5 thg 7, 2017

TRÁI TIM EM ĐẬP TRONG LỒNG NGỰC ANH

  • Đây không phải là chuyện tình lâm ly, ướt át, mặc dù câu chuyện có thật và cảm động. Cô gái đã trao trọn trái tim mình cho chàng trai cho dù hai người không hề quen biết nhau. 
  • Cô gái tên Abbey Conner, 20 tuổi. Chàng trai tên Loumonth Jack, 21 tuổi. Abbey đã từ biệt thế gian này để đi về một thế giới khác, thế nhưng trái tim cô mãi mãi thuộc về chàng trai, và chàng sẽ chẳng bao giờ quên được nàng suốt phần đời còn lại.
                   
    Một mình một ngựa 
    Câu chuyện từng được Bill Conner, ông bố của cô gái, kể lại nhiều lần cho nhiều người, những ai từng đọc thấy hàng chữ “Abbey’s Ride for Life” trên tấm biển gắn đàng sau chiếc xe đạp Trek của ông.
    Ông Conner có hai người con, Abbey và anh trai cô là Austin, 23 tuổi. Trong chuyến vacation hơn 5 tháng trước đây, cả hai được tìm thấy nằm bất tỉnh, úp mặt sâu xuống nước trong hồ bơi của một khách sạn ở Cancun, Mexico. Người ta chỉ cứu được Austin, riêng Abbey bị tổn thương não nghiêm trọng. Cô được chuyển tới bệnh viện Broward Health Medical Center ở Fort Lauderdale, Florida. Tại đây, sau những cố gắng một cách tuyệt vọng, các bác sĩ tuyên bố cô đã chết não và đi tới quyết định giải phẫu để lấy nội tạng và các mô sinh học mà cô tự nguyện hiến tặng năm 16 tuổi khi cô mới thi lấy bằng lái xe.
    Cũng trong ngày ông Conner choáng váng nhận được thông báo về quyết định này, cách đó 670 miles đường chim bay, tại Lafayette, Louisiana, bố mẹ của một thanh niên da màu cũng được các bác sĩ ngậm ngùi thông báo về số phận không may của con trai mình. Jack đang nằm chờ chết trên giường bệnh vì chứng suy tim trầm trọng sau hai lần trụy tim. Sự sống chỉ còn đếm được từng ngày trên những đầu ngón tay, ngoại trừ phép lạ.
    Và “phép lạ” đến với anh thật. Trái tim còn tươi rói của Abbey được cấy ghép kịp thời vào trong buồng ngực của Jack. Anh như được tái sinh.
    Một người chết đi cho một người được sống.Trái tim Abbey dọn về nơi cư ngụ mới. Không chỉ trái tim thôi, cô hiến tặng đến bốn nội tạng, giúp cho bốn người trong độ tuổi từ 20 – 60 giành lại được sự sống trong cuộc chiến đấu với tử thần. Cô còn tặng cả đôi mắt đẹp của mình cho người khiếm thị ngắm nhìn được cuộc sống tươi đẹp muôn màu muôn vẻ.
    Trái tim còn đập nghĩa là vẫn còn sự sống. Ông Conner tin chắc như vậy. Abbey, con gái ông, vẫn đang sống ở một nơi nào đó. Bằng mọi giá, ông phải tìm gặp đứa con yêu của mình.
    Ông muốn rời khỏi nhà, tìm đến một nơi nào đó thật xa xôi để mong làm nhẹ bớt nỗi buồn phiền đè nặng trong lòng. Hơn thế nữa, ông còn muốn làm điều gì đó để tôn vinh cuộc sống ngắn ngủi và cao đẹp của con mình.
    “Tôi muốn làm cách nào để mọi người nhận thức được ý nghĩa, sự cần thiết, tầm quan trọng và lòng nhân ái của việc hiến tặng nội tạng mình khi lìa đời.” Conner chia sẻ điều này với những người thân và nảy ra ý tưởng: với chiếc xe đạp Trek của mình, ông sẽ thực hiện chuyến đi suốt chiều dọc nước Mỹ, từ Madison, Wisconsin, quê nhà ông, đến tận Ft. Lauderdale, Florida, nơi ông nhìn mặt con gái mình lần cuối để quảng bá, vận động mọi người hưởng ứng việc làm tốt đẹp này.  
    “Tại sao không?” Conner nói. “Có gì ghê gớm lắm đâu, và chẳng thấm thía gì so với nghĩa cử của con gái tôi. Tôi thực sự mong muốn ngày càng có thêm nhiều người tham gia vào việc hiến tặng nội tạng như Abbey đã làm.”
    Với ý chí mạnh mẽ và tình yêu không bờ bến của ông bố, Conner quyết định thực hiện cho   bằng được việc này. Một mình một ngựa (sắt), ông lên đường ngày 22 tháng Năm, ngay sau ngày dự lễ ra trường của Austin, con trai ông, tại University of Wisconsin-Milwaukee.
    “Tôi tin rằng Abbey cũng muốn tôi làm điều ấy,” ông nói. 
    Tình không biên giới 
    Khi Jack được Louisiana Organ Procurement Agency thông báo về cuộc hành trình “Abbey’s Ride for Life” của ông Conner, anh tìm cách liên lạc với ông và nói rằng gia đình anh rất vui mừng được đón tiếp ông trong chuyến đi miệt mài ấy.   
    Sau bốn tuần lễ rong ruổi, vượt 1.400 dặm đường, ông Conner đã gặp được Jack tại Baton Rouge Louisiana vào đúng ngày Chủ Nhật Father’s Day. Trước mắt ông là chàng thanh niên da màu, vóc dáng thư sinh, tóc tai cắt ngắn, quần áo chỉnh tề. Trông Jack có vẻ hiền lành, dễ mến và ông có cảm giác thật gần gũi như từng quen biết nhau tự bao giờ.
    Cả hai như bị hút vào nhau trong cái ôm dài đến hơn một phút. Nước mắt họ ứa ra.
    Jack lần lượt giới thiệu gia đình mình, ông bà, bố mẹ, anh chị em, những đứa cháu… Hai ông bố, da trắng và da màu, ôm chặt lấy nhau, rưng rưng dòng lệ.
    Da màu, thì đã sao! Ngay lúc này đây, ông Conner và mọi người ở quanh ông không ai nghĩ tới chuyện da trắng, da vàng, da đen, da nâu. Hơn lúc nào hết, chuyện màu da, màu tóc, màu mắt… hoàn toàn chẳng có ý nghĩa gì. Điều thực sự có ý nghĩa là, trái tim Abbey trong lồng ngực Jack đã mang hai gia đình xa lạ lại gần với nhau. 
    Đấy không phải là tính cách của Abbey đó sao? Conner còn nhớ, cô bé từng kể ông nghe một cảnh trong cuốn phim mà cô xem đến hai lần, “To Sir, with Love”. Ông thầy giáo bị đứt tay và cô nữ sinh tỏ vẻ ngạc nhiên khi nhìn thấy máu của ông thầy da đen cũng màu đỏ tươi giống như máu cô vậy.”
    Trái tim Abbey và hình hài Jack cũng thế thôi, cũng cùng chung dòng máu.
    “Happy Father’s Day!” Jack mỉm cười bước đến bên ông, trên tay cầm gói quà.
    Conner đón lấy, mở ra. Một chiếc stethoscope –ống nghe của bác sĩ. Ông thoáng ngạc nhiên nhưng rồi hiểu ra.
    “Cám ơn cháu. Cái này hay đấy.”
    “Với cái này,” Jack nói, “Bác sẽ nghe rõ tiếng đập của con tim cô ấy.” 
                           Tặng ống nghe
    Conner lặng người đi mấy giây. Ông bật ra một tiếng nấc không giấu được, đưa cườm tay quệt ngấn nước mắt. Jack cởi tung nút áo để lộ vết sẹo dài chạy dọc trước ngực. Conner gắn ống nghe vào hai tai, áp đầu dây bên kia vào ngực Jack, đúng chỗ trái tim cậu. Không, trái tim con gái ông. Ông nhắm mắt lại, chăm chú lắng nghe… Lát sau, ông gỡ ống nghe, lặng im vài giây như cố trấn tĩnh, rồi buột miệng:
    “Well, it’s working.”
    “Oh yeah, definitely!” Jack đáp.
    Không chỉ nghe rõ nhịp đập đều đều của trái tim, Conner còn nghe được cả tiếng thì thầm quen thuộc của Abbey, “Bố đến thăm con đấy phải không? Con vẫn ổn mà, Bố đừng lo cho con. Chỗ này, buồng ngực của Jack đấy, tốt lắm Bố à. Bố con mình vẫn gần nhau mà, phải không?”
    Ông đã bao lần ôm chặt con mình vào lòng, bao lần nghe hơi thở con, nhịp tim con đập rộn ràng như thế này. Ông đã bao lần ôm ấp đứa con yêu, từ thuở cô còn bé bỏng, từ thuở mẹ cô còn sống, và cả những lần hai bố con xa nhau rồi gần nhau như thế này.
    Conner cúi đầu thật sâu, hai mắt nhắm nghiền, nước mắt lại muốn ứa ra. “Đúng thế Abbey,” ông cũng thì thầm. “Bố đến thăm con đây. Bố đến thăm con để xem con đã ‘sống’ như thế nào kể từ ngày xa Bố. Sau cùng thì bố con mình đã gặp được nhau, phải không, ‘baby girl’ của Bố?” 
                      Nghe tim con gái đập
    “Baby girl”, ông Conner nhớ từng gọi con bé như vậy.
    “Cám ơn cháu,” ông ngước lên, mỉm cười với Jack.
    “Thật là một phép lạ,” Jack nói. “Abbey giống như là bà tiên có phép mầu trong chuyện cổ tích. Cháu đã chết đi, rồi được sống lại. Cháu mang ơn cô ấy nhưng không có cách nào để trả ơn.”
    “Đừng nghĩ đến chuyện đền ơn đáp nghĩa,” ông Conner mỉm cười với chàng trai. “Cách trả ơn tốt nhất là hãy sống tốt. Đơn giản là vậy. Sống như Abbey vậy, giúp đỡ người khác và mang niềm vui đến cho mọi người.”
    “Cháu hiểu,” Jack nói nhỏ. “Cháu còn phải cám ơn Bác nữa.”
    “Bác phải cám ơn cháu chứ,” Conner lại mỉm cười. “Nhờ có cháu mà Bác được gặp lại Abbey. Bác thật hạnh phúc.”
    Conner ngắm nhìn chàng trai trạc tuổi con ông. Ông nhìn xuống chiếc ống nghe vẫn cầm trên tay, món quà đặc biệt Jack tặng cho ông. Trong đời mình, quả là ông chưa bao giờ nhận được quà tặng Father’s Day nào ý nghĩa hơn thế.
    Nhờ có Jack, ông Conner biết được rằng trái tim con gái ông chưa có phút giây nào ngừng đập, có điều trái tim ấy đã dọn sang hình hài khác. Abbey đã cho không trái tim quý giá của mình. Cô đã cho không, không điều kiện, không có bất cứ sự lựa chọn nào. Dẫu cho hình hài ấy, da dẻ kia có như thế nào thì trái tim cô vẫn rộn ràng những nhịp đập yêu thương.
    Tình yêu cô gửi vào trái tim là tình không biên giới. 
    *
                       Abbey's -  Ride for Life
    Abbey lìa xa bố khi tuổi cô vừa tròn đôi mươi, tuổi tươi đẹp nhất của một đời người. Trái tim cô đang tràn đầy nhựa sống, tràn đầy ước mơ. Cô khao khát sống và thiết tha yêu đời. Cô theo đuổi ngành học Public Relations tại trường University of Wisconsin-Whitewater với ước mong có cơ hội mở rộng giao tiếp với nhiều người và cũng giúp được nhiều người.
    Với Conner, con gái ông vẫn đang sống; hơn thế nữa, cô thực hiện được điều ước muốn là làm đẹp cho cuộc sống. Còn gì hơn thế nữa.
    Với Jack, anh bắt đầu lại cuộc sống. Anh yêu cuộc sống hơn bao giờ. Jack sẽ trở lại trường học, sẽ nối lại những giấc mơ còn dở dang vì phải bỏ dở chuyện học hành. Anh sẽ đi tiếp con đường Abbey đã đi; hay nói một cách nào đó, anh đi theo tiếng gọi của con tim nồng ấm đang nằm gọn trong lồng ngực anh.
    Chia tay gia đình Jack, ông Conner lần lượt ôm hôn từng người một trong gia đình anh. Sau cùng, ông lại ôm chặt lấy Jack, gục đầu lên vai anh, ngỡ như đang ôm ấp đứa con yêu quý của mình.
    Và rồi Conner lại leo lên lưng chiếc xe đạp, lại tiếp tục lên đường. Ông phải đi cho hết cuộc hành trình. Lần này, ông có thêm bạn đồng hành là băng ghi âm tiếng nhịp đập con tim của Abbey mà gia đình Jack gửi tặng ông. Conner như được tiếp sức, ông cảm thấy sung sức hơn bao giờ.
    Conner dự kiến ngày 10 tháng Bảy tới đây sẽ chạm “mức đến”, Broward Health Medical Center tại Ft. Lauderdale, Florida, là nơi Abbey đã được các bác sĩ giải phẫu lấy nội tạng. Nơi đây, ông sẽ thực hiện nốt việc sau cùng là rải tro con mình xuống lòng biển khơi, như một dấu chấm hết cho cuộc hành trình dài mãi đến 2.600 dặm trường.
    Abbey yêu biển, cô sẽ về lại với thiên đường “biển xanh, cát trắng, nắng vàng” của Florida.
    Trả lời các phóng viên báo chí về cuộc “hành trình đơn độc” trên lưng con ngựa sắt, ông Conner nói, “Tôi không hề đơn độc. Lúc nào Abbey cũng ở cạnh tôi. Một khi bạn làm điều gì có ý nghĩa, bạn sẽ không cảm thấy đơn độc.”
    Conner tin tưởng một cách mạnh mẽ sẽ có nhiều người cùng đồng hành với ông. Trong lá thư ngỏ gửi cho báo chí kể về cuộc hành trình “Abbey’s Ride for Life” dọc nước Mỹ nhằm vận động việc ghi danh online để trở thành người hiến tặng nội tạng, có đoạn ông viết:
    “Thật là ích kỷ khi bạn nhất định chôn theo bạn những gì có thể cứu vớt được mạng sống con người. Bạn không mất gì cả trong lúc mang được hạnh phúc đến cho những kẻ xấu số. Vậy tại sao bạn lại từ chối hay ngần ngại? Sớm muộn gì thì bạn và tôi cũng phải chết mà, làm sao tránh khỏi được. Vậy tại sao không làm cho cái chết của mình không vô nghĩa và phí phạm?”
    “Nếu bạn muốn để lại một di sản,” ông viết ở một đoạn khác, “không có di sản nào quý giá hơn là giúp cho người khác được tiếp tục sống, một cuộc sống ý nghĩa.”
    Phần tôi, rất lấy làm “tâm đắc” đoạn cuối lá thư của ông Conner:
    “Bạn vẫn đến nhà thờ, nhà nguyện để cầu nguyện sau khi chết sẽ được lên thiên đường, phải không? Vậy tại sao bạn không làm việc đó? Lời nguyện cầu của bạn sẽ sớm được cứu xét.  Hãy trao tặng cho người khác những gì thượng đế đã ban tặng cho bạn. Đấy là lẽ công bằng. Bạn đâu cần phải mang theo tất cả, một khi thân xác bạn nhẹ nhàng thì bạn cũng dễ… bay lên tới thiên đường.” 
    Lê Hữu
    _(Viết phỏng theo bản tin CBS News)*
    _ Photo by Caroline Ourso- 
    _ Video liên quan 
    • Moving moment Dad hears daughter's donated heart beat again:
    __._,_.___


4 thg 7, 2017

NHỮNG VIÊN NGỌC QUÝ TRONG TÌNH YÊU MUÔN THUỞ


Tự truyện của Nguyễn Thế Tân
Kính dâng hương hồn ông Đỗ Hữu Ban và bà Nguyễn Thị Biểu
Cha mẹ nuôi của tôi với lòng biết ơn vô hạn
***
Trồng trầu thì phải khai mương
Làm trai hai vợ phải thương cho đồng
Năm 1965, lúc đó tôi còn là một thanh niên độc thân mới 23 tuổi. Trên bước đường lập nghiệp, từ Bình Thuận tôi đã phiêu bạt vào tận tỉnh Định Tường miền Nam (nay là tỉnh Tiền Giang). Tại đây tôi được một gia đình tử tế cho ở trọ rồi sau đó được nhận làm con nuôi .Tưởng như thế cuộc đời tôi đã là hạnh phúc lắm rồi, nhưng số phần tôi còn may mắn hơn nữa khi tôi được ông bà chủ nhà thuận gả cháu gái cho mình .
Vợ tôi là một thiếu nữ miền quê chất phác, da trắng, dễ thương. Chúng tôi sống thủy chung hạnh phúc trong một gia đình hạnh phúc cho đến ngày hôm nay đã 52 năm bên cạnh 2 con trai, 2 con gái và các cháu nội ngoại dễ thương.
Cha nuôi tôi là người miền Bắc ,quê ở vùng ngoại ô Hà Nội.Thân hình ông mảnh mai, cao ráo, vầng trán rộng, đôi mắt sáng,gương mặt hiền lành phúc hậu. Những năm sau này dù ở tuổi cổ lai hy nhưng cha nuôi tôi vẫn không nghỉ ngơi, hàng ngày ông gắn bó với chiếc xe đạp để đi chợ và giao tiếp với bà con xa gần. Trong cuộc sống cha nuôi tôi dù vô Nam bộ đã lâu nhưng ông vẫn mang trong mình phẩm chất, nhân cách thanh cao của người Bắc xưa cũ gốc Hà Nội ,miền đất kinh kỳ ngàn năm văn hiến.
 Trước năm 1954, cha tôi vốn là một đầu bếp phục vụ cửa hàng ăn uống trên toa căng tin tàu hoả xuyên Việt Bắc - Nam.Sau ngày 20/7/1954, đất nước bị chia cắt làm hai , cha tôi bị kẹt lại ở miền Nam với nỗi buồn tha hương vô tận và nỗi đau khôn xiết vì phải bỏ lại đất Bắc, một người vợ trẻ và đứa con trai còn thơ dại.
Ở Sài gòn, cha nuôi tôi phải từng bước phấn đấu để thích hợp với cuộc sống mới, phải tự xoay trở nhiều nghề để tìm kế sinh nhai. May thay, cha nuôi tôi gặp được một người con gái miền Tây khá xinh, cũng từ bỏ quê hương lên Sài Gòn lập nghiệp. Hai người đồng cảnh ngộ dễ cảm thông nên đã quyết tâm cùng nhau nên duyên chồng vợ. Mối lương duyên tiến hành thuận lợi và cả hai người đã chung sống hoà hợp hạnh phúc, yêu thương nhau hết mực .
Sau vài năm lưu lạc ở Sài Gòn,thấy cuộc sống ở đây không thích hợp vì suốt ngày phải lao động cật lực, bon chen vất vả quá, cha mẹ nuôi tôi quyết định hồi hương trở lại quê mẹ nuôi tôi ở Tiền Giang để mưu cầu một cuộc sống lâu dài ổn định hơn.
Nhờ dành dụm tiết kiệm khi còn sống ở Sài Gòn nên cha mẹ nuôi đã tích lũy được một số tiền khá lớn đủ để mua đất và xây dựng một căn nhà rộng rãi, khang trang nằm ngay mặt đường đông đúc người qua lại tại Thị trấn Cai Lậy, tỉnh Định tường để buôn bán và cho thuê phòng trọ.
Khi về quê nhà, cuộc sống vật chất của cha mẹ nuôi tôi đã ổn định nhưng vì hai người không có con nên hai người quyết định xin một đứa con trai nuôi cho ấm cửa, vui nhà. Sau này cũng nhờ tình thương bao la nhân ái của ông bà và phước phần của tôi, ngôi nhà từ khi có thêm tôi được nhận vào càng trở nên ấm êm hạnh phúc và cuộc sống êm ả nối tiếp.Đây là những năm tháng hạnh phúc của đời tôi.
Sau ngày 30/4/1975, nước nhà thống nhất , cha nuôi tôi từ miền Nam trở ra Hà Nội mong gặp được người vợ cả và con trai cùng họ hàng sau những năm dài xa cách.
Thật may mắn khi về quê xưa, cha nuôi tôi đoàn tụ lại được với gia đình mình . Hạnh phúc dâng trào đến nghẹn ngào khi ông biết được tấm lòng người vợ cả năm xưa : sau bao năm xa cách vẫn chờ chồng son sắt ,vẫn ở vậy nuôi con. Đứa con thơ bé nhỏ ngày xưa, nay đã có gia đình, có cuộc sống hạnh phúc bên đàn con…
Sau nhiều năm xa cách do chiến tranh gây ra,cha nuôi tôi rất hồ hởi,vui mừng khi được sum họp với những người thân yêu những tưởng không còn gặp lại .Người rất hạnh phúc nhìn khung cảnh họ đang chung sống hạnh phúc ấm cúng như thế này.
Niềm vui này chưa được tận hưởng bao lâu thì nỗi buồn lại đến với cha nuôi tôi.Ông nhận được hung tin mẹ nuôi tôi ở miền Nam bất ngờ lâm trọng bệnh, đang ngày đêm chịu đựng đau đớn chống đỡ với tử thần.
Một đêm dài thức trắng trăn trở, cha nuôi tôi suy nghĩ phải giải quyết làm sao cho trọn vẹn nghĩa tình.Lúc bấy giờ cha nuôi tôi bị đặt vào trong hoàn cảnh rất khó xử. Cha nuôi tôi chỉ có một trái tim yêu thương, nhưng phải chia sẻ cho hai người vợ. Một người ở Bắc, một người ở trong Nam. Không dễ giải quyết vì hai bà vợ này đều rất thủy chung và hết mực yêu thương cha nuôi tôi.
Người vợ cả đầu đời đã sống với cha nuôi tôi tuy ngắn ngủi 4 năm, nhưng lại có một đứa con trai, bà đã đợi chồng trong suốt cuộc chiến tranh như người chinh phụ bồng con chờ chồng, hằng đêm hướng về miền Nam nhìn sao trời cầu nguyện ngày đoàn tụ.
Người vợ thứ hai, khi cha nuôi tôi cô độc tha phương cầu thực ở tận miền Nam, bà đã cùng ông kết tóc se tơ, chia sẻ đắng cay ngọt bùi với ông trong một thời gian rất dài và đã tạo dựng được một tài sản. Ngoài ngôi nhà ở thị trấn Cai Lậy, một thời gian sau hai người đã tạo dựng thêm được một ngôi nhà khang trang, nằm giữa một mảnh vườn trồng cây ăn trái gần 1 hecta cùng với 5 sào ruộng. Đặc biệt nhất là trong nhà để hai chiếc áo quan để hai người lo hậu sự sau này không làm phiền con cháu, và phía vườn cây sau nhà có xây hai kim tĩnh kề nhau để sau này cùng nằm bên nhau an giấc ngàn thu.
Sau khi ở Hà Nội vào, vì mẹ nuôi tôi bị bệnh mãn tính, nên suốt 12 năm cha nuôi tôi đã nuôi bà và bà đã mất vào tháng 4 năm 1990. Đám tang mẹ nuôi tôi được tổ chức rất long trọng và chu đáo, con cháu họ hàng tề tựu rất đông, ai nấy đều ngậm ngùi thương tiếc.
Cha nuôi tôi ở lại đây thêm 2 năm nữa cho đến lúc mãn tang mẹ nuôi tôi và làm đám giỗ rất tươm tất trước khi về lại Hà Nội.
Lúc đi ngậm ngùi thương tiếc mẹ nuôi tôi. Người đã giao hết nhà cửa, ruộng vườn lại cho người con nuôi nhỏ là em tôi thờ tự và chỉ mang theo một túi hành trang nhỏ gồm 3 bộ quần áo cũ cùng với một số tiền ít ỏi đủ tiền xe để về Hà Nội.
Chúng tôi tiễn người đi với sự thương nhớ bùi ngùi. Nhìn cha nuôi long đau đáu ra đi,tôi chợt gợi nhớ lại 4 câu thơ của thi sĩ nước ngoài nào đó:
"Đi là chết ở trong lòng một ít
Chết ở những gì mà người ta đã yêu
Người ta để lại một chút ít của lòng mình
Ở mỗi giờ và khắp tất cả mọi nơi".

Trả nghĩa xong với người vợ chung tình ở miền Nam, cha nuôi tôi về sống với vợ cả, với bà con xóm làng đất Bắc cho đến ngày người vợ nhắm mắt.Không bao lâu sau đó ông cũng ra đi theo người vợ cả của mình .
Theo kể lại, lúc mất trên gương mặt già nua của cha nuôi tôi hiện rõ đôi mắt ngấn lệ có lẽ người tiếc thương người vợ ở miền Nam. Cha nuôi tôi đã gửi được nắm xương tàn của mình ở nơi chôn nhau cắt rốn để cùng nằm chung với người vợ cả của mình .
Trong khi đó ở miền Nam một chiếc quan tài mẹ nuôi đã nằm nghỉ, chiếc còn lại đến nay anh em chúng tôi vẫn còn giữ, được đặt bên trong một cái chái nhỏ để ngay hông nhà lưu niệm. Anh em chúng tôi buồn khi cha nuôi tôi không nằm trong áo quan này để mẹ nuôi tôi phải nằm cô lẻ một mình với gió sương. Hoài bão của mẹ nuôi tôi mong ước lúc sống đồng tịch đồng sàng, khi chết phải được nằm cạnh nhau đã không thực hiện được. Cầm bút viết đến đây,nỗi xúc cảm khiến tôi rưng rưng nước mắt.
Với lòng kính trọng thương yêu vô hạn, tôi viết những dòng trên đây để chân thành tưởng nhớ đến cha mẹ nuôi của tôi,những viên ngọc quý, tỏa sáng lung linh trong tình yêu muôn thuở đáng tôn vinh và trân quý của tôi trên cõi đời này.
Hà Nội, ngày 02 tháng 7 năm 2017
Thân tặng em nuôi Nguyễn Văn Nhẫn
Cùng toàn thể bạn bè trân quý trên Facebook



Bài viết này có thể xem trên Facebook :
https://www.facebook.com/TheTan1944

30 thg 6, 2017

UNG THƯ CÓ THỂ CHỮA TRỊ




Từ nhiều năm nay, Linh mục Romano Zago, người Ba Tây (Brazil), rất nổi tiếng vì đã chữa rất nhiều người khỏi bệnh ung thư, mặc dầu Linh mục không phải là Bác sĩ, cũng không phải là Thầy Phép.
Linh mục Romano Zago (SN 1932, tại tỉnh Lajeado, Brazil) và được chỉ định làm mục vụ tại Thánh địa Bethalem. Từ nhiều năm nay, Linh mục Romano Zago rất nổi tiếng vì đã chữa rất nhiều người khỏi bệnh ung thư, mặc dù ông không phải là bác sĩ, cũng không phải là thầy pháp.



Công thức kỳ diệu để điều trị nhiều bệnh ung thư này đã được ông ghi rõ vào cuốn sách “From the air you can recover” với mong muốn truyền công thức này đi cho mọi người tên toàn thế giới. Thật kì lạ và khó tin nhưng hỗn hợp chỉ có 3 loại nguyên liệu là nha đam, mật ong và rượu đã giúp hàng ngàn người chiến đấu thành công với căn bệnh ung thư đường ruột, cổ họng, trực tràng, ung thư gan, vú, tuyến tuyền liệt…
Công thức đơn giản gồm:
- Hai lá lớn hoặc ba lá nhỏ cây lô hội (chừng 1kg).
- Nửa cân mật ong và 3 hay 4 muỗng canh rượu trắng mạnh.
Cách làm:
Rửa sạch lô hội, gọt bỏ hai hàng gai 2 bên và cắt thành từng lát mỏng mà không cần gọt lớp vỏ xanh. Sau đó cho cả 3 nguyên liệu trên vào máy xay sinh tố xay nhuyễn ra thành một loại xi rô.
Hỗn hợp sau khi xay nhuyễn xong, đổ vào chai thủy tinh có miệng lớn. Sau vài giờ nước bọt của lô hội lắng xuống, đem cất vào tủ lạnh. Vậy là ta đã có vũ khí để tiêu diệt tế bào ung thư rồi. Trước khi dùng phải lắc khuấy đều lên, ngày uống ba lần, mỗi lần một muỗng canh (khoảng 20ml), và phải uống trước các bữa ăn từ 15 đến 20 phút (nghĩa là uống khi bụng còn đói) mới công hiệu. Trong quá trình uống hỗn hợp trên nên hạn chế ăn các loại thức ăn chứa chất béo, sữa, sản phẩm từ sữa, đồ ăn ngọt...
Thay vào đó, hãy bổ sung thật nhiều rau xanh, trái cây tươi, gừng, hành tây...vào thực đơn hàng ngày. Người khỏe mạnh và để ngăn ngừa bệnh ung thư, nên uống mỗi năm một lần với một loạt trị liệu 10 ngày như cách chỉ dẫn ở trên.
http://tamsugiadinh.vn/upload/fckeditor/image/benh-thuoc/10-11-2015/lo-hoi-nha-dam-mat-ong-chua-ung-thu-3.jpg
Cuốn Ung thư có thể chữa được của Linh mục Romano Zago.

Linh mục Zago nói, ông đã học được của người dân nghèo Brazil cách sử dụng nhiều loại cây cỏ để chữa bệnh. Mật ong là một vị thuốc hữu hiệu giúp tăng sức đề kháng cho cơ thể, phòng chống nhiễm trùng. Rượu mạnh làm cho mạch máu nở lớn để cho mật ong pha lẫn với xi rô lô hội dẫn tới mọi tế bào trong lục phủ ngũ tạng của cơ thể, vừa nuôi dưỡng tế bào, vừa chữa lành mọi vết thương và vừa lọc máu.
Bình thường việc chữa bệnh kéo dài khoảng 10 ngày. Uống trên 10 ngày nên đi khám bệnh lại để xem bệnh tình ra sao, và so sánh kết quả trước và sau khi điều trị.
Nếu cần thì uống tiếp thêm 10, 20 hoặc 30 ngày nữa cho tới khi hoàn toàn khỏi bệnh. Bình thường bệnh nhân sẽ cảm thấy khá ngay sau đó. Vì thuốc cây lô hội này trị được tất cả mọi bệnh ung thư như: ung thư da, ung thư cổ họng, ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư óc, ung thư bao tủ, ung thư ruột và cả ung thư máu nữa…
 http://tamsugiadinh.vn/upload/fckeditor/image/benh-thuoc/10-11-2015/lo-hoi-nha-dam-mat-ong-chua-ung-thu-7.jpg
Mật ong có tác dụng tăng đề kháng cho cơ thể, phòng nhiễm trùng.

Linh mục Zago cho biết, lô hội có tất cả trên 300 loại nhưng loại dùng để chữa bệnh tốt nhất là cây lô hội có lá hình thon, vỏ mầu xanh lá cây tươi và có đốm trắng (không nên dùng loại lá có màu xám và đốm trắng), hai bên có gai nhọn nhưng rất mềm, lá dài trung bình từ 30 đến 50cm, chiều cao 60 đến 90cm, bên trong là chất thạch trắng. Lô hội là loại thực vật chứa chất oxy mạnh, có đến 40% chất chống ung thư và hơn 200% các loại dược liệu so với các loại cây khác.
Ngoài ra lô hội còn có hiệu năng để chữa chứng rụng tóc:
Lấy chất nhờn của lá lô hội thoa lên đầu, cứ hai ngày thoa một lần nơi vùng tóc bị rụng, để cho nhựa khô lối hai hoặc ba giờ đồng hồ rồi mới gội đầu cho sạch. Phải áp dụng từ 6 tháng trở lên tóc mới mọc trở lại khá rậm rạp.

http://tamsugiadinh.vn/upload/fckeditor/image/benh-thuoc/10-11-2015/lo-hoi-nha-dam-mat-ong-chua-ung-thu-5.jpg
Lô hội là loại thực vật chứa chất oxy mạnh, có đến 40% chất chống ung thư.

Cây lô hội còn có công dụng khác như cầm máu, phỏng da, mụn ngứa, mụn sừng trâu. Ví dụ chỗ phỏng da bị rát, lấy một miếng lô hội cắt đôi đắp lên chỗ phỏng, lấy băng keo dán lại, qua đêm sẽ hết đau. Về mụn thì phải đắp bốn năm ngày liên tiếp mới có kết quả. Ngoài ra nó còn trị được bệnh nhức đầu và bệnh đau bụng ngâm ngẩm cũng uống cách thức như áp dụng để chữa bệnh ung thư cũng có kết quả hữu hiệu.
Với công thức đơn giản mà kỳ diệu để đánh bật tế bào ung thư này, Linh mục Romano Zago đã chữa thành công cho rất nhiều bệnh nhân như trường hợp của Thư ký của trường Thánh địa Bethelem bị ung thư cổ họng. Chỉ 2 tháng sau khi dùng xi rô lô hội do Linh mục Zago làm, ông Thư ký đã khỏi bệnh, nói được và làm việc bình thường trở lại.
Hay như trường hợp của chú bé Geraldito người Argentina chỉ mới 5 tuổi đã mắc bệnh ung thư máu. Đây là ca chữa bệnh cảm động nhất mà Linh mục Romano Zago còn nhớ cho tới tận giờ. Sau khi tìm đủ cách chữa trị cho Geraldito mà không hiệu quả, cha mẹ em đưa em sang thăm Thánh địa Bethelem để cầu xin Chúa Giê Xu Cứu Thế, biết đâu hy vọng Chúa sẽ thương xót mà chữa lành bệnh cho đứa con yêu.
http://tamsugiadinh.vn/upload/fckeditor/image/benh-thuoc/10-11-2015/lo-hoi-nha-dam-mat-ong-chua-ung-thu-6.jpg
Bằng xi rô lô hội, Linh mục Zago đã chữa nhiều ca ung thư thành công.

Tại đây song thân em tình cờ gặp Linh mục Romano Zago. Linh mục đề nghị cha mẹ của em sử dụng thử phương thuốc chữa bệnh của Linh mục trong vòng hai tháng. Rất may là bé Geraldito hợp tác, ngoan ngoãn uống xi rô lô hội do Linh mục Romano xay cho.
Nhưng vào trước khi tháng thứ hai chấm dứt, các bác sĩ chữa trị cho biết em đã hoàn toàn khỏi bệnh ung thư máu. Chính Linh mục Romano Zago đã kể lại các vụ chữa bệnh công hiệu trên đây cho nguyệt san Thánh Địa để cho mọi người biết rằng có thể chữa khỏi bệnh ung thư với các chất liệu đơn sơ mà tạo hóa đã dựng nên trong thiên nhiên để ban bố cứu giúp con người.
Công thức từ lô hội và mật ong chữa ung thư:
- Thành phần:
Lô hội (hay nha đam, chừng 1kg), 0.5kg mật ong, 3-4 muỗng canh rượu mạnh (1 muỗng canh khoảng 20ml).
- Cách làm:
Rửa sạch lô hội, bỏ gai thái mỏng. Xay nhuyễn lô hội cùng mật ong và rượu. Sau đó để tủ lạnh dùng trong khoảng 10 ngày.
- Cách dùng:
Uống trước bữa ăn 30 phút, ngày 3 lần, mỗi lần 1 muỗng canh (khoảng 20ml). Uống 10 ngày, nghỉ 5 ngày trước khi bắt dầu liệu trình mới./.

25 thg 6, 2017

THỞ VÀ THIỀN


                                                                           
Inline image 1


         Một hôm, nhạc sĩ Dương Thụ mời tôi đến Cà phê Thứ 7 của anh trò chuyện một bữa cho vui. Được thôi. Tôi vẫn thỉnh thoảng đến chỗ anh để uống cà phê và nghe chuyện trò mà. Đề tài gì? Thiền và sức khỏe. Vấn đề đang rất được giới trí thức quan tâm. Căn phòng nhỏ xíu, nhưng trang nhã, ấm cúng. Một chỗ chơi nhạc thính phòng, họp mặt bạn bè kiểu salon thế kỷ 18- chỉ thiếu một nữ bá tước- để chuyện trò thân mật, cách biệt với ồn ào nhộn nhịp ngoài kia.
          Đã thấy có các nhà văn, nhà báo, nhà giáo, học giả, nhà vật lý, kiến trúc sư, luật gia… và khá nhiều bạn trẻ. Cũng như mọi lần, câu hỏi đặt ra là vì sao bệnh viện mở ra ngày càng nhiều mà lúc nào cũng “quá tải”? Vì sao con người bây giờ tiện nghi dồi dào mà đau ốm triền miên? Vì sao bệnh nhiễm gia tăng trở lại và bệnh do hành vi lối sống ngày một phát triển trong khi khoa học y học tiến như vũ bão? Rõ ràng sức khỏe không phải là chuyện của y tế. Y tế chỉ làm mỗi việc “cứu tế về y khoa” khi ta đau ốm quặt quẹo. Sức khỏe lại là chuyện của mỗi người, của mọi người. Khi melamine ở trong sữa, kích thích tố sinh dục ở trong thịt, thuốc trừ sâu ở trong rau… thì bác sĩ làm sao? Khi bụi khói đầy đường, tiếng ồn đinh tai nhức óc thì bác sĩ làm sao? Tại sao nhiều diễn viên tài tử gìàu có xinh đẹp bỗng một hôm thắt cổ hoặc uống thuốc độc tự tử? Tại sau lâu lâu một tỷ phú đại gia nhảy lầu? Thì ra đời sống càng tiện nghi, nhu cầu vật chất càng được thõa mãn thì con người càng xa lạ với tự nhiên, với chính mình. Stress chính là nguyên nhân sâu xa của 60-90% bệnh lý đưa người ta đến bác sĩ. Mà bác sĩ thì chữa được cái đau chứ không chữa được cái khổ, chữa được cái bệnh, chứ không chữa được cái hoạn. Cho nên cứ xà quần như vậy. Có cách nào không?
        Có. Thiền. Thiền có thể góp phần giải quyết căn cơ. Thiền giúp ta biết “dừng lại”, thôi đi. Thiền giúp ta nhận ra những “điên đảo mộng tưởng”. Nhưng thiền là gì? Cách nào? Hãy bắt đầu từ việc đơn giản nhất mà cốt lõi nhất. Đó là Thở. Thở bụng. Ô hay, thở phải bằng ngực chứ, phổi nằm ở ngực kia mà? Phổi nằm ở ngực, nhưng thở nằm ở bụng. Cứ nhìn một em bé đang ngủ say mà xem? Cứ nhìn một người bình thường đang ngủ yên mà xem? Chỉ có cái bụng là phình lên xẹp xuống, còn cái ngực thì… im re. Thật vậy, khi cái ngực mà khò khè, mà cò cử thì nó đã bị bệnh rồi, đã suyễn hoặc viêm phổi tắt nghẽn mạn tính rồi. Nói khác đi, cách thở sinh lý, thở thiên nhiên, thở bình thường chính là thở bụng. Người khỏe thì luôn thở bụng nên thở bụng làm cho ta khỏe. Chỉ có vậy. “Bí quyết” nằm ở chỗ đơn giản nhất đó. Các phương pháp khí công, dưỡng sinh, yoga, thiền… đều bắt đầu bằng tập thở bụng. Tại sao phải tập? Bởi không biết tự lúc nào con người lại xa rời cái nguồn gốc tự nhiên của mình, bày ra trò thở ngực, cũng như thay vì ăn những thức ăn lành mạnh sẵn có trong thiên nhiên thì con người chế biến đủ kiểu cho nó hư đi. Do vậy, thở phải được rèn tập trở lại. Về sinh lý, cơ hô hấp chính của ta là cơ hoành, vắt ngang giữa bụng và ngực chớ không phải cơ gian sườn hay cơ cổ. Khi các cơ gian sườn, cơ cổ mà ráng sức phì phò thì đã bệnh rồi. Nhắc lại phương pháp thở bụng của Nguyễn Khắc Viện, của Dean Ornish, của Deepak Chopra và cả kinh nghiệm bản thân. Phương pháp đơn giản, không tốn kém này hiện nay ngày càng được phổ biến ở các Trung tâm y khoa lớn trên thế giới đễ chữa stress, căn nguyên các bệnh dịch không lây như tim mạch, huyết áp, tiểu đường, gout…

thien-thovao
thien-thora

          Nhưng, thiền không dừng ở đó. Sau thở bụng, bước tiếp theo là “dõi theo” và “suy tưởng” về cái hơi thở đó. Nó vào nó ra nó lên nó xuống nó phồng nó xẹp. “Dõi theo” khác với “theo dõi”. Theo dõi mệt lắm. Dõi theo thì ung dung hơn. Cứ thả cho nó sao thì sao, chỉ cần dõi theo và ghi nhận, không bình luận, không phê phán. Trí thức vốn hay bình luận, hay phê phán… nên trí thức thường thất bại trong thiền. Một người hàng thịt buông dao thành Phật. Trí thức còn lâu! Nhưng trí thức lại có cái hay của nó. Nó không dễ tin. Nó ngờ. Nhưng, đại nghi đại ngộ. Càng nghi càng ngộ. Hơn hai ngàn năm trăm năm trước, một nhà minh triết – Dức Phật- bảo đừng vội tin tôi, cứ đến nếm thử đi rồi biết. Đến và nếm thử. Đến là thực hành. Làm đi, đừng nói nữa. Vụ này nói không được, “bất khả thuyết”! Nếm thử là cảm nhận. Phải tự mình cảm nhận, tự mình thể nghiệm để riêng mình cảm nhận, không thể nhờ ai khác. Thở mà cũng phải nhờ người khác thở giùm hay sao? Tôi ngạc nhiên thấy các ông thầy dạy “thở” bắt người ta làm theo ý mình. Làm theo sao được! Mỗi người có cái sinh lý, thể chất, tâm lý riêng của mình chứ. Nắm lấy nguyên tắc thôi, rồi thực hành theo kiểu của mình. Bắt chước người khác, tẩu hỏa nhập ma như chơi! Họa sĩ Hoàng Lập Ngôn có lần nói với tôi là ông đi máy bay từ Hà Nội vào Saigon chỉ thở 60 lần là tới nơi, nghĩa là mỗi hơi thở của ông dài 2 phút. Máy bay bay 2 giờ, ông thở 60 lần. Còn ta, bắt chước ông sao được. Ông có cái sinh lý của ông, lại rèn tập từ thuở nhỏ.
           Cái hay thứ hai của trí thức là “suy tưởng”. Thiền cần suy tưởng. Không phải suy tưởng chuyện tranh bá đồ vương, gồm thâu lục quốc, nhất thống giang hồ, muôn năm trường trị gì đâu! Trước hết là suy tưởng về cái hơi thở đang vào đang ra kia! Tưởng nó là của ta mà chẳng phải của ta. Tưởng nó ở trong ta mà hóa ra ở ngoài ta. Tưởng ta điều khiển nó mà thật ra nó cóc cần ta. Lợi ích bất ngờ là sự dõi theo và suy tưởng “hồn nhiên” đó ai dè giúp ta cắt đứt dòng “tâm viên ý mã” linh tinh khác, gom thân tâm ta về một mối là hơi thở của chính mình, ở đây và bây giờ, dứt bặt những âu lo phiền muộn. Nói khác đi, nó làm ta được “thảnh thơi”, nó giải stress, nghĩa là mang lại sức khỏe, an lạc, hạnh phúc.
       Thiền có thể làm ta được thảnh thơi, giải stress, mang lại sức khỏe, an lạc, hạnh phúc ư? Tin được không? Có cơ sở khoa học nào không? Trí thức sẽ hỏi. Đâu dễ tin. Và câu trả lời là có. It ra là về mặt sinh học. Thở chẳng phải trước hết là chuyện sinh học ư? Ta cần lấy Oxy từ bầu khí quyên đưa vào phổi, rồi máu mang Oxy đó đến từng tế bào trong cơ thể để tạo ra nặng lương cho sự sinh tồn và hoạt động của ta. Một người chạy đua 100m phải nín thở để chạy, đến nơi anh ta thở hào hễn vì phải trả “nợ Oxy” đã vay mượn trong lúc nín thở. Cơ thể ta lúc nào cũng ở trong tình trạng căng cứng để đi đứng nằm ngồi. Các cơ bắp luôn luôn co duỗi để giữ cho ta có một tư thế theo ý muốn. Sự căng cứng cơ bắp (tonus musculaire) đó tiêu thụ khoảng 40% năng lượng. Nếu có cách nào làm giảm sự căng cứng cơ ta sẽ tích lũy năng lượng đáng kể, cơ thể nhờ đó mà đỡ vất vả, sảng khoái hơn. Riêng não bộ tuy chỉ chiếm có 2% thể trọng mà tiêu tốn đến 30% năng lượng. Nếu có cách nào đó làm cho não bộ được nghỉ ngơi, tích lũy thêm một khối năng lượng đáng kể nữa, các tế bào nhờ đó mà đỡ vất vả, sảng khoái hơn! Sự sảng khoái đó trong thiền gọi là “thiền duyệt”. Câu hỏi đặt ra là tại sao não bộ lại xài phí tiêu hoang năng lượng nhiều đến vậy? Thì ra não lúc nào cũng ở trong trạng thái “điên cái đầu”, lúc nào cũng nghĩ ngợi lung tung, tâm viên ý mã! Trí thức- hoạt động trí não nhiều- càng dễ bãi hoãi, kiệt sức, quên trước quên sau, đến bác sĩ, bác sĩ chẩn đoán “mệt mỏi kinh niên không rõ nguyên nhân”, nghĩa là bí… Lúc say mê làm việc trí thức thường quên thở để sau đó lại hào hễn, trả nợ Oxy. Thiền vừa làm giãn cơ, vừa làm lắng dịu các hoạt động lăng xăng của não, nhờ đó mà giúp cơ thể thảnh thơi, an lạc. Hoạt động thể chất sau đó sẽ bền bĩ hơn, suy tưởng sau đó sẽ tập trung hơn, sáng suốt hơn.
         Trong lúc tập trung dõi theo hơi thở như thế, những câu hỏi sẽ gợi lên: Tại sao phải thở? Không thở được không? Tại sao ta cần Oxy (O2) – khí thải của cây xanh- trong khi cây xanh cần Carbonic (CO2) – khí thải của ta? Có sinh vật nào sống mà không cần Oxy không?… Câu trả lời sẽ liên quan đến khí quyển, đến môi trường, đến cây xanh, đến sinh vật hiếm khí, vi khuẩn sống trong núi lửa, trong băng tuyết… Rồi nhìn ra mênh mông, thấy không chỉ một vũ trụ (universe) mà là đa vũ trụ (multiverse), tam thiên đại thiên thế giới, với trùng trùng duyên khởi … từ đó, có hôm nào nhận ra thực tướng vô tướng, cái mà bây giờ người ta gọi là “Theory of Everything” (?)… hay như Stephen W. Hawking giật mình nhận ra cái The Grand Design, “vô sở tùng lai diệc vô sở khứ” (?). Thiệt ngộ, chỉ với C, H và O quấn quít lấy nhau, khi cần ngọt ngào thì có đường, khi cần chua chát thì có dấm, khi cần đắng cay lại có chút rượu mềm môi?
         Khi bản đồ gen người được thiết lập, các nhà sinh học giật mình thấy cái cây cổ thụ ngoài sân chứa đến 70% gen người, ai dám bảo không có chuyện “thạch nữ giá bồ lang”? Cái cọng cải non xanh kia có đến 26% gen người, rồi ruồi giấm, chuột bọ… Chuột có đến 97.5% gen người nên mới có đám cưới chuột, mới có “chuột kêu chút chít trong rương / anh đi cho khéo đụng giường mẹ hay”! Ểnh ương, tắc kè, thằn lằn, rắn mối… con nào cũng phì phò xì xụp, cũng phình phình xẹp xẹp đó thôi…
         Thiền còn giúp ta thấy sinh trụ dị diệt, thấy mỗi hơi thở là một kiếp người. Bé sơ sinh hít mạnh hơi vào thì cụ già thở hắt hơi ra. Giữa hai lần thở đó là những làn sóng lăn tăn, dài ngắn. Đừng tìm kiếm thần thông phép lạ. Thần thông phép lạ đầy rẫy quanh ta.

Buổi trò chuyện chuyển sang phần hỏi đáp. Chỉ xin ghi lại vài câu.
  1. Kiếm hiệp hay nói “đưa hơi xuống huyệt đan điền” là sao? Đó chính là cách thở bụng. Khi hít vào, đẩy cơ hoành xuống càng sâu càng tốt, xuống tận huyệt “đan điền”. Huyệt đan điền nằm dưới rún ba lóng tay, khoảng 4cm. Đan là thuốc, điền là ruộng. Đan điền là ruộng thuốc. “Linh đan diệu dược”. Người xưa coi thở bụng là phương pháp luyện công tốt nhất, được sử dụng trong võ thuật và phép tu tiên để trường sinh bất lão. Thực ra cơ hoành chỉ di chuyển được khoảng 7 cm thôi, chưa quá rún, cũng đã đưa vào hơn 1,5 lít không khí rồi. Nhưng, cần để ý, ráng sức thở sâu quá sẽ dễ bị “tẩu hỏa nhập ma”.
  2. Dùng ý dẫn khí đến những nơi mình muốn có được không? Chẳng hạn đến tận ngón tay, ngón chân, các khớp đang đau nhức? Được. Ý dẫn các pháp mà! Về sinh học, hệ thống mao mạch dài đến 100.000 km (hai vòng rưởi xích đạo quả đất chớ ít gì!) dẫn khí đến tận từng tế bào trong cơ thể con người. Mỗi tế bào thực chất là một… sinh vật, chúng hấp thu Oxy để tạo năng lượng. Dùng ý dẫn khí là một cách nói, nhấn mạnh khả năng đưa khí lưu chuyển toàn thân, đến từng tế bào nhờ hệ thống mao mạch này. Hiện tượng viêm trong y học – sưng, nóng, đỏ, đau- chính là đưa máu dồn về nơi có bệnh để chữa trị, tập trung Oxy nhiều đến đó để tăng cường năng lượng.
  3. Tôi học cách thở âm và thở dương? Thở dương là đưa hơi qua mũi, theo nhâm mạch xuống đan điền, hậu môn, rồi nhíu hậu môn lại; thở âm là đưa hơi lên đỉnh đầu, theo đốc mạch đến hậu môn, nhíu hậu môn lại… để chữa trị các trạng thái âm và dương của thân tâm đúng không? Đúng. Bí quyết nằm ở chỗ “nhíu hậu môn”. Những thứ khác thực chất vẫn là thở bụng, thở sâu. Khi vỏ não tập trung vào điều này thì không thể cùng lúc tập trung vào điều khác. Hai người sắp đánh nhau mà nghe động đất sợ quá bỏ chạy quên đánh nhau. Cái “sợ” đã thay chỗ cho cái “giận” ở vỏ não. Một người ở trạng thái buồn bã (âm) hay trạng thái kích động (dương) mà biết tập trung vào hơi thở sâu, tập trung vào chuyện “nhíu hậu môn” thì “công tắc” đã chuyển sang hướng khác ở vỏ não.
  4. Nghi ung thư, làm xét nghiệm không có gì, chỉ bị cao huyết áp (HA). Mua máy đo HA về đo mỗi ngày cả chục lần, lúc nào cũng cao, chỉ khi uống vài ly thì HA mới xuống? Một tỷ phú Mỹ thường đọc báo y học nghi mình bị ung thư. Khám bác sĩ, bình thường. Không tin, đến bác sĩ khác. Cuối cùng gặp một bác sĩ giỏi, biết ngay là ung thư. Mừng vì mình chẩn đoán bệnh giỏi hơn các bác sĩ, tỷ phú hiến hết tài sản rồi đi chu du khắp thế giới trước khi chết, mời cả cô y tá xinh đẹp của bác sĩ cùng đi. Sáu tháng sau, dẫn vợ -cô y tá bấy giờ đã là vợ- về thăm bác sĩ, hoàn toàn khỏe mạnh. Bác sĩ cười: ông chỉ “bệnh tưởng”! Vụ HA thì chính cái máy đo là thủ phạm. Mỗi lần đo là mỗi lần lo lắng, căng thằng nên HA tăng cao. Khi có vài ly vào thì hết lo, hết căng thẳng.
* *
*
Nhưng thiền không dừng lại ở đó. Nó mở ra những khoảng mênh mông bất khả tư nghì!
                                                            BS Đỗ Hồng Ngọc

21 thg 6, 2017

BA HỒN BẢY VÍA LÀ GÌ ?

Người Việt chịu ảnh hưởng Đạo giáo, thường nói “Tam hồn thất phách” hoặc “Ba hồn bảy vía”. Ba hồn là gì? Đạo giáo giải thích: Thứ nhất hồn Thái Quang, thứ hai hồn Sảng Linh, thứ ba hồn U Tinh. Đạo giáo không cho biết rõ công dụng của mỗi thứ hồn, chỉ nói phép nhiếp tam hồn, một phương pháp tu luyện làm cho thần khí cứng rắn, tinh hoa tích tụ, thân thể không già yếu. Suy ra ta có thể hiểu hồn thứ nhất thuộc về thần khí con người, hồn thứ hai thuộc về tinh hoa con người, hồn thứ ba thuộc về thân xác con người. Dân gian vì không hiểu sâu Đạo học nên giải nôm: một hồn ở đầu, một hồn ở ngực, một hồn ở chân. Chữ “chân” này không phải là chân cẳng hay chân với tay mà là chân thân, cái thân thể đích thực của người ấy. Tục “gọi hồn” và phép “phụ hồn” không nói rõ gọi hồn nào trong ba hồn hay cả ba hồn, vì chắc chắn họ không đủ trình độ để hiểu biết. Khi chết, con người chỉ còn một hồn Thái Quang, là tinh thần, thần khí hay linh khí, tinh anh...riêng của mỗi người. Tuy không còn thể xác, không còn mắt, mũi, chân, tay...các giác quan để làm chỗ dựa nhưng nó có khả năng nhận biết tất cả, thế mới gọi là linh hồn (hồn thiêng).

hồn vía, 3 hồn bảy vía,
                                                       Sau khi con người chết đi, linh hồn sẽ rời khỏi cơ thể.
Theo tài liệu nghiên cứu của Trung Quốc: Y lý Trung Hoa nói: “Can tàng hồn, phế tàng phách” (Gan chứa hồn, phổi chứa phách). Từ lý luận ban đầu này, các nhà y học cổ điển phát triển lên thất phách: tâm phách (tim), can phách (gan), tỳ phách (tỳ vị: dạ dày, lá lách), phế phách (phổi), thận phách (2 quả thận), khẩu phách (miệng lưỡi), ý phách (bộ não). Tiến bộ hơn, họ phân định đàn ông có thất phách, đàn bà thêm thai phách (dạ con và thai nhi), huyết phách (kinh nguyệt) thành cửu phách. Đạo giáo cũng nói đến thất phách (không có cửu phách) với những tên gọi khó hiểu: Thi cẩu, Phục thỉ, Tước âm, Thôn tặc, Phi độc, Trừ uế, Xú phế. Họ nói thất phách là 7 tên quỷ độc hại trong thân thể con người, và đạo giáo có phương pháp tu luyện để chế ngự hay diệt trừ chúng, làm cho thân thể nhẹ nhàng sảng khoái bay lên trên không thành thần tiên, sống mãi không già, không chết.
Cần phân biệt rõ: thuyết tam hồn thất phách, tam hồn cửu phách của y học nhằm mục đích chữa bệnh cứu người, thuyết tam hồn thất phách của Đạo học (Đạo giáo) không ngoài việc tu luyện đắc đạo thành tiên. Thuyết tam hồn thất phách hay cửu phách của Đông y có giá trị khoa học thực tiễn. Ví dụ họ nói “Can tàng hồn” cũng như bảo “Can tàng huyết”. Khi người ta nằm ngủ hay mơ chuyện quái đản, ghê sợ là do ở huyết, huyết kém, xấu mà sinh ra vì “huyết biến vi tà”, phải chữa bệnh huyết, mà chữa bệnh huyết thì không thể quên chức năng can (gan) bởi “can tàng huyết” (gan chứa huyết)...
Tục gọi hồn nhập quan, đàn ông gọi ba hồn bảy vía hoặc đàn bà gọi ba hồn chín vía, dân gian theo thuyết Đông y là lầm lẫn lâu ngày thành thói quen, cứ bắt chước lẫn nhau, không ai đặt câu hỏi: tại sao như thế, như thế đúng hay sai? Cứ lý suy ra, người chết phổi ngừng thở, tim ngừng đập, máu ngừng chảy, mọi giác quan đều ngừng hoạt động, các tế bào bắt đầu chuyển sang trạng thái phân hủy bốc mùi xú khí...hồn phách nhập quan để làm gì, có tác dụng gì? Lại nữa, đàn bà đến tuổi 50 hết kinh nguyệt, thôi sinh đẻ, không còn thai phách, huyết phách, sao vẫn gọi “chín vía” (cửu phách)? Thuyết Đông y là cơ sở khoa học trị bệnh, chỉ áp dụng với người sống, đâu còn ý nghĩa với người chết?
Nếu theo thuyết Đạo giáo, gọi hồn người chết chỉ nên gọi “Ba hồn bảy vía” đàn ông như đàn bà. Nhưng Đạo giáo không nói rõ người chết rồi vẫn còn đủ cả “tam hồn thất phách”, mà “thất phách” là 7 tên quỷ độc tan theo thể xác, và “tam hồn” chỉ tồn tại hồn Thái Quang tức linh hồn, cái tên thường gọi. Hồn Thái Quang hay linh hồn không nhập quan trở về với xác chết, nương tựa ở xác chết. Sau khi người chết vong hồn nương tựa vào thần chủ và hồn bạch. Thần chủ còn gọi là thần vị, linh vị là miếng gỗ viết tên tuổi, chức tước người chết để thờ cúng mãi mãi. Nghi thức làm thần chủ của vua, chúa, quan dân khác nhau. Với dân thường, thần chủ làm theo lối đơn giản đến mức sơ sài: một thẻ tre hay một miếng giấy viết nguệch ngoạc tên tuổi, cắm vào lát chuối cây cũng xong. Gia cảnh bần cùng chỉ có bát hương bằng lát chuối cây với năm ba nén hương còn khó, nói gì linh vị và hồn bạch! Hồn bạch là dải lụa thắt lại giống như hình người đủ 3 phần: đầu, mình và chân để thu hồn vào đó, khi mai táng rước đi trước linh cữu, rồi chôn bên cạnh nấm mồ.
Linh hồn là tinh anh, là khí thiêng của con người, cái tinh thần ấy nếu không mất cũng không thể “nhập quan”, không thể nhập vào cái xác ô uế, người ta phải đào sâu chôn chặt!
Hồn phách cũng là vấn đề cốt yếu của sinh tử. Đức Khổng tử tránh bàn về sinh tử. Ngài nói: “Chưa biết được việc sống, làm sao biết được việc chết?” (Vị tri sinh, yên tri tử). Nói “tránh bàn” không có nghĩa bảo Khổng tử không đủ khả năng bàn tới. Vấn đề ở chỗ ngài tự xét thấy mình không thể đưa ra ý kiến thuyết phục trong tình hình thiên hạ bấy giờ tồn tại cả hai thuyết “Hữu thần luận” và “Vô thần luận”: Thượng đế sinh ra con người với linh hồn bất tử hay không có Thượng đế, cũng không có linh hồn bất tử?
Các nhà sáng lập tôn giáo đều đặt vấn đề sinh tử lên hàng đầu và xem đó là đề tài thú vị. Người Việt Nam tiếp nhận nhiều tư tưởng tôn giáo, trong dân gian quan niệm về sinh tử khó tránh mâu thuẫn và phức tạp. Quan niệm khá phổ biến và tương đối thống nhất: Trời sinh ra muôn loài vạn vật, con người chết không mất. “Sinh ký tử qui” là câu nói cửa miệng người đời, nhưng thói đời vẫn ham sống sợ chết, vẫn chúc tụng “Phú quý thọ khang ninh” và không thể biết mình chết về đâu một cách chắc chắn!
Chúa Giê-su tạo ra người, vật, cho người có linh hồn, vật có giác hồn, người chết tùy theo hành vi lành, dữ mà về nước Chúa, hầu hạ Chúa hay bị đầy xuống hỏa ngục, còn loài vật, giác hồn tan cùng thể xác. Phật Thích-ca không công nhận thuyết linh hồn bất tử, nhưng lại đưa ra thuyết đầu thai chuyển kiếp bằng các “Thức” Mạt-na, A-lại-gia, khác gì linh hồn? Dân gian đâu nhớ được, hiểu được mấy cái “Thức” khó hiểu, khó nhớ ấy, vẫn nói linh hồn đầu thai kiếp khác! Phật giáo truyền vào Trung Quốc ra đời tông phái Mật giáo cho rằng vạn vật trong vũ trụ đều do Đại Nhật Như Lai biến hiện ra. Đại Nhật Như Lai là gì, nếu không phải là một Thượng đế, một Chúa Trời kiểu khác, mang tên khác?
Câu “Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn” (Sự chết như sự sống, sự mất như sự còn; Cũng được dùng để nói việc thờ cúng: Thờ lúc chết như lúc sống, thờ lúc mất như lúc còn) là một mệnh đề triết lý, thuộc phạm trù triết học. Nghĩa là sự vật chỉ chết ở dạng này để sinh ở dạng khác, mất ở nơi nọ lại còn ở nơi kia, như chuyện vua nước Sở đánh mất cây cung, người nước Sở bắt được, có đi đâu mà mất? Nhưng dân gian lại dẫn giải theo cách dân gian: Sống như thế nào, chết như thế ấy! Tức là cũng ăn uống, làm lụng với mọi nhu cầu như lúc sống! Nói cách khác: cõi Âm là phản ánh trung thực cõi Dương, Âm và Dương tuy đối lập, mâu thuẫn nhưng vẫn nhất thống trong một khối thống nhất. Đó là nguyên nhân chủ yếu, chỗ dựa căn bản cho mọi nghi thức cúng tế ra đời và tồn tại. Mọi học thuyết, đến cả tôn giáo đều do con người mà có, tại sao không phải chính Thượng đế cũng là sản phẩm của con người?
                  (Trích "Nguồn gốc, ý nghĩa tang lễ người Việt"-NXB Thanh Hóa)
--------------------------------------------------------------------------------------------------------

ĐÁNH CHUỘT

                                                                                    HOÀNG TUẤN PHỔ
Hồi tôi còn nhỏ, tạng người yếu, ăn cơm hay bị nghẹn, nấc. Mỗi lần bị nghẹn, nấc, người lớn lại chỉ tay lên nóc nhà, bảo: “Tề tề (kìa kìa) có con chuột đang chạy!”, tôi tưởng thật ngửa cổ nhìn lên nóc nhà, buột miệng hỏi: “Mô mô (đâu đâu)?” thế là khỏi nghẹn, hết nấc. Đúng là trên nóc nhà (không riêng nhà tôi) có giống chuột nhỏ tên thường gọi chuột nhà, chuyên cư trú trong mái lá. Chúng sống ở đó rất an toàn, mèo thấy cũng chẳng làm gì, tha hồ xây tổ ấm, sinh con đẻ cháu. Lợi dụng đêm tối hoặc nhân lúc ban ngày vắng vẻ, chúng di chuyển rất nhanh từ trên nóc nhà xuống và lẻn vào bồ thóc thúng gạo. Nắm được quy luật hoạt động của chuột, mèo ta thường nấp dưới gầm bồ phục kích. Có khi nó nhảy lên cót thóc đánh một giấc ngủ ngon. Thấy bóng mèo, đố chuột nào dám bén mảng tới gần. Nhưng mèo đâu có “ba đầu sáu tay”, canh giữ được bồ thóc, bỏ mất thúng gạo. Thỉnh thoảng mèo cũng kiếm được vài tên chuột dại dột, chủ quan, song chẳng thấm gì so với sức sinh sản con đàn cháu đống của giống nhà chuột. Chuột càng đông lên, thức ăn kiếm được ngày càng khó khăn. Chúng lục lọi, phá phách như giặc cả đêm khiến trẻ em dễ giật mình thức giấc mà người già cũng khó chợp mắt.
Ông nội tôi nói: “Nhà ta cả hai mái kè đều mới lợp, ít nhất phải 10 năm nữa mới cần đảo lại. Mà cái giống chuột tinh quái lắm, khi giỡ mái chẳng thấy một con, sau khi lợp lại, đâu vẫn hoàn đó. Người ta bảo: Cháy nhà mới ra mặt chuột. Đúng. Nhưng, phần đông chúng nhanh chân chạy thoát. Cho nên đánh chuột là phải đánh tận hang ổ chúng”. Rồi ông cụ bảo chú tôi đi thuê thợ rèn rèn một cái nọc để nọc chuột.
Cái nọc chuột có hai phần: phần mũi và phần cán. Phần mũi dài chừng hơn gang tay; mũi nhọn như cái gai; dưới mũi nhọn độ đốt tay là cái ngạnh trê chìa ra khoảng nửa đốt. Phần cán là một cây trúc cắt lấy đoạn gốc, dài ước vài sải tay. Cắm mũi vào cán, về phía ngọn, đánh một khâu sắt để cổ nọc được vững chắc.
Lũ chuột sống trên nóc nhà như ở trên thiên đường, bất khả xâm phạm. Từng đôi chuột đực cái châu mũi vào nhau cười đùa rúc rích. Những con chuột mới lớn ngứa răng gặm đầu rui sồn sột. Mấy lão chuột già thong dong tản bộ, phưỡn ra những cái bụng phệ trăng trắng béo mượt,... Bất kể sáng, trưa, chiều, tối, chú tôi ngồi học, dựng sẵn bên bàn cái nọc; hễ nghe tiếng động trên nóc nhà, liền cầm ngay cái nọc, chú tôi chọc mạnh một cái, trúng ngay con chuột, lôi xuống. Sau khi diệt được khoảng chục con, những con còn lại, dắt díu nhau bỏ đi hết. Máu chuột bị giết dây, dính trên tàu kè, đòn nóc, khiến chuột kinh sợ.
Do đặc tính họ nhà chuột kinh sợ mùi máu thịt đồng loại, bà con nông dân băm thịt chuột rải chung quanh bờ ruộng để chống lũ chuột đồng phá lúa.
Chuột đồng hoàn toàn giống chuột nhà. Vì ở ngoài đồng nên gọi là chuột đồng để phân biệt với chuột nhà chuyên sống trong nhà. Nói chung, tầm vóc cả hai giống đều nhỏ. Nhưng cũng có một số con lớn vượt hẳn lên to bằng hoặc gần bằng bắp tay người trung bình. Có thể chúng là giống chuột đồng to. Những mùa vụ bạch lạng, chuột đồng đói quá cũng mò vào nhà kiếm ăn, thấy dễ kiếm sống, định cư lâu dài, hóa thành chuột nhà. Ngược lại, những nhà thuộc diện nghèo, khi không còn cái gì để ăn, chuột nhà buộc phải di cư ra đồng, tha phương cầu thực, cũng phải ở hang, ở hốc, rồi thành chuột đồng.
Chuột đồng sinh sản nhanh, phát triển mạnh không kém chuột nhà. Chuột đồng phải đối phó với không ít kẻ thù: cú, rắn, cầy, cáo, lon,... Đêm, mèo ra đồng bắt cá, thấy chuột cũng bắt luôn. Một số con mèo sau khi diệt hết chuột nhà, đêm đêm ra đồng săn chuột.
Chuột đồng tự đào hang hoặc sửa lại hang cũ để ở. Câu tục ngữ: “Chuột già có ba cái hang” là rất đúng. Mỗi hang chuột trổ ít nhất hai cửa; trong mỗi hang chuột đào thêm một vào ngách để chứa thức ăn và tránh kẻ thù mà chuột sợ nhất là rắn. Hang chuột chỉ có ở những thân đất cao, vì giống chuột này ưa khô ráo, không chịu được ẩm ướt, nước nôi như chuột cống. Ban ngày chuột đồng yên chí ở trong hang với thành lũy kiên cố, đêm tối mới mò ra phá hại lúa má, hoa màu. Trước kia, bà con nông dân dùng biện pháp đem chó săn ra đồng, lấy thuổng, cuốc đào hang bắt chuột. Hễ chuột chạy từ trong hang ra đã có chó săn đuổi theo ngoặm một miếng chết tươi. Song, không thể nhà nào cũng nuôi được chó biết săn và cũng không có điều kiện để đào phá tất cả cồn, áng, bờ ruộng, bờ đường. Người ta áp dụng cách phổ biến là hun khói.
Hun khói tương đối vất vả và tốn công. Trước hết phải biết đích xác hang có chuột ở. Dùng chó săn đánh hơi. Hang nào có chuột, chó lấy chân trước cào cào, bới bới miệng lỗ và sủa ủng ẳng, kèm theo những tiếng rít. Cũng có thể quan sát cửa hang thấy những biểu hiện như đất nhẵn, in dấu chân, thải ra một vài cục phân, cỏ khô tha về làm tổ vương vãi,... Tiếp theo tìm các cửa hang khác, bịt kín, chỉ trừ lại cửa trước để hun khói và một cửa sau để đơm cái đó hoặc cái giỏ (có ton - hom) đón bắt chuột. Khoét rộng cửa hang chính, đốt rơm rạ làm than, phủ trấu lên trên, rồi dùng quạt, quạt thốc hơi nóng và khói đặc vào hang, đến tận các ngõ ngách. Người quạt phải khỏe cánh, mạnh tay, quạt hối hả không ngừng, nếu có hai người thay nhau cầm quạt càng tốt. Chuột bị ngạt khói tất phải chui ra.
Hun khói phải kiên trì. Nhiều con gan góc, lỳ lợm, khi chui ra đã ngạt thở gần chết, bước không nổi. Thế mới có thành ngữ: Lờ đờ như chuột hun khói. Song, hãy coi chừng, chỉ cần một vài tích tắc được thở bầu không khí trong lành, con chuột phải khói hồi sức rất nhanh và chạy biến.
Giống chuột lỗ bằng bắp tay, bắp chân người lớn. Nó đào lỗ ở trong nhà, tại những xó xỉnh tối, ẩm. Có lẽ nó cùng anh em với chuột cống, ở nông thôn gọi là chuột lỗ, chuyển cư lên thành thị mang tên chuột cống. Chuột lỗ nhiều con dám chống trả lại cả chó và tất nhiên, lỗ ta dám ung dung đi qua trước mũi mèo. Người ta nói: Cụ tổ họ nhà mèo bị chuột lỗ cắn chết ăn thịt nên mèo không dám bắt gà, phải để dành biếu chuột lỗ, mong được sống yên ổn. Sự thực chuột lỗ ăn ở đều bẩn mà tính mèo lại sạch, không chịu nổi mùi hôi hám, hễ thấy lỗ, mèo liền tránh xa.
Nhà tôi xưa, năm nào cũng có một vài con chuột lỗ, chẳng biết từ đâu đến đào lỗ trong buồng hoặc xó hè để ở. Hang chuột lỗ vừa sâu vừa rộng, thường không có ngách, chỉ có hai cửa vào ra. Chuột lỗ khi đào hang, đùn đất lên cả đống, hễ lấp xuống, nó lại đào lên, cứ như trong nhà tôi, nó mới là chủ. Thỉnh thoảng nó bắt một con gà lôi vào hang ăn thịt dần. Để trừ lỗ, phá hang, các chú nhà tôi cũng phải dùng cách hun khói đối với chuột đồng. Có con bị khói mò ra đến cửa hang, đụng râu vào cái ton giỏ, liền lùi trở lại. Một lúc sau, nó đội cả đống than trấu đang hun mà chui lên. Nó chơi cú bất ngờ khiến người không kịp phản ứng. Khi người ta tìm được cái gậy thì nó đã chạy mất! Cũng có con đành chịu ngạt thở mà chết trong hang. Dẫu sao hun khói vẫn là biện pháp hữu hiệu nhất đối với chuột lỗ. Sau mỗi lần hun khói, cả năm không thấy một bóng chuột lỗ.
Nếu khó dùng cách hun khói vì cửa hang không thích hợp thì dùng cái mâm gỗ cũ (xưa nhà nào cũng có), đặt nghiêng trên nền nhà, dưới chống cái que, trên mâm đè hòn đá nặng; nướng một con cua đồng hay một miếng thịt cho thơm buộc vào que chống. Chuột đánh mùi thơm, chui vào dưới mâm ngoặm mồi tha đi làm bật que chống, cái mâm và hòn đá sập ngay xuống đè chết con vật. Tất nhiên, cách đánh bẫy mâm này có cái phiền phức là trong nhà mèo, chó đều phải nhốt lại cẩn thận.
Cách đánh bả chuột là dùng thuốc độc trộn vào thức ăn, có khả năng cùng lúc diệt nhiều con, nhưng xưa nhà tôi các cụ không cho dùng, vì sợ chết lây cả những loài vật khác. Cơ khí phát triển, trên thị trường xuất hiện các loại bẫy: bẫy chém, bẫy lồng,... gia đình tôi đều mua dùng đánh các giống chuột đồng, chuột nhà, chuột nhắt. Nhưng những giống chuôt này đều kỵ mùi chết của đồng loại. Sau mỗi lần đánh được chuột, phải ngâm, rửa bẫy thật kỹ mới đem dùng lại

HOA HỌC TRÒ-Trời đất dành riêng tuổi học trò.Một loài hoa đỏ rất nên thơ...

HOA HỌC TRÒ-Trời đất dành riêng tuổi học trò.Một loài hoa đỏ rất nên thơ...
Mỗi năm hoa nở mùa thi đến.Chạnh nhớ trường xưa nhớ bạn bè .Nguyenuthang ..