Quyền tan học tà áo trắng
Quấn quít theo chân bước thướt tha
Từ dạo em đi xa biền biệt
Núi tối tăm, sông nước nhạt nhoà !
Ngọc Nguyễn
Bản dịch Anh ngữ :


I LOST YOU


I remember the aroma of Bien Hoa grapefruit
Bowstring of Gành bridge across to Phố isle
Crystal clear and deep , flows Đồng Nai river
With gentle reflection of mountains and ivory moon
Ngô Quyền school belled , hem of white Áo dài dresses
Intervene with graceful steps
Ever since you departed far so far away
The mountain grew bleak and and the river lost its luster .
Ngọc Nguyễn


NỖI NIỀM TÁC GIẢ TRONG NGÀY VỀ THĂM QUÊ
***
Từ Saigon về đến Cầu Gành biết là ta đã về tới Biên Hoà. Qua bốn nhịp Cầu Gành thì vào Cù Lao Phố. Cầu Gành, Cù Lao Phố là trái tim, là nhịp đập, là tình yêu thăm thẳm của người Biên Hoà, ai cũng có những kỷ niệm gắn bó với chiếc cầu sắt gập ghềnh này.
Nhà tôi ở đường Quốc Lộ 1, cách Cầu Gành không xa. Một biến cố xảy đến với tôi trong ngày về thăm quê. Đó là ngày 20/3 đang buổi ăn trưa, nghe tin Cầu Gành sập, tôi và cô em gái bỏ đũa, xách xe gắn máy chạy nhanh về hướng Cầu Gành. Đã có rất nhiều ngườidân Biên Hòa, giữa cái nắng trưa gay gắt của tháng ba, đổ xô ra bốn phía đứng nhìn chiếc cầu lịch sử , chiếc cầu nhỏ xinh là biểu tượng của miền đất Trấn Biên,là tình yêu của người xứ bưởi. Cầu Gành đã gãy sập, hai nhịp cầu đâm thằng xuống lòng sông. Mỗi người một tâm trạng, một nỗi lòng .. .




Tôi lặng nhìn chiếc cầu gãy… muốn khóc. Thưở nhỏ, Má tôi, Cô tôi, Dì tôi từng đặt tôi lên một bên gánh, gánh bên kia là lá chuối, chuối, bưởi hoặc cốm trộn nước đường thắng với gừng, bánh tét chuối... đi bán ở Chợ Đồn. Tôi đã lớn lên bên mấy nhịp cầu giữa cảnh sông nước êm đềm cây xanh trái ngọt Cho đến khi tôi, cô gái tóc dài tha thướt, chân bước qua cầu guốc cao gót vướng kẹt giữa các khe hở, bối rố , điệu đàng, đã có người âm thầm lẽo đẽo theo sau xe đạp qua cầu về Cù Lao Phố . Rồi lũ con gái nghịch ngợm chúng tôi kết bạn Thi nhóm, Thi văn đoàn với người Saigon. Lại có kẻ mơ đến chuyện Qua cầu gió bay, nhưng lũ chúng tôi hãy còn thích ruỗi rong cả bọn trèo cây hái trái hoặc vào vưởn trộm mía. Biết bao kỷ niệm tuổi thơ gắn bó với chiếc cầu mấy nhịp.




            Năm 1996 cầu 100 tuổi, nhịp cầu rung chuyển mỗi chuyến xe qua, có ai thương cho một chiếc cầu đã trăm năm gồng gánh.Bạn đồng nghiệp tôi, Như Phan, năm 2013, một lần về thăm Biên Hòa ghé chơi đã viết bài thơ :

 CÙ LAO VÀ NỖI NHỚ 

 Xe chạy qua cầu 
 Nghe rầm rì sóng vỗ
 Xanh trời Cù Lao Phố 
 Thấp thoáng rặng cây xanh 
 Mây chẳng muốn trôi nhanh 
 Ghé đầu qua khung cửa 
 
 Chiếc cầu sắt uốn mình…nức nở 
 Tiếng cốt xương lách cách trở mình 
 Cầu rung rinh 
 Chiếc xe lửa như con rắn lượn mình trên sắt thép 
 Cây cầu đẹp 
 đã già nua 
 
 Xe chạy qua
 những con đường nửa làng nửa phố 
 những ngôi nhà nửa tân nửa cổ
 tròn xoe mắt nhìn 
 
 Mặt trời lên cao thắp sáng bình minh 
 Cù lao Phố đắm mình trong hương bưởi 
 Thoang thoảng mùi…hương khói 
 miếu mạo đền chùa 
 tan vào hư vô
 ướp vào bầu trời xanh lộng gió 
 
 Con đường đất nhỏ 
 Thấp thoáng những gốc dừa 
Có tiếng dế ban trưa
 hòa thanh âm rả rích
 
 Có tiếng chim lích chích 
 đậu ở tận trời cao  
 có xa xa hàng rào 
 bụi trang hồng cam nép mình trong góc tối 
 
 Bối rối
 Bạn trở lại quê nhà 
                                
                Phan Như


 Cầu Gành ơi, 
      Biên Hoà ơi ! 
       Bối rối…
                                              khi tôi về thăm lại quê nhà.
                                                        
                                                                        Nguyễn Thị Ngọc

30 thg 1, 2021

CON NGƯỜI CÓ ĐỊNH MỆNH VÀ NGHIỆP QUẢ CHĂNG ?

 

Khi về hưu rồi ,thường người ta mới cảm nhận được “ thân tâm an lạc , vạn sự kiết tường “ là một nhân sinh quan phù hợp với tuổi già . Không ít người vẫn tin rằng con người có số phần, tránh đâu cũng không thoát khỏi định mệnh và nghiệp quả. Bài viết dưới đây của Bác sĩ Thái Minh Trung, chuyên khoa Tâm Thần sẽ giúp chúng ta tìm hiểu về mối tương quan giữa “Định mệnh và nghiệp quả” qua những dẫn giải y khoa rất lý thú. Hy vọng triết lý sống của tác giả trong bài viết có thể giúp các bạn tìm thấy hạnh phúc ngay trong phần đời còn lại .
***
Định mệnh là gì?
Một số người tin rằng những diễn biến xảy ra trong cuộc đời đã được an bài sẵn. Khoa chiêm tinh (astrology) tin rằng những diễn biến trên quả địa cầu và tánh tình con người đều bị ảnh hưởng bởi những vị trí ngôi sao trên trời. Nếu ta sanh vào ngày tháng nào đó thì sẽ bị dấu ấn của những vì sao ảnh hưởng lên tánh tình và những diễn biến trong cuộc đời. Những người đó tin rằng ngay khi sanh ra là định mệnh đã an bài rồi, không ai chạy khỏi hết. Thí dụ người tuổi Sửu thì trong cuộc sống sẽ trải qua những năm thuận và năm kị tuổi. Năm thuận và kị như những cái đèn xanh đèn đỏ của đời người. Năm thuận thì gặp đèn xanh nhiều, làm gì cũng êm xuôi và năm kị thì trường hợp ngược lại.
Người đạo Ki tô giáo tin rằng những gì xảy ra cho họ là do ý muốn của Đức Chúa Trời. Chúa đặt đâu ta ngồi đó. Có người Chúa đặt vào hoàn cảnh giàu sang, còn người khác bị lâm vào hoàn cảnh nghèo đói. Ta không cãi ý Chúa được. Ta cần cầu nguyện để cho Chúa thương xót mà thay đổi hoàn cảnh cho ta. Có thể những hoàn cảnh khó khăn là những thử thách nên ta không nên than trời trách phận. Một số con chiên còn mang mặc cảm tội lỗi là mình đã làm gì khiến Chúa phật lòng nên Ngài mới đặt mình vào hoàn cảnh khổ sở.
Người Phật tử thì tin rằng định mệnh là nghiệp. Mình đang ở hoàn cảnh xấu là do mình tạo nghiệp xấu từ kiếp trước. Mình nên "trả nghiệp" bằng cách chịu đựng một thời gian thì nghiệp sẽ hết. Khi cái nghiệp xảy ra thì mình không thay đổi được. Nhiều người cũng không muốn thay đổi vì e rằng làm như thế nghiệp sẽ nặng hơn. Giống như thiếu nợ thì phải trả cho chủ nợ, cứ khất nợ hoài thì nó chồng chất, mình sẽ trả không nổi. Có nghĩa là mình muốn thoát hoàn cảnh này thì sợ gặp phải hoàn cảnh xấu hơn nữa, như tục ngữ có câu: chạy ông mồ mắc ông mả.
Những người tin hoàn toàn vào định mệnh thì sẽ rất thụ động. Nói đúng hơn họ sợ làm cái gì đó khác hơn để thay đổi hoàn cảnh, nên phải đứng yên cắn răng chịu đựng. Đó là những người rất lo âu trước cái vô định của cuộc sống nên thích tin vào một đường lối đã vạch định sẵn.
Quyền lựa chọn
Khi phân tích kỹ ta thấy rằng khoa chiêm tinh không có đưa ra một định mệnh không thể thay đổi. Con người có quyền chọn lựa ngày tháng tốt để bắt đầu công việc làm ăn quan trọng, chọn lựa chồng hay vợ hạp tuổi để tránh những mâu thuẫn về tánh tình. Ngoài ra dân gian có câu: cái đức thắng cái số. Nếu ta ăn ở hiền lành thì nếu gặp "năm tuổi" thì sự xui xẻo sẽ ít hơn. Ngày nay khoa học hiểu rằng mỗi người chúng ta đều có một nhịp điệu sinh hóa (bio rhythm) thay đổi theo sức hút các ngôi sao. Ở phụ nữ, chu kỳ kinh nguyệt có nhịp điệu sinh hóa thấy rõ. Khi ta bắt đầu công việc quan trọng vào thời điểm nhịp sinh hóa cao thì dễ thành công hơn. Tuy nhiên ảnh hưởng của nhịp sinh hóa không đáng kể so với ảnh hưởng của ý định (intention). Ngay khi ta ở giai đoạn nhịp sinh hóa cao mà có ý định xấu (tham lam, hờn giận) thì ý định sẽ làm biến đổi nhịp sinh hóa theo chiều xấu.
Đạo Ki tô cũng thế, đề cao sự chọn lựa và ý định tốt. Chúa Jesus không lên án người đàn bà ngoại tình bị dân làng muốn chọi đá cho chết, như người dân làng thường tin là định mệnh của những người đàn bà ngoại tình. Ngược lại Chúa khuyên dân làng hãy dừng lại và có những lời khuyên đề cao sự tha thứ. Chúa khuyên chúng ta nên có ý định tốt và chọn lựa sự tha thứ để thoát khỏi định mệnh an bài. Khi hiểu được ý nghĩa câu chuyện này thì ta thấy rõ rằng ta có quyền chọn lựa 2 con đường: con đường buộc tội và con đường tha thứ. Con đường buộc tội là con đường của định mệnh: ta buộc tội và bị người khác buộc tội lại. Con đường tha thứ là con đường của giải thoát.
Nghiệp trong Phật giáo cũng là một sự chọn lựa. Ta có quyền chọn lựa tạo dựng cơ sở của những nghiệp tốt, như cố gắng học hành để giúp ích xã hội. Ta có quyền chọn lựa nghiệp xấu như hút sách và rượu chè, như thế ta đạp phá những tiềm năng tốt. Thí dụ như uống rượu đến xơ gan làm sức khỏe suy tổn… Thoạt đầu ta có sự tự do chọn lựa nhưng nếu ta chọn con đường rượu chè, xì ke ma túy thì dần dần khả năng chọn lựa của ta bị mất dần. Khi bị nghiện rồi thì ta hoàn toàn mất sự tự do chọn lựa và trở thành nô lệ cho những thói quen xấu này. Những căn bệnh hiểm nghèo kéo đến làm khả năng thay đổi cuộc sống càng khó hơn gắp ngàn lần.
Thế nào là nghiệp?
Nghiệp (karma) không có gì huyền bí hết, nghiệp là tác động của những động lực. Động lực đó có thể ở dạng thân, khẩu hay ý. Bất kỳ lực (force) nào cũng gây ra phản lực (counter force). Cái mục đích của lực và phản lực là để trở lại điểm yên tịnh ban đầu (initial stillness). Thí dụ như con lật đật, ta đẩy nó qua bên phải thì nó bật trở về bên trái. Cuối cùng là nó đứng yên một chỗ. Sự đứng yên một chỗ có thể coi là niết bàn hay thiên đàng vì nó tượng trưng cho trạng thái bình thản, không căng thẳng đau khổ.
Nói về cường độ của phản lực thì trên thế giới vật chất ta có: ý nghĩ yếu hơn lời nói, và lời nói yếu hơn hành động. Thí dụ phản ứng của ta trước lời phê bình mà ta không thích: ta chửi thầm người ta ghét (ý) hậu quả ít hơn là ta la lối chửi người đó trong buổi tiệc (khẩu). Hậu quả của lời chửi bới ít hơn là hậu quả ta nhảy lại đánh người đó bầm mình (thân).
Xã hội chỉ có hình phạt khi ta làm chấn thương người khác, còn tôn giáo thì muốn khuyên ta nên trị tận gốc nghiệp dữ bằng cách dừng suy nghĩ giận dữ lại. Khi ý khởi dậy thì nó tạo một tiềm năng hành động (potential of action) rồi. Thí dụ nói theo phàm tục, khi cái ý ghét đã khởi dậy rồi thì ta muốn chửi cho đã miệng. Chửi thầm thì ngủ không được.. Nhưng khi chửi bằng miệng mà bị đối phương chửi lại thì ta càng tức hơn. Nếu ta dằn không được đi đánh lộn đến bị thương tích hay bị bỏ tù, về nhà lại càng tức hơn nữa. Như thế mà ta cứ tạo nghiệp thân-khẩu-ý thành một chuỗi lực và phản lực (chain of action and reaction).
Sở dĩ chiến tranh trên thế giới xảy ra liên tục là vì con người không có đời sống tâm linh, dùng sự giết chóc để mong cầu trở về chỗ yên tịnh ban đầu. Người lính cảm tử quân Hồi giáo có cái ảo tưởng rằng khi giết chết kẻ thù ngoại đạo họ sẽ được sống trên thiên đàng, có nghĩa là trở về chỗ yên tịnh ban đầu. Đó là sự lầm lẫn vô cùng tai hại vì khi họ tạo một động lực căm thù thì sẽ để lại cái phản lực căm thù, như thế cứ lưu truyền mãi không ngừng trên thế gian từ thế hệ này qua thế hệ kia.
Tuy nhiên nghiệp lực, khác như dân gian nghĩ, là khi kiếp trước ta lỡ ăn trộm người nào đó 10 đồng thì kiếp này ta phải trả lại 10 đồng chẵn. Trên phương diện tâm linh, cái điểm yên tịnh ban đầu có được không phải khi ta trả lại 10 đồng mà khi ta nhận thức ta nên vui lòng bỏ qua khi bị người khác giựt tiền rồi thực hiện được điều đó. Khi đọc những thí dụ của nhà soi kiếp E. Cayce thì ta thấy rằng chỉ có sự vui lòng bỏ qua thì con người mới "trả" được cái nghiệp.
Nói một cách khác, sở dĩ ta mang cái nghiệp (bị phản lực/quả) vì ta không nhận thức được những đau khổ mà ta đã tạo ra cho người khác (lực đã tạo/nhân), nên cái nghiệp nó xảy ra khiến ta bị đau khổ để ta thông cảm nỗi khổ của người kia. Lúc có sự thông cảm thì lực và phản lực sẽ trung hòa với nhau. Nhưng nếu trong đau khổ, ta lại thù người đó thì sanh thêm cái nghiệp nữa, và như thế sẽ tạo ra cái vòng lẩn quẩn mà Phật gọi là bánh xe luân hồi.
Tha thứ là giải thoát khỏi định mệnh
Hiểu được lực nhân quả tương tác ở nội tâm thì ta mới hiểu được tại sao các vị lãnh tụ tôn giáo kêu gọi sự tha thứ. Nếu không có tha thứ thì không ai có thể trở về cái vị trí an lạc ban đầu được. Ý nghĩa cứu thế của Chúa Jesus là Ngài tự nguyện tha thứ những người hại Ngài, như một gương sáng giúp nhân loại vượt qua được sự vay trả đời đời của hận thù. Thù qua ghét lại có thể coi như là tội nguyên thủy của loài người. Tha thứ mới là phép mầu nhiệm thật sự. Phép mầu này ít ai nhận thấy được vì nó trong sáng trong sự khiêm nhượng tột bực chớ không phải là sự màu mè hào nhoáng của Superman hay điệp viên 007 làm được những điều phi thường.
Hiểu như thế Chúa cứu thế không đến với ta từ hành tinh khác mà Chúa sẽ hiện diện trong chính ta nếu ta thực hiện được sự tha thứ trong đời ta. Khi sống trong khiêm nhượng và tha thứ thì ta như con nhộng xé được cái vỏ của ngạo mạn để trở thành con bướm muôn màu. Ta không đợi đến khi chết mới được Chúa rước. Khi ra khỏi được cái vỏ của ngạo mạn thì ngay trong giây phút đó ta thấy Chúa hiện diện trong lòng ta.
Phật thì khuyên ta nên hỷ xả, có nghĩa là bỏ qua trong sự vui vẻ. Ở dưới biển, có một loài cua thích sống trong vỏ sò (hermit crab), khi cua lớn lên thì nó phải vui vẻ bỏ cái vỏ sò nhỏ để tìm cái lớn hơn chọn làm nhà. Hỷ xả cũng như thế, là từ bỏ sự nhỏ mọn để nhìn thấy sự rộng lượng. Hỷ xả là một phương pháp trị cái bịnh của ngã (cái tôi). Nếu ta cứ bám vào tiền tài, sắc đẹp, danh lợi thì cái lòng tham và sân của ta càng ngày càng lớn. Khi cảm thấy ta được càng nhiều (sở đắc) thì ngạo mạn càng tăng theo. Sự đời vô thường làm cho ta không bao giờ giữ được mãi mãi những gì mình muốn vì thế lòng tham ngày càng tăng trưởng. Khi có ai tước đoạt những gì ta đang được thì ta sanh lòng bực tức sân hận.
Tham và sân là nguyên nhân chính của lo âu. Tham có thể hiểu theo nghĩa rộng là muốn đem về cho ta vì sợ để lâu thì ta sẽ hết được phần lợi đó. Sân là sự bực bội khi gặp hoàn cảnh nghịch ý ta. Bề mặt bạo động của sân là chửi bới đánh lộn, còn mặt thụ động là "tự ái", hờn dỗi để bụng. Bụt dạy ta nên thấy cái vô thường của cuộc đời để lúc được thì không tham và lúc mất thì không sân. Ta phải tập hạnh hỷ xả thì mới phát triển từ bi được. Ta không thể nào thương được người mà ta không tha thứ!
Tại sao tôn giáo nào cũng khuyên con người bố thí? Ta có thể hiểu tham, sân, si trên lý thuyết nhưng chỉ có hành động thực hiện sự ban cho mới giúp ta nhận thức rõ những hạn chế của ta. Thí dụ như khi cho mà ta thấy còn quyến luyến vật ta muốn cho thì lúc đó mới chợt nhận ra mình còn lòng ham muốn. Khi bớt lòng ham muốn đem về cho mình rồi thì mình mới thông cảm kẻ khác được. Đây là cách bố thí nhận thức của người có căn cơ cao. Người căn cơ thấp thì áp dụng bố thí trao đổi chớ không phải bố thí nhận thức. Bố thí trao đổi là bố thí để được hưởng phước lộc. Ta cho để lấy lòng đấng nào đó mà ta thờ phụng. Ta bố thí để được Chúa hay Phật ban phước lành hay phù hộ. Chỉ có bố thí nhận thức mới giúp ta phát triển tâm linh được.
Thực tập tâm tĩnh lặng
Làm người ai cũng muốn thay đổi cuộc sống cho nó tốt đẹp hơn. Khi thay đổi không được hay không dám thay đổi thì ta đổ thừa cho số phận hay định mệnh. Hoàn cảnh rất khó thay đổi khi ta duy trì tập quán, thói quen cũ. Nếu ta bị tiểu đường mà không chịu bỏ cái sở thích ăn đồ béo ngọt (tham) thì bịnh làm sao mà hết được. Một số người thì mong có phép lạ để được cứu khỏi hoàn cảnh khổ. Có nghĩa là họ muốn ăn cho ngon miệng sau đó thì cầu xin phép lạ không bị tiểu đường. Nếu phép lạ không đến thì họ sẽ có hai phản ứng. Phản ứng thứ nhất là mất hết niềm tin ở một đấng nào đó mà họ tin tưởng. Thí dụ người công giáo mất niềm tin ở Chúa cứu thế, còn phật tử thì mất niềm tin nơi Phật Bà Quan Âm hay Phật A Di Đà. Phản ứng thứ hai là mang mặc cảm tự ti vì một số người nghĩ rằng họ bị tội nhiều quá hay nghiệp nặng quá nên không được cứu rỗi.
Nói về sân hận, khi ta không thay đổi ý mà ráng kềm chế miệng lưỡi hay thân thể thì mặc dù ta không tạo nghiệp dữ nhưng cảm thấy rất khổ sở, gò bó khó chịu. Khi ta nuôi dưỡng những suy nghĩ bực bội sân hận chắc không có phép lạ nào giúp cho ta an tâm để ngủ ngon được. Nói theo nhân quả, ta tạo một động lực nhân thì cái phản lực quả sẽ núp chờ đâu đó. Rồi sự căng thẳng nội tâm ngày càng tăng dần đến một lúc ta hết đè nén nổi và gây ra nghiệp qua lời nói hay hành động. Đó là lúc cái phản lực xảy ra ngoài thế giới vật chất để làm dịu bớt cái lực tư tưởng của sân hận đang bị đè nén. Tuy nhiên đa số không trở về được cái trạng thái yên tịnh an lạc ban đầu vì lý do dễ hiểu là khi ta chửi mắng người ta ghét thì có bao giờ họ chịu để cho ta yên thân đâu. Sớm muộn gì họ sẽ tìm cách trả đũa. Đó là cái vòng lẩn quẩn của nghiệp vay trả.
Tâm lý học cho ta thấy rõ sự lý luận và tranh luận không làm giảm được tham và sân. Khi lý luận ta hiểu được mọi chuyện nhưng những hiểu biết đó không có khả năng thăng hoa (sublimation) được tham và sân thành những tình cảm tốt đẹp hơn. Đôi khi tranh luận đúng sai nhiều còn tạo thêm sân nữa. Những nghiên cứu chụp hình não bộ cho ta thấy rằng khi lý luận ta chỉ xài vỏ não bộ (cortex) và không liên kết được với những miền sâu hơn trong não bộ, nơi tình cảm xuất phát. Hiện tượng này phân tâm học gọi là hợp lý hóa (rationalization). Khi ta dùng lăng kính hợp lý hóa trong cuộc sống thì dễ sanh ra thành kiến chia rẽ con người. Thí dụ ta nghĩ màu đen là màu của tội lỗi vì thế người da đen là kẻ xấu.
Chỉ có khi ta tập tâm tĩnh lặng thì ta mới có khả năng hiểu qua sự cân bằng của trí tuệ và tình cảm. Cái hiểu này toàn diện hơn là cái hiểu qua suy luận. Suy luận thường hay trừu tượng và chỉ giúp ta hiểu được một khía cạnh nhỏ của cuộc đời. Những bậc thánh nhân đều phải trải qua giai đoạn thực tập tâm tĩnh lặng rồi mới thấy được ánh sáng của chân lý. Chúa Jesus đã vào sa mạc để cầu nguyện trong tĩnh lặng. Chỉ khi Ngài cảm nhận được ánh sáng của Thượng Đế thì Ngài mới đủ can đảm chịu cái chết đau đớn trên thập tự. Đức Phật Thích Ca đã ngồi với tâm tĩnh lặng dưới cây bồ đề 49 ngày. Nhờ thế Ngài mới hiểu được ý đồ lừa bịp của ma vương Maya, chiến thắng ma vương và giác ngộ được chân lý. Có lẽ lúc Phật còn tại thế, người dân thời đó có nhiều mê tín trong việc tôn thờ nên Bụt gọi Ánh sáng chân lý là Phật tánh chớ không gọi là Thượng đế. Hiểu theo Phật giáo, Thượng đế không phải là Cha mà là Chân lý tối cao.
Hiểu bằng ý thức khi tâm tĩnh lặng rất khác với cái hiểu của suy nghĩ. Những nghiên cứu đo điện từ não bộ (EEG) cho thấy rằng khi tâm tĩnh lặng thì những làn sóng não thay đổi rõ rệt, từ dạng sóng (beta waves: 15- 45 Hz) trở thành dạng sóng (alpha waves: 8-12 Hz) và (theta waves: 3-7 Hz). Sóng thường thấy ở những người suy nghĩ lăng xăng, còn sóng và được thấy khi ta thư giãn. Sóng còn được gắn liền với khả năng sáng tạo. Hình fMRI scan cho thấy khi tâm tĩnh lặng, máu dồn về những vùng của não bộ tạo cảm giác thoải mái hạnh phúc và có sự liên kết hài hòa giữa vỏ não và những vùng sâu hơn của não. Nói một cách khác, tâm tĩnh lặng đồng bộ hóa (synchronize) nhiều vùng trong não bộ giúp ta liên kết được nhiều mạch thần kinh và nhờ đó mà mở rộng tầm nhận thức ra.
Tóm lại
Định mệnh có hay không là do ta. Khi ta biết tập những phương pháp mở rộng nhận thức tâm linh thì cái khả năng ta thay đổi cuộc đời rất cao. Nếu ngược lại ta thụ động đổ thừa cho số mạng hay ngồi đó chờ một phép lạ xảy ra thì lúc đó định mệnh có thật vì ta không tận dụng khả năng thay đổi cuộc sống của ta. Nói một cách khác, nếu ta tin có ma thì sẽ gặp ma, ta tin có Phật hay Chúa thì sẽ gặp những đấng mà ta tin.
Nếu có người ở trình độ thấp thì tin vào định mệnh cũng có cái lợi của nó là lòng tin đó giúp họ chấp nhận những biến cố xấu và trải qua những đau khổ cuộc đời dễ dàng hơn. Họ không than trời trách phận hay sanh lòng ganh ghét hoặc hận thù vì "đó là số mệnh của mình".
Tuy nhiên nếu ta có trình độ cao thì nên tập những phương pháp giúp tâm tĩnh lặng vì đó là phương pháp nhanh và gọn để "chuyển nghiệp" dẫn ta đến hạnh phúc ngay trong đời này. Phương pháp này cũng giúp ta hiểu các tôn giáo một cách sáng tạo chớ không kẹt vào chữ nghĩa văn tự nữa.
Bất kỳ độc giả ở tôn giáo nào, khi mỗi người trong chúng ta phát triển được ý thức tâm linh qua tâm tĩnh lặng thì ý thức này sẽ cộng hưởng với nhau. Rồi một ngày nào đó nó sẽ trở thành ý thức tâm linh cộng đồng (collective spiritual consciousness) làm xoay chuyển xã hội vật chất. Chúng tôi hy vọng sẽ có một ngày ý thức tâm linh cộng đồng sẽ phát triển đến độ mà con người sẽ nhận thức rằng những tôn giáo đều hướng về một con đường chung: đó là con đường tâm linh (spiritual way). Lúc đó con người sẽ sống hạnh phúc an bình ở một kỷ nguyên mới.
Bác sĩ Thái Minh Trung
Có thể là hình minh họa về hoa
Ba Tha Ông

23 thg 1, 2021

CON ĐỐT Ô TÔ BA CÓ NHẬN ĐƯỢC KHÔNG ?

 

***
Inline image

Gọi hồn người đã quá cố về để nói chuyện là chuyện không xa lạ gì với chúng ta, nhưng có phải người chết nào cũng có thể hiện hồn về nói chuyện hay không thì lại rất ít người biết. Bài viết Mru sưu khảo dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về điều này.
***
Có người chết đã lâu mà khi gọi hồn về thì vẫn trở về nói chuyện này chuyện kia, nói chính xác hoàn toàn, vậy là sao? Theo Kinh Địa Tạng thì con người chết 49 ngày sẽ phải đi vào một trong sau nẻo luân hồi. Có những người phải đoạ sinh vào địa ngục ngay, có người sau khi chết thì được lên cõi thiên, cõi thần đó là 3 trường hợp người ta đi ngay. Còn thường thì người chết sẽ chờ 1 tuần, 2 tuần, 3 tuần đến 49 ngày thì chuyển kiếp, có thể tái sinh làm người, tái sinh vào cõi ngạ quỷ, tái sinh làm súc sinh, trâu bò, lợn gà…Lên cõi trời thì không gọi hồn được, vào địa ngục không gọi hồn được, tái sinh làm người, súc sinh cũng không gọi hồn được. Chỉ có tái sinh lên cõi thần hoặc vào cõi ngạ quỷ mới gọi hồn được, thông thường gọi hồn được thì hồn ấy thường là ngạ quỷ, vì các cô đồng thì chưa đủ sức để triệu những vị thần về được. Tái sinh vào cõi ngạ quỷ, hồn có thể về, nhưng có khẳng định được hồn ấy là bố mẹ, là thân nhân của mình không thì chưa biết, có khi là ngạ quỷ khác về, nhưng tự xưng là người thân nhà mình, họ cũng biết hết mọi chuyện nhà mình.
Đã có trường hợp một cốt đồng bị vong nhập vào, lúc đầu nói là bố, xong rồi lại nói là Quan Âm Bồ Tát, một hồi lại nói là chúa nọ chúa kia. Nó nói đúng các chuyện nhà mình, cứ tưởng đấy là hồn của nhà mình, nhưng thật ra là không phải. Cho nên muốn tốt cho người đã mất thì tốt nhất là làm các việc tốt tạo phước, tích phúc tích đức, trì Kinh, niệm Phật, sám hối cho vong hồn người mất.
Những việc cúng vàng mã, y phục hay ngựa giấy hoàn toàn là mê tín không phù hợp với luật nhân quả cũng như không đem lại lợi ích cho hương linh.
Sau giai đoạn 49 ngày,dù sinh vào cõi nào, người chết lúc này cũng không thể thụ thực đồ dâng cúng của thân nhân gia đình ngoại trừ trường hợp của ngã quỷ .Cách tốt nhất là cúng thí thực, cúng cơm chay và đọc lời khai thị cầu siêu, hồi hướng công đức cho chúng sinh được sinh về cảnh giới tốt đẹp hơn.
Mời đọc cho vui chuyện gọi hồn và đốt vàng mã trong những ngày giỗ Tết .
***
Inline image

Một gia đình giầu có nọ ở Hà Nội tổ chức giỗ đầu ông bố rất long trọng.Vào những ngày cận Tết ,mọi người bàn năm nay phải đốt vàng mã thật nhiều để bố phò hộ sang năm mới Tân Sửu gia đình làm ăn phát tài, con cháu mau thăng quan lên chức , thêm nhiều bổng lộc.Sau khi lập đàn cúng ở một ngôi chùa lớn nhất thủ đô,gia đình còn tổ chức gọi hồn người đã khuất tại nhà anh con trai cả.

Vong linh ông bố nhập vào ,cười ha hả, giọng nói rất to, trầm hùng, lại pha chút khôi hài của bậc trưởng thượng một gia tộc mà hồi sinh tiền từng là ông tướng vai vế trong quân ngũ quen "ăn to nói lớn".
Anh con trai hỏi:
- Con đốt tiền biếu cho ba, ba có nhận được không?
- Nhận được!
- Con đốt quần áo biếu cho ba, ba có nhận được không?
- Nhận được !
- Con đốt ôtô biếu ba, ba có nhận được không?
- Ôtô hả, mi đốt cả hai lần tao đều nhận được cả!
Cả gia đình mừng mừng, tủi tủi vì không những được giao lưu trực tiếp với cha mình (tính tình giọng nói vẫn thế) mà ba còn nhận được quà biếu của con cháu nữa. Đột nhiên ông bố chuyển sang giọng trang nghiêm và khôi hài:
- Nhưng mà bọn mi đã hại tao!
- Sao hả ba?
- Khi nhận được ôtô, khoái chí quá, tao đẩy ra đường chạy thử thì khởi động mãi mà máy không nổ! Hoá ra không có xăng (cả gia đình cười). Chềnh hềnh ra đường mãi, nên công an đến tuýt còi bắt nộp phạt vì "cản trở giao thông". Loay hoay và lóng ngóng mãi mà không đánh xe vào rìa đường được, công an lại hỏi: "xin cho kiểm tra bằng lái", tao làm gì có bằng lái, và lại phải nộp phạt lần thứ hai (cả gia đình lại cười). Chưa hết đâu, khi bọn mi gửi ôtô lần thứ hai, tao chán quá chả thèm đi nhận, thì tháng sau tao lại nhận được một "trát" bắt nộp tiền "phạt phí lưu kho lưu bãi" (cả gia đình lại cười như nắc nẻ).
- Như vậy vẫn còn may đấy, nếu tao mà đi từ Sài Gòn bằng chiếc ôtô bọn mi biếu thì ba ngày nữa cũng chưa chắc ra được Hà Nội, vậy thì hôm nay giao lưu làm sao được đây?
- Thế ba đi mây về gió à?
- Nhanh hơn cả đi mây về gió! Chỉ cần nghĩ về đâu là đến đó liền. Nhưng bọn mi có thực lòng biếu ôtô cho tao không?
- Chúng con thật lòng mà ba
- Chiếc ôtô thứ hai khá cầu kỳ, bọn mi mua 700.000 đồng ở Hàng Mã đúng không?
- Vâng, sao ba biết tường tận như thế!
- Thì lúc đó tao đang đứng cạnh đó mà. Nếu bọn mi có lòng hiếu thảo, thì hãy mua cho tao một chiếc ôtô thật khoảng 700 triệu thôi mà vì thời Covid-19 ,nhiều hãng xe hạ giá cạnh tranh.
- Nhưng ba có cần đi ôtô của trần gian đâu
- Thì đem tặng cho ông xếp của mày để mày mau lên chức tước trong cơ quan, cứ nói là ba con biếu bác. Mà con nhớ phải khéo đấy, kẻo có người khác mà biết tố ra thì cả hai mất việc mà còn bị sẽ bỏ vào lò đốt chống tham nhũng mà ba cho hay sẽ bùng phát mạnh sau Đại hội lần thứ XIII, tụi bay nhớ đấy .
Mấy người con gãi đầu gãi tai tỏ ra lúng túng, vị gia trưởng lại cười ha hả và nói: "Ôtô thật sao không biếu, mà chỉ biếu ô tô giấy 700.000 đồng thôi, lại còn cứ khấn "Ba phù hộ cho con thăng chức ba nhé !" Ôtô giấy mà thay cho lòng hiếu thảo được à?"
Ông bố lại nói tiếp:
- Bọn mi khi đi may đồ Tết có đo không?
- Phải đo đến ba lần chứ ạ.
- Thế sao bọn mi mua quần áo mã mà chẳng đo gì cả, biết "người âm" gầy hay béo, cao hay thấp mà mua? Mặc không vừa thì vứt bãi rác à?
- Con nghĩ là ở dưới sẽ có phép biến hoá mà ba
- Đã có phép biến hoá thì cớ sao phải mua đồ giấy để đốt đi cho phí, sao không mua đồ thật, rồi đặt lên cúng, tao vẫn chứng nhận được mà, sau đó đem quần áo ấy tặng cho các đồng đội của tao, nói rằng " Ba cháu gửi biếu các bác" thì có hơn không?
- Vâng chúng con xin làm theo lời ba
- Lại còn cái vụ tiền mã nữa.
- Có vấn đề gì hả ba ?
- Có 4 lý do mà không nên mua đồ mã ?
1. Thứ nhất là các nguyên liệu làm tiền mã, đồ mã đều từ các thứ vật liệu dễ cháy, bẩn thỉu, tanh hôi.
2. Thứ hai là khi gia công,..chó mèo nhảy qua nhảy lại còn gì là thanh tịnh.
3. Thứ ba là bọn mi đi lấy tiền ngân hàng, có đếm không? Đếm đến ba lần ấy chứ. Nhưng khi đi mua tiền mã, có đứa nào đếm không? Chẳng bao giờ chứ gì. (cả gia đình sững sờ). Nhưng nếu có đếm thì chẳng bao giờ đủ đâu. Như vậy trong tư duy của bọn làm tiền mã, hàng mã đã chứa đầy tư tưởng đại khái và giả dối rồi, sự giả dối và bất tịnh này đã tàng trữ trong đồ cúng. Thế mà lại nheo nhẻo khấn rằng "chúng con lòng thành dâng lên tịnh tài tịnh vật" hay sao thanh tịnh cái nỗi gì !
4. Thứ tư là: "Thống đốc ngân hàng" của cõi âm phủ đâu có cho phép lưu hành đồng tiền do các cõi giới khác in hộ? Đồng tiền phải có mệnh giá chứ, có thể chế nào mà lại chấp nhận cho hàng nghìn hàng vạn hãng in tiền không? Rồi ai cũng tự in thì tiền có giá trị gì không?...
Vậy nên, nếu các con có cúng thì hãy cúng tiền thật, nhưng nhớ đừng đốt, sau đó mang số tiền đó nhân danh ba mà giúp đỡ đồng bào nghèo và đồng đội của ba thì đó mới là cúng thật. Tuy nhiên, nói với các con cho vui vậy thôi, hư cấu vậy thôi, chứ làm gì mà có cõi âm phủ ba đang sống, ba đã đi đầu thai lâu rồi, đừng có phí tiền mà mua đồ hàng mã, tiền âm phủ, đó là mê tín đấy các con à.
St và phóng tác theo thuvienhoasen

22 thg 1, 2021

LY CÀ PHÊ CŨ

 

         Tôi thích cà phê ngay từ khi chưa được uống một giọt cà phê nào. Ở nhà, "cụ giáo" của tôi rất nghiêm khắc không cho con cái đụng tới nó, hình như vì một bài viết trong tờ Sélection cho là cà phê có hại. Vì thế, cà phê không được tiến vào qua cái ngưỡng cửa nhà chúng tôi. Nhưng hồi học năm đầu của trung học, mỗi lần đi học về qua một cửa tiệm trên đường Nhân Vị, Chợ Lớn (bên kia là Cơ Thể Học Viện), tôi đều ngừng lại xem một ông già người Hoa rang cà phê trước cửa nhà ông để hít lấy cái mùi kỳ diệu của những hạt cà phê nâu đen trong cái chảo trên cái bếp than của ông.
       Thế rồi chuyện phải đến đã đến : tôi uống lén được ly cà phê đầu tiên cùng với một điếu Bastos xanh hôm đi tập thể dục với một người bạn học lớp đệ lục (năm thứ hai trung học đệ nhất cấp), bạn tôi người tài không đợi tuổi, đã mỗi ngày hút 2 điếu Mélia vàng.
         Người Sài Gòn oai hơn người Hà Nội. Ở Hà Nội hồi trước di cư, phải sang lắm mới biết uống cà phê. Nhưng ở Sài Gòn, gần như ai ai cũng uống cà phê. Ông xích lô, ông lái taxi, ông thư ký, mấy ông già, đàn ông, đàn bà đủ mọi hạng tuổi đều uống cà phê. Có một cách uống cà phê mà chỉ ở Sài Gòn mới có, đó là uống ngồi kiểu nước lụt, tức là ngồi chồm hổm, cà phê được đổ ra cái đĩa và... húp xì xụp. Cảnh uống cà phê như thế trông không quí phái lắm nhưng cách uống đó rất có lý: buổi sáng trời lạnh, ngồi co ro như vậy cho ấm. Ly cà phê nóng đổ ra đĩa sẽ nguội đi, dễ uống hơn.

    Mãi đến năm học thi Tú Tài 1 thì chuyện uống cà phê (lén) của tôi mới là chuyện thường xuyên. Mỗi ly cà phê bít tất hồi ấy có 2 đồng bạc. Gần như hôm nào tôi cũng đến một quán cà phê trên đường Hai Bà Trưng gần nhà thờ Tân Định để uống cà phê với Đinh Ngọc Mô (người phụ trách chương trình Đố Vui Để Học của Trung Tâm Học Liệu bộ Giáo Dục sau này) và cũng để ngắm cô hàng cà phê tên là Y. (ngó em hổng dám ngó lâu / ngó qua một chút đỡ rầu rồi thôi).
       Cà phê trở thành một phần của đời sống của tôi từ đó. Sau trung học, tôi đi học xa khỏi Việt Nam và cà phê càng không rời tôi mặc dù cà phê ở ngoài Việt Nam không thể nào ngon bằng cà phê phin Việt Nam, thua xa những ly cà phê đầu đường xó chợ mà tôi uống ở Sài Gòn hồi học trung học.
        Sau mấy năm, về lại Sài Gòn, tôi lại trở về với cà phê Sài Gòn nhưng chuyện cà phê của tôi có đổi khác. Không còn là học sinh... nghèo nữa. Chúng tôi thay đổi phần nào nơi uống cà phê. Chỗ chúng tôi hay ngồi là quán Cái Chùa, tên thật là La Pagode ở góc đường Tự Do và Lê Thánh Tôn. Đó là chỗ để ngồi đấu hót thì đúng hơn, để gặp bạn, đủ các thứ bạn, còn cà phê thì nói cho ngay, không đáng kể lắm nếu không nói là dở. Chúng tôi đến đó là vì những lý do khác. Cũng như thế, cà phê ở Givral, Brodard và Continental... đều không có gì đáng nói. Những nơi như thế chỉ để ngồi chứ không vì cà phê.
       Chính những tiệm cà phê không tên tuổi, không bảng hiệu lại là những nơi có cà phê ngon nhất. Hai nơi chúng tôi hay tới đều ở trong hai con đường nhỏ, một ở khu Bàn Cờ và một ở Tân Định. Ở trong con hẻm từ đường Cao Thắng rẽ vào, là căn nhà nhỏ của gia đình cụ Phong mà chúng tôi vẫn gọi là cà phê Phong. Tiệm không có bàn, chỉ có mấy cái ghế thấp, khách khứa bao giờ cũng chỉ năm, sáu người. Cà phê phin của cụ rất ngon. Chủ tiệm bao giờ cũng ngồi trên chiếc ghế xích đu. Khi có khách gọi cà phê thì ông cụ gọi vọng vào nhà trong, và cũng chẳng buồn đứng dậy. Ông cụ ngồi xích đu nghe lỏm đủ các thứ chuyện của khách, thỉnh thoảng góp vài câu với khách thường bằng câu "Cậu không bằng tôi..." bất kể khách nói gì, làm gì. Thỉnh thoảng có một người khách rất đặc biệt ghé vào, trong cả những buổi tối mưa ướt lướt thướt, gọi một ly cà phê đen không đường, không sữa ngồi uống một mình, uống xong lại lặng lẽ ra về trong mưa, hệt như bài Déjeuner du Matin của Jacques Prévert:

 ...Il s'est levé
Il a mis
Son chapeau sur sa tête
Il a mis son manteau de pluie
Parce qu'il pleuvait
Et il est parti
Sous la pluie
Sans une parole
Sans me regarder... 

     Đó là ông Đinh Hùng. Tôi chưa kịp làm quen để chào ông một câu thì ông qua đời. Năm ấy là năm 1967.
      Tiệm cà phê kia nằm trên đường Lý Văn Phức từ đường Hiền Vương rẽ vào. Chủ nhà là một phụ nữ khoảng ngoài bốn mươi. Tiệm cũng không bàn ghế như những tiệm cà phê khác. Cũng chỉ vài cái ghế đẩu thấp. Chủ nhà rất tiết kiệm lời nói nhưng bù lại cà phê rất ngon. Chắc chắn còn nhiều người nhớ tên của bà: cà phê Thái Chi.
     Trong khi có người uống cà phê với rất nhiều đường, thì cũng có người không uống với đường, vì vị ngọt (quá đáng) có thể làm mất đi mùi cà phê.
      Tôi uống đủ các thứ cà phê từ cà phê bít tất đên cà phê bột, cà phê dở và nhạt như nước mắt ma của 7-Eleven đến cà phê Ả Rập, cà phê espresso của Ý, của Pháp, cà phê Áo, cà phê kiểu Thổ Nhĩ Kỳ... và cà phê Starbucks...
         Nhưng cho tới khi đọc một tùy bút của Võ Phiến tôi mới học được cách gọi cà phê ít sữa hay cà phê nhiều sữa một cách giản dị và dễ dàng, lại không thể lầm lẫn. Chú phổ ky ở cái tiệm mì nhỏ có cách gọi rất vắn tắt: "một cà phê sữa, một sữa cà phê" là có ngay hai ly cà phê đúng ý của hai ông khách khó tính từ Sài Gòn xuống miền Tây công tác.
       Cạnh tiệm phở Tầu Bay trên đường Lý Thái Tổ có một ông cụ bán cà phê bên một gốc cây to. Cà phê đá của cụ rất ngon tôi thường ghé trong những sáng chủ nhật trước khi lên ngồi cà phê cái chùa.
      Bây giờ những ngày không đi làm tôi pha cà phê lấy ở nhà bằng những cái ấm cà phê tôi góp nhặt suốt nhiều năm qua. Cái của Ý, cái của Đức, Áo... thỉnh thoảng thay đổi cho đỡ chán. Nhưng hệt như người ta không bao giờ quên hẳn mối tình đầu, những ly cà phê thời tuổi trẻ vẫn trở lại hoài hoài. Tôi vẫn yêu những ly cà phê uống với những người bạn trung học. Tưởng tượng làm sao có cách nào trở lại với những ly cà phê rẻ tiền mà ngon đến thế.
       Nhưng giấc mơ trở lại với những ly cà phê ấy chắc không bao giờ làm được nữa. Tuần qua một bài báo ở Sài Gòn viết về cà phê ở trong nước hiện nay, theo đó cà phê mà người dân Sài Gòn uống hiện nay được làm bằng 30% cà phê, còn 70% là đậu đỏ, đậu xanh pha cùng với một hai thứ hóa chất có nhiều phần độc hại khác cho khách.
      Nhớ những ly cà phê ở mấy cái quán bình dân thời ấy biết là bao nhiêu nhưng nay làm thế nào còn tìm thấy được. Có phải lúc ấy đời sống hiền lành và giản dị hơn bây giờ như một câu trong bài Memories của Barbra Streisand không?
                 "...can it be that it was all so simple then..."

Bùi Bảo Trúc

TẢN MẠN VỀ CHUYỆN “LÌ XÌ” NGÀY TẾT

 


         Truyền thống Việt Nam xưa nay vào ngày mùng Một Tết thì con cháu vòng tay mừng tuổi chúc thọ,chúc phúc ông bà, cha mẹ. Hình ảnh cổ truyền này là một tập tục văn hoá rất đáng được tôn trọng.

        Vào thời thơ ấu của tôi, thời của những U70 , khi con cháu vòng tay cung kính chúc thọ cha mẹ,ông bà thì chỉ nhận được một một đồng Bảo Đại (vừa đủ mua được một cây cà lem hoặc một khúc kẹo kéo bán dạo ngoài đường) đã là sung sướng lắm rồi.

        Ngày nay,mỗi khi Tết đến xuân về, tập tục mừng tuổi vẫn được duy trì nhưng việc tặng phong bao mang cái tên  mới  “lì xì” đã trở nên quen thuộc khắp mọi miền đất nước .

       Có nhiều ý kiến cho rằng, tục lì xì ngày Tết cổ truyền của Việt Nam bắt nguồn từ Trung Quốc. Cũng đúng thôi vì ngay cái từ “lì xì” đã cho chúng ta hiểu nó nguồn gốc từ tiếng Trung Quốc.Lì xì phát âm theo âm Hán Việt là “Lợi thị” (lãi chợ) mà người Việt Nam đọc chệch ra thành lì xì. Lì xì còn được gọi bằng những tên khác là mở hàng hay tiền phát vốn với kỳ vọng buôn bán có lãi và hiện nay được dùng chung là từ mừng tuổi. Dù được gọi với tên gọi nào thì lì xì cũng mang nghĩa là tiền hên, tiền may mắn, điều lành, điều tốt. Tặng lì xì là tặng món tiền thể hiện điều lành và may mắn đến người được cho.

         Thường bắt đầu từ thời khắc giao thừa chính thức bước sang năm mới đến khi hết Tết, những người lớn tuổi trong gia đình sẽ phát lì xì mừng tuổi cho con cháu để lấy may, kèm theo là lời chúc làm ăn phát đạt, tấn tới, học hành giỏi giang, ngoan ngoãn… Còn con cháu cũng biếu ông bà, cha mẹ những phong lì xì đỏ thắm để chúc sức khỏe và trường thọ.Những phong bao đỏ thắm, xinh xắn đó chính là biểu tượng của lời chúc may mắn và hạnh phúc đầu năm.

            Ở phương Đông quan niệm rộng rãi trong làm ăn thì sẽ được nhiều phúc lộc, nên vào ngày đầu năm, người ta thường phát lì xì cho nhau để trong năm làm ăn, buôn bán có lãi. Cho đi hay nhận lại được càng nhiều bao lì xì thì càng tốt, vì đó là biểu hiện của “phát tài phát lộc”.

Người ta không trực tiếp đưa tiền mừng tuổi cho nhau mà xếp tiền gọn gàng, kín đáo trong những phong bao lì xì đỏ thắm (màu sắc tượng trưng cho sự may mắn) và còn thơm mùi giấy mới. Việc làm này cũng thể hiện sự ý nhị trong văn hóa giao tiếp, ứng xử, không muốn người nhận được lì xì so bì về sự ít nhiều của số tiền tượng trưng mà dẫn đến những điều không vui trong ngày Tết. Bởi theo niềm tin của nhiều người, đầu năm như thế nào thì cả năm sẽ như vậy, nên họ sẽ làm tất cả mọi điều có thể để tránh xui xẻo và những gì không mong muốn.

           Truyền thuyết về tục lì xì ngày Tết của Trung Quốc kể rằng, xưa kia, mỗi khi đến đêm giao thừa con yêu quái lại xuất hiện và trêu ghẹo trẻ nhỏ bằng cách xoa đầu khiến chúng giật mình và khóc thét lên khi đang ngủ. Hôm sau trẻ sẽ đau đầu, sốt cao, bởi vậy các bậc cha mẹ phải thức suốt đêm để canh phòng.

         Năm đó có một cặp vợ chồng hiếm muộn, ngoài 50 mới sinh được mụn con trai. Tết đến, có 8 vị tiên đi ngang qua nhà, biết trước cậu bé này sẽ bị yêu quái quấy nhiễu nên đã hóa thành 8 đồng tiền, ngày đêm ở cạnh bảo vệ cậu bé. Khi chú bé đã ngủ say, cha mẹ liền đem gói 8 đồng tiền vào một tờ giấy đỏ, đặt lên gối của con rồi mới đi ngủ. Giao thừa, yêu quái đến, vừa giơ tay để xoa đầu đứa bé thì những tia vàng sáng chói ánh lên từ chiếc gối khiến nó giật mình kinh hãi và bỏ chạy. Quá đỗi vui mừng tìm được cách ứng phó với con yêu quái, hai vợ chồng thuật lại đầu đuôi câu chuyện cho mọi người trong làng. Từ đó cứ đến Tết, người dân lại bỏ tiền xu vào phong bì đỏ đưa cho trẻ em cầm bên mình để xua đuổi yêu ma, những điều xấu xa, để trẻ lớn lên khỏe mạnh, an lành. 

     Các học giả cũng không xác định được phong tục lì xì ngày Tết được lưu truyền vào nước ta từ khi nào, chỉ biết cứ gần Tết, người người nhà nhà lại tất bật chuẩn bị những phong bao lì xì đỏ thắm, được trang trí với những ánh vàng kim nhũ để mừng tuổi cho mọi người trong dịp đầu năm mới.

         Cùng với cây quất, cành đào, hộp mứt Tết và cặp bánh trưng, nếu thiếu tục lì xì, hẳn là ngày Tết vẫn chưa thật trọn vẹn. Bởi Tết với người Việt không chỉ là dịp nghỉ ngơi đón năm mới mà còn là những ước vọng và sự san sẻ hạnh phúc, cùng chúc nhau và hướng về tương lai tươi đẹp. Và để chuyển tải những ước vọng trong khoảnh khắc xuân sang Tết đến, để chào đón luồng sinh khí mới mà đất trời ban tặng, cùng là lấy may dịp đầu năm, ngoài những câu chúc ấm áp thân tình, người Việt còn trao nhau phong bao lì xì ngày Tết.

          Ý nghĩa của phong bao lì xì không nằm ở số tiền mừng mà quan trọng là ở thiện ý, nghĩa cử tốt đẹp của hành động. Tiền lì xì không quy định là mệnh giá nào, thường là những món tiền nhỏ, gồm cả tiền lẻ và tiền chẵn.

        “Lì xì là người trên giúp người dưới có cơ may, tạo cho người dưới có vốn làm ăn. Tiền lì xì thường là số lẻ để biểu trưng cho sự sinh sôi nảy nở. “Vốn” ở đây mang tính tượng trưng nên không quan trọng mệnh giá tiền trong phong bao lì xì.

           Như thế ý nghĩa chính không nằm ở "tiền" mà ở "tình", tức ở lòng mong ước cầu chúc các cháu hay ăn chóng lớn, vui chơi, học hành tấn tới, còn phong bì nặng nhẹ nhiều ít (tiền) không phải là điều đáng để tâm lắm.

          Theo tục lệ ở một số địa phương thì người nhỏ tuổi không lì xì người lớn hơn, vì vừa không đúng ý nghĩa, vừa bị cho là “hỗn”. Tuy nhiên, ngày nay, tục lì xì đã cởi mở hơn, đặc biệt những người nhỏ tuổi nhưng đã lập gia đình, đã có thu nhập thì có thể mừng tuổi cho những bậc cao niên như cha mẹ, ông bà, để chúc tụng may mắn, sức khỏe, bình an.

        Lưu truyền đến ngày nay, tục lì xì đã thay đổi ít nhiều bởi thói quen của người lớn dẫn đến việc con trẻ thường coi trọng “nội dung” bao lì xì mà ít quan tâm đến những ý nghĩa tốt đẹp của phong tục này. Để gìn giữ nét đẹp văn hóa của dân tộc, nên chăng mọi người  chúng ta lưu ý không cho quá nhiều tiền vào bao lì xì và dạy trẻ biết trân trọng ý nghĩa sâu xa của phong tục này, chứ không phải giá trị vật chất trong bao lì xì.

19 thg 12, 2020

DJ LÀ GÌ VÀ CÓ NGUỒN GỐC THẾ NÀO ?

            DJ là tên viết tắt của cụm từ Disc Jockey, được hiểu là một người chuyên làm công việc lựa chọn và phát đi các bản nhạc đã được ghi âm từ trước cho các đối tượng thính giả nhất định đồng thời điều chỉnh, biến tấu âm thanh cho phù hợp với các đối tượng thưởng thức âm nhạc khác nhau. Xuất xứ của nghề này từ người dân Jamaica trong thập niên 50 của thế kỳ trước tuy nhiên đến cuối thập niên 60 khi DJ được du nhập vào Mỹ mới thực sự nở rộ và phát triển. Công việc của DJ ban đầu còn đang là một chủ đề được các nhà nghiên cứu âm nhạc tranh luận. Có người cho rằng lúc đầu DJ chuyên chơi nhạc nền cho các sàn nhảy và các DJ đầu tiên xuất hiện từ thập niên 30 của thế kỷ trước khi các tín hiệu âm thanh bắt đầu được ghi lại trên các rãnh của cuộn chất dẻo hoặc các đĩa, tiếp theo là sự xuất hiện của nhiều loại đĩa nhạc và máy phát đĩa nhạc và DJ lúc này được tuyển để phụ trách việc phát nhạc từ các thiết bị ấy trong các sàn nhảy. Tuy nhiên một số ý kiến khác lại cho rằng những DJ đầu tiên làm việc cho các đài phát thanh với công việc chủ yếu là chọn các bài hát, bản nhạc đã được ghi lại trên đĩa và phát trên sóng phát thanh tiếp cận thính giả.

Nhiệm vụ và công việc của một DJ là gì ?

 


           DJ có nhiệm vụ khuấy động không khí cho bar hay vũ trường. Bằng cách “phatrộn” (Mix nhạc) âm thanh theo tư duy và óc sáng tạo của mình để tạo không khí sôi nổi, kích thích sự hào hứng của khách. Chính vì đặc thù công việc theo chủ nghĩa “tự do” như vậy nên nghề DJ rất được giới trẻ yêu thích và ngưỡng mộ.

Nhìn bề ngoài, dễ cho rằng DJ là một nghề…nhàn, chỉ cần xoay đĩa, chỉnh mixer lên – xuống là xong. Thực ra để có thể chơi nhạc một cách hoàn chỉnh và chuyên nghiệp, mỗi DJ phải trải qua quá trình học tập và tự rèn luyện gian khổ.

Công việc chính của một DJ bao gồm việc lựa chọn, điều chỉnh các thể loại âm nhạc hướng đến người dùng còn gọi là deejaying, chơi nhạc gọi là playing và xoay các đĩa nhạc để tạo hiệu ứng âm thanh gọi là  spinning.  Âm nhạc mà DJ sử dụng có thể là đĩa nhạc, file nhạc trong laptop, USB hay bất cứ phương tiện ghi âm nào, kể cả điện thoại. Điều quan trọng mà DJ phải làm là sử dụng các kỹ thuật của mình để điều chỉnh và tạo ra được các hiệu ứng âm thanh như mong muốn bao gồm việc cắt, đảo nhịp, phân nhịp, chuyển đoạn, quay ngược đĩa hát hay trộn lẫn bài hát với nhau khiến cho âm thanh thực sự mới lạ, phong cách và đầy cảm hứng sáng tạo. DJ chuyên nghiệp thì thường trộn các bài hát cùng âm điệu hay là các âm điệu có thể phối bè với nhau một cách hoàn hảo, kỹ thuật này được gọi là harmonic mixing.

Làm nghề DJ cần các thiết bị gì ?

 


              Bộ đồ nghề cơ bản của một DJ cần đó là các bản ghi âm âm nhạc trong đó tùy thuộc vào phương tiện phát thanh thích hợp như đĩa hát vinyl nếu sử dụng máy hát hoặc đĩa compact và các file nhạc số khi sử dụng vi tính. Thêm vào đó là 2 đầu CD xoay được hai chiều, đối với người chuyên nghiệp thì có thể là 4 đầu CD, một bàn mixer, hộp nhạc, máy vi tính với các phần mềm cho công việc như Cubase, Reason, Waves hay Cool Edit. Ngoài ra còn cần hệ thống khuếch đại âm thanh. Với các DJ mixer khi pha trộn âm thanh từ các bài nhạc khác nhau phải đeo headphone chất lượng và một microphone để khuấy động không khí tham gia của mọi người. Để làm remix thì âm thanh được tìm trên đàn organ, các CD samples hay được DJ tự tạo trên máy tính hoặc chỉnh sửa, CD thường mua ở nước ngoài hoặc tải từ trên mạng để luôn mang đến cho mọi người các bản nhạc mới nhất. Ngoài ra DJ còn cần các thiết bị tạo hiệu ứng âm thanh, hệ thống vi tính hóa điều chỉnh âm nhạc trên các file nhạc số hay thiết bị Headshell đi kèm với các kim máy hát như R.A.K.E cho phép người DJ có thể phát nhiều các bài hát cùng một lúc trên nhiều đường rãnh của đĩa hát.

           Thế nhưng, để sắm cho mình một bộ đồ nghề không phải là chuyện đơn giản vì giá thành của chúng không hề rẻ. Một bộ đơn giản nhất gồm 2bàn xoay (Turn table) có giá trên 1.500 USD, 1 cặp CD khoảng 1.300 USD, 1 bàn trộn (Mixer) giá khoảng 1.200 USD và bàn trộn (Sound effect) giá trên 300 USD…

Làm thế nào để có thể trở thành một DJ ?

 


               Để có thể trở thành một DJ đích thực, trước tiên bạn cần có đam mê âm nhạc đồng thời phải có khả năng hiểu về âm thanh, cảm thụ âm nhạc tốt sau đó mới là khả năng hiểu nhạc lý và xướng âm. Nhưng điều quan trọng nhất của một DJ là phải biết lắng nghe, hiểu và cảm nhận được âm thanh và có gu  nhạc sáng tạo cùng khả năng kết nối khéo léo các bản nhạc với nhau. Các bản nhạc phải được sắp xếp một cách hài hòa và tạo nên sự lôi cuốn thông qua việc phối nhạc. Thêm vào đó là tạo được sự hưng phấn và sức lan tỏa của âm nhạc đến người nghe. Nếu DJ biết chơi nhạc cụ, hát hay đọc rap thì càng tuyệt vời hơn.

Ngoài ra, để liên tục cập nhập những bài nhạc hay trên thị trường, DJ luôn phải đầu tư để thay đổi CD thường xuyên và những CD này thường phải mua ở nước ngoài mới đảm bảo chất lượng.

Muốn trụ lại lâu với nghề mỗi DJ phải luôn tự làm mới mình, nghĩa là phải liên tục tìm tòi nghiên cứu tài liệu và học hỏi thường xuyên để nâng cao tay nghề. Mỗi DJ muốn thành danh đều tạo cho mình một phong cách riêng.

 ...St.kynang.edu.vn..............................................................................................

HOA HỌC TRÒ-Trời đất dành riêng tuổi học trò.Một loài hoa đỏ rất nên thơ...

HOA HỌC TRÒ-Trời đất dành riêng tuổi học trò.Một loài hoa đỏ rất nên thơ...
Mỗi năm hoa nở mùa thi đến.Chạnh nhớ trường xưa nhớ bạn bè .Nguyenuthang ..