14 thg 2, 2024

“DÂU TÂY’’ GÓP Ý VỀ THÓI XẤU CỦA NGƯỜI VIỆT KHI ĂN TẾT




     ***

          Tôi là một cô gái đến từ nước Úc. Vì yêu chồng là người Việt Nam nên tôi theo anh về đây “làm dâu”, mọi người gọi tôi là “dâu tây”.“Dâu tây” rất hay bị để ý nhưng không thường xuyên bị ne nét, góp ý như “dâu ta”.

Có lẽ vì thế tôi cũng có thời gian quan sát lại những người thân của chồng, những con người nơi quê hương chồng và thấy rằng, ngày Tết, người Việt bộc lộ thật nhiều thói xấu.

      Thói xấu thứ nhất là họ đòi hỏi phụ nữ trong nhà phục vụ nhiều điều quá. Mấy chị em dâu bên chồng tôi thức từ 3 giờ sáng để làm cơm, làm cỗ tiếp đãi họ hàng ngày Tết với mẹ chồng.

        Tôi không thể dậy từ giờ đó nên cứ mặc họ xủng xoảng xoong nồi bát đĩa dưới bếp, ôm chồng ngủ tiếp đến sáng sớm hôm sau. Đó cũng là một trong những nguyên do họ gọi tôi là “dâu tây”.

          Không biết những gia đình khác thế nào, bên nhà chồng tôi dâu tây cũng dễ được bỏ qua, nhưng nếu là một chị em dâu khác giờ đó chưa dậy sẽ bị bóng gió là “lười chảy thây”, có khi sáng mùng 1 đã bị mẹ chồng mặt nặng mày nhẹ. Nhiều nàng dâu vì không muốn gặp cái sự mặt nặng mày nhẹ này nên cố dậy từ sớm cho xong, chứ họ cũng chẳng thích gì công việc này.

        Tôi thì không cố được, tôi có niềm tin riêng của tôi, tôi tin rằng việc đày đọa bản thân như vậy chỉ để chứng minh mình đảm đang tháo vát hay để người khác hài lòng là điều không cần thiết. Suốt cả những ngày Tết, phụ nữ trong nhà sẽ bận tối mắt lên xuống với làm cơm nấu cỗ, dọn cỗ, phục vụ khách khứa đến nhà dùng cơm.

        Trong khi tới lúc ngồi vào ăn họ lại phải ngồi “mâm dưới”, với toàn đám trẻ con hoặc đàn bà với nhau, nhấp nha nhấp nhổm vừa ăn vừa chạy đi phục vụ cho đám đàn ông đang khề khà uống rượu nói chuyện mồm mép chứ tuyệt nhiên không thấy giúp đỡ gì cho người phụ nữ của họ.Đi lấy thêm đồ ăn - phụ nữ lấy. Đi lấy thêm bát nước mắm - phụ nữ lấy. Đồ ăn trên bàn nguội lạnh cần đem đi hâm nóng - cũng là phụ nữ làm. Như vậy thật xấu xí.

       Bàn tiệc nên có sự điểm xuyết, đàn ông phụ nữ ngồi bên nhau, và phụ nữ được nhận lời cảm ơn, sự trân trọng về bữa cơm rất công phu họ đã nấu, được người đàn ông của họ phục vụ, chăm chút lại, thế mới đúng là ngày đoàn viên, vui vẻ đầm ấm cho tất cả mọi người.

       Những bữa cơm là nỗi kinh hoàng của tôi khi mẹ chồng chưa xong bữa này đã lên kế hoạch cho bữa sau và tất cả các nàng dâu bắt đầu quay trở lại bếp từ 2 giờ chiều để chuẩn bị cho bữa ăn buổi tối. Cho nên quanh quanh quẩn quẩn, ngày Tết là ngày phụ nữ cắm mặt vào bếp.

     Một thói quen xấuxí nữa của người Việt là “nhậu”.

Đàn ông Việt xấu kinhkhủngkhiếp trên bàn nhậu. Mặt mũi nhamnhở, đỏ tưng bừng, họ nói chuyện vô nghĩa vì rượu nói chứ họ không nói, họ chuốc nhau và uống để nâng cao sĩ diện chứ không thực sự dùng rượu như ý nghĩa thanh lịch vốn có của loại đồ uống này..

         Trên bàn tiệc, đàn ông ép nhau bằng những lời khích tướng hoa mỹ, họ hả hê khi ép được nhau uống, người lịch sự từ chối bị cho là không “hết mình”, không nể mặt người mời rượu.

        Chỉ trong vài ngày Tết, số đàn ông Việt nhập viện cấp cứu vì bia rượu lên đến hàng nghìn, những người phải nhập viện vì đánhnhau (cũng do không làm chủ được bản thân do rượu) cũng là hàng nghìn.Thật xấu xí!

           Ngày Tết là dịp gia đình quây quần, gặp gỡ họ hàng hàn huyên, thật ra cũng là dịp để họ tụ tập nói xấu nhau.Nhà người này người kia năm qua có chuyện gì, kiếm được bao nhiêu, thua lỗ thế nào cũng được mang ra thì thào bình phẩm hết. Như vậy thật tọc mạch.

       Tôi tin tài chính, những chuyện nội bộ gia đình là những chuyện riêng tư, không phải đề tài để ai đó khác mang ra “làm mồi nhậu”, đặc biệt khi họ chẳng giúp được gì.

         Khi mới sang đây tôi rất thích văn hóa lì xì của quê hương chồng trong ngày Tết.Một chút tiền trong chiếc phong bao nho nhỏ màu đó mang ý nghĩa mang tới may mắn cho người được lì xì.

        Nhưng sự thích thú nhanh chóng biến thành mất hứng khi tôi chứng kiến có những bà mẹ già tranh thủ gặp con này nói xấu con kia, trách móc nó không mừng tuổi mình hoặc mừng tuổi không nhiều, hoặc mang ra so sánh người này mừng nhiều người kia mừng ít.

       Tôi nói với chồng tôi, đất nước của anh rất xinh xắn, tươi đẹp, con người thân thiện, hiếu khách, nhưng hóa ra cũng còn thật nhiều điểm xấu, hơi… kém văn minh.Anh lại cười gọi tôi là “dâu tây” - như cách rất nhiều người Việt đã ứng xử lại với tôi mỗi khi tôi cư xử khác họ.

      Tôi không thỏa mãn với câu trả lời này, bởi xét cho cùng, dâu “loại” nào đi chăng nữa, thì cũng là vợ, là mẹ, họ lấy chồng và mong muốn một cuộc hôn nhân mang lại cho mình hạnh phúc, bình đẳng - chẳng phải vậy sao?

Sưu tầm

3 thg 2, 2024

HƯƠNG VỊ NGÀY XUÂN

 


***

        Mùa xuân đang đến trên khắp mọi miền quê hương . Cứ mỗi dịp xuân về lại gợi trong ký ức tôi những kỷ niệm khó quên về Tết thuở còn thơ.

      Hai tuần trước Tết, tôi và đứa em gái thường theo bố đi chợ hoa Sài Gòn, chợ hoa Tết chạy dài trên đường Nguyễn Huệ từ khúc đường Lê Lợi thẳng về gần bờ sông Sài Gòn. Chợ hoa thì gồm đủ loại hoa từ các nơi mang về. Sắp Tết nên chợ hoa có nhiều hoa đẹp, nào là những chậu hoa cúc vàng rộ đang khoe sắc trong nắng mai. Những cánh hoa lan muôn màu bay bay trong gió kiêu kỳ nhưng thanh nhã. Dừng lại ở một cửa hàng bán hoa mai, hoa đào. Bố tôi cẩn thận chọn mua những cành mai vàng và những nhánh đào tươi thắm. Tôi thấy bố tôi chỉ chọn nhành mai có nhiều búp vì bố tôi nói như vậy mới chưng được cả tuần lễ Tết để đón lộc may và thưởng ngoạn mai. Bố tôi giải thích thêm, nếu muốn nụ mai sớm nở, chúng ta chỉ cần hơ lửa gốc mai, thế là hôm sau hoa mai nở rộ bởi khi hơ lửa nóng, nhựa trong thân cây sẽ tăng độ chuyển về ngọn để các búp mai buộc nở hoa. Những lộc lá non trên cành hoa mai màu xanh lục, màu lam như quyện lấy những búp mai chớm nở tỏa ra vẻ đẹp e ấp nhưng thanh tao như cô thiếu nữ vừa chớm tuổi xuân thì.

       Cô bán hoa duyên dáng, mời khách, vui vẻ giải thích từng loại mai có nhiều màu khác nhau như Hoàng mai, hồng mai, và bạch mai. Mai có các loại như mai tứ quý , quế diệp hoàng mai, mai chiếu thủy...    

       Hoa đào cũng lắm loại khác nhau, hầu hết hoa đào đều có hoa kép. Ðào có 4 giống: Ðào bích có màu hồng thẫm, sai hoa là một loại đào dùng để cắm chơi trong các ngày Tết. Ðào phai hoa màu hồng nhạt cũng sai hoa và thường được trồng để lấy quả. Ðào bạch ít hoa hơn, khó trồng. Ðào thất thốn cây thấp nhỏ, hoa nhỏ và nhiều màu, màu đỏ thẫm. Hồng mai là hoa đào hay mơ, nở hoa dịp đầu xuân. Cuối cùng bố tôi chọn một cành đào bích có màu hồng thẫm để cắm chơi trong các ngày Tết.

      Hoa đào và hoa mai đã trở thành loài hoa quen thuộc trong ngày Tết cổ truyền Việt Nam nên hầu như gia đình nào cũng chưng hai loại hoa này trong ngày Tết bên cạnh những bông cúc đại thọ vàng rực rỡ. Mai và đào chính ra cùng dòng họ, nhưng về sau các nhà thực vật học nghiệm thấy đào  hay mơ , mận và anh đào là loại ra quả, nên tách riêng dòng họ mai ra.      

      Có người cho rằng xem hoa đào hoa mai nở hoa để đoán mệnh tài lộc trong năm mới. Đêm Giao Thừa cho tới mùng một Tết, nếu hoa đào trổ bông, hoa có ba lớp trên đài, màu đỏ thắm thì việc làm ăn của gia đình trong năm mới sẽ được thuận lợi hoặc bất ngờ nhận được nhiều tài lộc. Về hoa mai, sau Giao thừa đến sáng mùng một Tết, nếu hoa mai (loại 5 cánh) nở thêm nhiều và đầy đặn thì đó là một điềm may, vì người xưa có câu "Hoa khai phú quý". Đặc biệt, nếu xuất hiện bông hoa 6 cánh thì chắc chắn sang năm mới sẽ có nhiều điều tốt lành đến với gia đình.

      23 Tết là ngày đón và cúng ông Táo hay thần Thổ Công, mẹ tôi đi chợ mua gà, hoa quả, hương đèn và hoa.  Tôi còn nhỏ nên chưahiểu về nguồn gốc của phong tụcnày, theo mẹ tôi kể thìTáo Quân là từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc nhưng được người Việt chuyển hóa thành sự tích hai ông một bà và thờ cúng Ông Táo với hy vọng ba vị Táo Quân sẽ giúp họ giữ "bếp lửa" trong gia đình luôn nồng ấm và hạnh phúc, ngăn cản sự xâm phạm của ma quỷ, giữ bình yên cho gia đình gia chủ. Vì vậy tục cúng ông Táo mang ý nghĩa cầu mong cho sự ấm no, đầy đủ, sau đó làm lễ tiễn đưa Ông Táo về chầu Ngọc Hoàng.

     Ông Táo về trời sẽ tâu với Ngọc Hoàng về việc làm ăn, cư xử của mỗi gia đình dưới hạ giới. Cá chép là phương tiện để ông Táo cưỡi về trời. Vào ngày này, sau khi cúng lễ xong, các gia đình đều cúng con cá chép rồi đem ra sông hay ra ao thả ngụ ý "cá vượt Vũ môn" hay "cá chép hóa rồng", cá chép mang ý nghĩa biểu tượng cho sự thăng hoa, tinh thần vượt khó, sự kiên trì và bền bỉ để đi tới thành công.

        Tối 30 tết, bố tôi cùng ông nội tôi lên chùa lễ phật, xin xâm, hái lộc, rồi trở về xông nhà sau 12 giờ theo tục lệ xông nhà.  Vừa bước vào nhà, bố tôi cùng ông nội đi thẳng vào bàn thờ ông bà, khấn nguyện và mời ông bà về ăn Tết.

     Trong lúc chờ bố tôi và ông nội về xông nhà, mọi người ngồi nghỉ mệt vàcoi trực tiếp truyền hình chương trình lễ Phật tại Chùa. Mẹ tôi nói việc xông nhà rất quan trọng, bà tin rằng người nào bước vào nhà mình sau 12 giờ đêm, tức là sau giao thừa thì họ sẽ đem cái tốt hay xấu đến cho gia đình trong suốt cả năm. Năm nào mẹ tôi cũng chọn bố tôi và ông nội tôi xông nhà vì mẹ tôi bảo tính ông nội hiền lành, thương con cháu, tính bố tôi vui vẻ, có việc làm chắc chắn, có hiếu, tử tế, thương gia đình, v.v...Vả lại, mẹ tôi nói để tỏ lòng kính trọng ông nội và nhường cho bố xông nhà, bố sẽ cảm thấy vui sướng.Mẹ tôi giải thích thêm,chúng ta có thể chọn bất cứ ai xông nhà cho mình, miễnlà những người đó có tính tình vui vẻ, nhân hậu,tử tế, có nghề nghiệp là được.

       Qua giao thừa khoảng 15 phút, tiếng chuông cửa reo lên, chúng tôi chạy ùa ra cửa đónbố tôi và ông nội tôi. Năm nào cũng thế, tôi thấy trên tay mỗi người nào là nhánh lộc đầu năm, nào là trái cây trên chùa phát lộc. Bước vào nhà, cả ông nội lẫn bố tôi cười vui, chúc tụng, chúc gia đình êm ấm, hạnh phúc, mạnh khỏe, an vui. Những đứa cháu tôi reo lên mừng tuổi ông cố nội,ông nội. Bố tôi đến bên cạnh mẹ tôi, ôm và hôn nhẹ lên tóc vợ, nói rất nhỏ, "Chúc hai ta mãi mãi hạnh phúc" rổi ông ôm các con cháu vào lòng "Chúc gia đình hạnh phúc,các con thành công và các cháu ngoan ngoãn".

     Ông bà nội, bố mẹ tôi bước hẳn vào phòng khách, tiến đến trước bàn thờ Phật, đốt nhang đưa cho mỗi người một cây, xong bốn người cùng khấn nguyện rồi lậy Phật, kế đến là anh em chúng tôi.  Cúng tổ tiên xong, mọi người ngồi xuống mâm cỗ giao thừa đã xếp sẵn cùng ăn mừng đón năm mới và trò chuyện vui vẻ. Bữa tiệc đón giao thừa kéo dài 3 giờ sáng.

         Sáng mồng một Tết, bố mẹ tôi gọi anh em chúng tôi dậy sớm và chuẩn bị chúc thọ ông bà nội, hôm ấy cũng chẳng khác hơn mọi ngày cho lắm, từ sáng sớm, ông bà nội và bố mẹ tôi đã dậy sớm.  Cái khác là mọi người đều mặc quần áo mới, ông nội và bố thì mặc bộ đồ tây với áo jacket, thắt cà-vạt mầu đỏ. Bà nội và mẹ tôi mặc áo dài nhung màu đỏ đậm và đeo chuỗi hạt trai mầu trắng ngà ở cổ. Mẹ tôi trang điểm giản dị nhưng trông bà trẻ, đẹp và sang. Sáng nào Ông bà nội và bố mẹ tôi cũng muốn uống trà nóng vớibánh đậu xanh, hôm nay có thên bánh, mứt, hạt dưa, v.v...Bình trà sen bốc lên mùi thơm dìu dịu, pha lẫn cái vị ngọt của bánh mứt, khiến không khí của ngày Tết tràn ngập cả căn nhà.

         Khi mọi người đã sẵn sàngvà ai cũngmặc quần áo mới, mầu sắc tươi sáng thật đẹp. Tết năm nay anh em chúng tôi bàn nhau mặc theo y phục cổ truyền Việt Nam để làm ngạc nhiên cả nhà khiến bố mẹ tôi vừa nhìn thấy các con, cháu trong y phục áo dài khăn đống thì vui lắm.  Ông nội và bố tôi đang cầm tách trà trên tay vội đặt xuống bàn, đầu gật gù, cười lớn ra vẻ vừa lòng. Bà nội và tôi mẹ tôi đang nói chuyện cũng ngưng lại,reo lên trong vui sướng.

- Chao ôi, các con tôi xinh đẹp quá.

      Anh em chúng tôi lần lượt tiến lên chúc thọ ông bà nội và bố mẹ sống lâu trăm tuổi, khỏe mạnh và được ông bà lì xì để lấy may.  Chúc tuổi ông bà cha mẹ xong, gia đình chúng tôi chuẩn bị đi qua nhà chú Luân tôi để mừng tuổi ông bà nội ngoại, tiện thể mời ông bà nội ngoại và gia đình chú qua ăn Tết ở nhà tôi.

       Bữa tiệc của ngày mồng một Tết rất vui và đông người ở nhà tôi vì tất cả các cô chú hai bên nội ngoại đều tụ họp và về Tết ông bà nội và bố mẹ vì ông nội tôi là trưởng họ.Người thì mang bánh chưng, giò chả, hoa trái, bánh ngọt, v. v... Mấy đứa nhỏ dànhnhau mời khách, thay phiên chúc Tết để lấy tiền lì xì.  Năm nào cũng vậy, khi mọi người đã đến đông đủ, bố tôi thường chụp một tấm hình lưu niệm, chụp hình xong, mọi ngườivào bếp phụ anh em chúng tôi bóc bánh chưng và xếp mâm cỗ Tết.

        Mồng Hai là ngày lên Chùa lễ Phật, xin sâm, thăm mộ Ông Bà và họp nhau ở nhà họ ngoại tức nhà của ông chú. Anh em chúng tôi thích ngày mồng hai Tết nhất vì tiền lì xì đã có sẫn và chú hay tổ chức chơi "Bầu cua cá cọp" rất vui. Sau khi ăn tiệc xong, ông bà nội ngoại và các chú, cậu ra phòng khách dùng trà và nói chuyện, còn các cô thì ngồi nói chuyện về quần áo, nữ trang, son phấn, v.v.... Chú tôi năm nào cũng hô hào, rủ rê mọi người và xung phong làm chủ xòng...

      Thế là mọi người lớn, nhỏ đều ngồi quây quanh bàn bầu Cua Cá Cọp, kể cả các chú, tiếng la hò, cười lớn reo lên từng đợt... Mấy đứa nhỏ sợ thua hết tiền nên đòi ngồi chung với người lớn, không khí ngày Tết thật vui và căn nhà tràn ngập tiếng cười...

       Mồng Ba Tết là ngày cúng tiễn Ông Bà về Trời và đi thăm bạn bè. Từ xưa đến nay, bữa cơn gia đình vô cùng quan trọng đối với bố mẹ tôi, nên từ khi các con còn nhỏ, bố mẹ tôi bó buộc các con dù có bận rộn thể nào đi nữa, bữa cơm gia đình nhất là bữa cơn chiều cũng phải về nhà để ngồi chung với nhau.  Vì bố mẹ tôi cho rằng đây là sợi dây buộc chật sự liên hệ giữa cha mẹ, vợ chồng và con cái và cũng là nền tảng của hạnh phúc.

Sau khi cúng tiễn Ông Bà về Trời và bữa điểm tâm cùng gia đình, anh em chúng tôi mới được phép đi chơi với bạn bè.

         Thấm thoát đã 45 năm trôi qua từ ngày xa quê hương, ngày ấy tôi ra đi trong vội vã bỏ lại sau lưng nhiều kỷ niệm. Anh chị em chúng tôi mỗi đứa một phương trời, dư hương của ngày xưa êm ấm chỉ còn là trong ký ức của những ngày hạnh phúc bên gia đình, bạn bè. Xuân tha hương ở đây cô quạnh quá, lòng tôi cứ mãi cô đơn mỗi độ xuân về, thời gian hỡi, hãy trả lại cho tôi những ngày xưa thân ái...

Tân niên, an bình phú lộc đáo

Hỉ xuân, thắng lợi phát tài lai.

Hồng đào thịnh vượng vạn nhật hỉ

Hoàng mai như ý bách niên an

Khánh Lan

25 thg 1, 2024

NHỚ BẠN HIỀN









NHỚ BẠN HIỀN
***
Mỗi năm mai vàng nở
Ông đồ Cẩn lại về
Thăm cô con gái nhỏ
Và gặp bạn bè xưa
Bao nhiêu người tấm tắc
Thầm khen ông bạn già
Chẳng nề hà tuổi tác
Bay từ nước Úc xa
Về Việt Nam ăn Tết
Hẹn nhau đúng mồng hai
Họp mặt các bạn cũ
Hàn huyên chuyện lai rai
Trường xưa vẫn còn đấy
Thầy cô đã đi xa
Bụi tre già ủ rũ
Cổng trường cũng đổi thay
Năm nay mai vàng nở
Không thấy ông đồ già
Người bạn thân năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?

BÀI THƠ HOA ĐÀO

 


***
Đất nước đang vào xuân ,Tết Giáp Thìn đã cận kề. Nhìn hoa đào, hoa mai rộ nở khắp nơi, Mru tôi chợt nhớ một bài thơ nổi tiếng của Thôi Hộ vào thời Đường xưa của Thôi Hộ ,bài “Đề tích sở kiến xứ”. Bài thơ có hai câu cuối rất hay từng được thi hào Nguyễn Du đem vào Truyện Kiều để diễn tả mối tương quan sâu sắc giữa cảnh quan thiên nhiên và tâm tư tình cảm con người .Trong lần trở lại vườn Thúy tìm Kiều, Kim Trọng buồn man mác vì người xưa vắng bóng, chỉ thấy cảnh cũ hoa đào cười trước gió đông ngày xuân :
“ Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông ”
“Đề tích sở kiến xứ” còn có tên khác là “Đề Đô Thành Nam Trang“. Nguyên tác như sau :
題 都 城 南 莊 - ( 題昔所見處 )
去 年 今 日 此 門 中,
人 面 桃 花 相 映 紅。
人 面 不 知 何 處 去?
桃 花 依 舊 笑 春 風。
Dịch âm
Khứ niên kim nhật thử môn trung,
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.
Nhân diện bất tri hà xứ khứ,
Đào hoa y cựu tiếu đông phong
– Thôi Hộ –
Dịch nghĩa:
Ngày này năm ấy tại cửa này đây,
Hoa đào thắm sắc má ai ửng hồng.
Má hồng nay ở đâu sao chẳng thấy,
Đào hoa năm trước vẫn cười gió đông.
***
Bài thơ chỉ bốn câu sáng tác theo thể thất ngôn tứ tuyệt, tuy ngắn gọn nhưng súc tích, hàm ý sâu xa. Nội dung bài thơ kể về một mối tình si ,tơ duyên ngắn ngủi nhưng làm người ta nhớ mãi khôn nguôi.
Chuyện kể rằng vào tiết thanh minh năm ấy, có một chàng trai dạo chơi ở phía nam Đô thành. Trông thấy một trang viên hoa đào nở rộ, sắc hoa tươi thắm, chàng ta bèn lấy cớ vào xin nước uống để ngắm kĩ hơn.
Chàng trai gõ cửa,bước vào bắt gặp một thiếu nữ thanh tú. Người con gái mang nước mời chàng trai uống, cử chỉ vừa dịu dàng vừa kín đáo làm người khách nao lòng. Uống nước xong, chàng trai cảm tạ rồi cáo biệt. Khi về nhà, chàng trai vẫn nhớ mãi hình dáng hôm ấy của người con gái, cô có đôi má hây hây hồng tựa như cánh hoa nào.
Tròn một năm trôi qua, chàng trai trở lại chốn xưa, hy vọng gặp lại cố nhân. Nhưng cổng đóng then cài, gọi mãi mà chẳng thấy ai. Vấn vương ,tức cảnh sinh tình, chàng trai đề một bài thơ trên cánh cổng trước khi về.
Không lâu sau thấy lòng bồn chồn,chàng trai trở lại nghe tiếng khóc vọng ra từ trang viên. Một ông lão bước ra, vẻ mặt tiều tụy hỏi chàng trai kia có phải là người đã đề thơ lên cổng.Thì ra người con gái con của ông lão đọc xong bài thơ, nhớ thương đến bỏ ăn bỏ ngủ rồi ốm chết. Chàng trai đến ngồi cạnh xác người con gái .Nàng đã tắt thở nhưng vẻ mặt vẫn phớt hồng như hoa đào năm trước .Chàng xúc động ,cảm thương ,trách tạo hóa trớ trêu thay cho mối duyên con người .
Cũng có lời truyền rằng. Người con gái chưa hồn lìa khỏi xác, nghe tiếng khóc than của người thương thì tỉnh dậy. Từ đó hai người trở thành vợ chồng, cùng sống hạnh phúc ở đào hoa viên. Cũng từ điển tích này mà người ta hay ví gương mặt người con gái đẹp giống như hoa đào.

QUÊ TÔI Ở CHẮC CÀ ĐAO

 



Chuyện kể rằng trong một tuồng cải lương nổi tiếng, một danh hài khi được hỏi quê ở đâu, bèn đáp gọn: “Tui ở Chắc Cà Đao, Mặc Cần Dưng”.
Câu trả lời khôi hài vậy mà lại khiến nhiều người nhớ. Nó có duyên đến mức nhiều người chưa biết Chắc Cà Đao ở đâu cũng hay đáp “Quê tôi ở tận Chắc Cà Đao” để nói rằng nhà ở xa xôi, hẻo lánh lắm. Nhưng hỏi Chắc Cà Đao là gì thì không ai giải thích được. Vậy Chắc cà đao bắt nguồn từ đâu? Chắc Cà Đao ở đâu ? Nó có phải là một địa danh nào đó ở Việt Nam hay không?
Thật ra Chắc Cà Đao có thực và là tên một địa danh thuộc Thị trấn An Châu, huyện Châu Thanh, tỉnh An Giang. Nếu bạn đi trên Quốc lộ 91 theo hướng Long Xuyên lên Châu Đốc thì đi khoản 9km gặp cầu Chắc Cà Đao. Cầu này bắt qua con kênh cùng tên. Đi qua cầu, bên phải là chợ Chắc Cà Đao (ngày nay là chợ An Châu) và các cơ quan hành chính huyện. Bên trái là làng nghề làm gập chuột và khu dân cư.
Ngày xưa, cụm từ “Chắc Cà Đao” ngoài việc được dùng để chỉ một xứ sở xa lơ xa lắc ở đâu đó tuốt dưới miền Tây, còn được ám chỉ một nhân vật “quê mùa, thô kệch” lắm . “Mặc Cần Dưng” cũng vậy, tưởng như ba cái từ để trêu chọc qua lại, ấy vậy mà nó có thật.
Thường hai cụm từ trêu ngươi ấy luôn đi liền với nhau bởi nó là hai địa phương cũng chẳng xa nhau lắm đâu :
Làng quê tên Mặc Cần Dưng
Hướng lên Châu Đốc nửa chừng cầu cao.
Dưới kia là Chắc Cà Đao,
Cách tám cây số không sao lạc đường.
Thực tế là Chắc Cà Đao và Mặc Cần Dưng là một địa phương có từ lâu đời của tỉnh An Giang, hai địa phương này chỉ cách Long Xuyên trong khoảng 10km trở lại. Sau 1975, cả hai đều thuộc huyện Châu Thành. Mặc Cần Dưng là xã Bình Hòa, huyện Châu Thành. Sau này Bình Hòa chia thành 2 xã Bình Hòa và An Hòa. Còn Chắc Cà Đao trước là Hòa Bình Thạnh, huyện Châu Thành. Nay là thị trấn An Châu, tuy tên không còn nhưng chiếc cầu ngay thị trấn vẫn còn tên Chắc Cà Đao, như để hoài niệm về một thời xưa cũ.
Về nguồn gốc tên gọi Chắc Cà Đao có nhiều giả thiết. Cụ Vương Hồng Sển trong cuốn Tự vị quốc âm miền Nam nói có hai cách lý giải:
– Ông Nguyễn Văn Đính cho rằng Chắc Cà Đao là do tiếng Khmer “chắp kdam” nghĩa là “bắt cua” vì vùng này xưa kia có nhiều cua.
– Nhà nghiên cứu Sơn Nam nói Chắc Cà Đao là từ tiếng Khmer “prek pedao”. “Prek” là rạch, “pedao” là một loại dây mây (trong Lịch sử khẩn hoang miền Nam thì Sơn Nam nói prek pedao là rạch có cây rừng mọc).
Cụ Vương Hồng Sển cho rằng ý kiến ông Nguyễn Văn Đính đúng hơn. Có lẽ vì so với Chắc Cà Đao thì “chắp kdam” gần âm hơn là “prek pedao”. Tuy nhiên, theo cách nói của ông Nguyễn Văn Đính thì ta biết “chắp kdam” là một động từ, mà trong việc đặt tên cho các địa danh, người ta ít sử dụng động từ mà thường sử dụng danh từ hơn. Do đó, cách lý giải của nhà nghiên cứu Sơn Nam lại nghe có vẻ hợp lý hơn.
Năm mươi năm đi qua, ai không biết An Giang hiện nay là vựa lúa của miền Tây. Những chàng “Chắc cà đao” ngày nào không còn tồn tại. Vào thời buổi kinh tế thị trường, những anh nông dân An Giang đã trở thành những “cậu hai Long Xuyên” ăn chơi không kém “anh Hai Sài Gòn”. Có dịp về ngang vùng Long Xuyên, ghé lại một nhà hàng bên đường, thưởng thức những món đặc sản vùng nước nổi như ốc, rắn, chuột đồng hoặc thịt trâu hấp hèm… bên cạnh những cọng hẹ mỏng tang, cọng bông súng giòn rụm, lại được nghe tiếng đàn kìm và sáu câu vọng cổ đặc sệt Nam bộ mới thấy sự thay đổi của xứ sở này như thế nào…
Những ai đi Châu Đốc thường ngang qua địa danh này ,khởi từ Long Xuyên theo quốc lộ 91 đến thị trấn An Châu thuộc huyện Châu Thành, chỉ hơn 6 cây số sẽ gặp một cây cầu tên là cầu Chắc Cà Đao, bắc ngang qua con kênh cùng tên. Vùng đất hai bên con kênh dài hơn 15 cây số này được gọi là làng Chắc Cà Đao, nhưng bây giờ ít ai dùng địa danh có nguồn gốc Khơme ấy nữa, người ta thích dùng tên “sang” và hiện thực hơn, tùy vị trí, khi là thị trấn An Châu, khi là xã Hòa Bình Thạnh, thuộc huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Tóm lại, không chỉ có thật, Chắc Cà Đao còn là vùng cửa ngõ trung tâm của huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, với tên gọi thị trấn An Châu.
.

MÙA XUÂN TRONG KÝ ỨC TÔI

 

     


                      

                                                                                                                            Nguyenuthang

        Tôi xa Hà Nội sau khi ăn Tết Giáp Ngọ 1954 .Tôi còn nhớ tháng chạp năm đó, trời tự dưng trở rét . Những ngày cuối năm thời tiết càng lạnh hơn, ngủ đắp hai lớp chăn bông vẫn còn rét. Sáng dậy bước xuống giường lạnh cóng chân tay,tôi không dám rửa mặt mà chỉ lấy khăn nhúng vào nước nóng vắt nhẹ rồi lau.Sau đó súng sính chiếc aó len dài tay mà bà nội tự tay mặc cho, tôi chạy ra cửa chùa Bà Ngô gần nhà tìm mua quà sáng.

      Trước cổng chùa, vỉa hè rất thoáng nên có nhiều hàng rong tụ họp .Thường ngày tôi hay ăn xôi. Hôm nào rủng rỉnh tiền ,tôi mới dám chạy sang bên kia đường làm tô phở .(Trời rét mà ăn quà ở Hà Nội,thì theo tôi không món nào ngon hơn phở). Móc trong túi ra những đồng hào dành dụm gom nhặt cả tuần, tôi gọi một tô chín nạm vè. Trong lúc chờ đợi, tôi thích dõi mắt nhìn ông hàng phở.Tay ông thoǎn thoắt như múa: đầu tiên ông trụng bánh phở vào nồi nước đang sôi ,xóc xóc vài cái đổ ra bát, bốc thịt bò, rắc hành ngò, chan nước dùng nóng hổi... Khi bát phở đã dọn ra trước mặt ,thằng bé tôi không ăn ngay mà ngồi hít hà mùi thơm quyến rũ của phở ,cho hương vị phở lan tỏa khắp ngũ tạng rồi mới cầm đũa .

         Thông lệ, chiều 27 tết , bà nội mới phát lệnh gói bánh chưng. Nhà nội tôi trở lên nhộn nhịp hơn bao giờ hết vì các cô chú tụ về gom gạo thịt,lá dong…để nấu chung. Đông người nên thùng nấu bánh rất lớn .Bếp nấu là những viên gạch thẻ xếp thế kiềng ba chân đặt ở sân giữa ,phía trước cây hương .Bánh nấu suốt đêm ,đến sáng mới vớt ra bày từng cặp trên cái bàn ăn lớn .Ông nội cho để một  tấm ván to lên trên và dùng hai cái cối đá to đùng để ép cho bánh ráo nước .Sau tám tiếng ,bánh chưng mới được phân chia cho những người góp nấu mang về nhà. Bao giờ tôi cũng  là người nếm bánh chưng tết đầu tiên vì cuối buổi gói ,thế nào bà nội cũng nhín tay ưu aí gói cho riêng cho thằng cháu đích tôn một cái nhỏ với nhân bánh rất đặc biệt, ngon khỏi chê .

         Sáng hôm sau,tức 28 tết ,lúc gần trưa thì bố mẹ tôi và mấy đứa em từ Hải Phòng mới đến bằng tàu hoả .Đây là cơ hội anh em tôi tụ họp chơi đùa cùng nhau . Tôi đưa mấy đứa em đi dạo chơi ngoài Giám ( Quốc Tử Giám ). Nhà ông bà nội tôi ở cuối phố Sinh Từ ( Nguyễn Khuyến bây giờ ) nên chỉ đi bộ dăm phút là tới. Ngó mãi mấy cái bia đặt trên các con ruà khắc những chữ nho ngoằn ngoèo hay chạy đuổi bắt mấy con chuồn chuồn ngô hoài chẳng được cũng chán,tôi dẫn chúng đến cái miếu nhỏ nằm ở cuối Giám .Ngôi miếu nhỏ nhưng đầy người .Chỉ nhìn qua là tôi biết đang có người lên đồng .Len lách mãi tôi cũng dắt các em lọt qua hàng rào người đứng ngồi chen chúc quanh chiếc chiếu hoa trước bàn thờ, nơi có “cô đồng “đang ngồi lắc lư  với chiếc khăn đỏ chùm trên đầu .Chúng tôi chờ cả nửa giờ thì “ cô “mới “thăng” .”Cô” nhảy tưng tưng ,múa tay vung vẩy theo tiếng đàn í e réo rắt và tiếng chiêng chập chập ,cheng cheng .Sau cả mười lăm phút ,dáng chừng mỏi “cô” mới ngồi xuống .Đây là giây phút mà tôi chờ đợi vì “cô “sẽ ban phát lộc , tức là những đồng tiền giấy mới toanh được gấp xoắn thành những chiếc quạt hay con bướm ,con chim ...Mọi người xúm lại nịnh để “cô” phát lộc cho mình .Hôm ấy “cô” vui hoặc anh em chúng tôi gặp hên hay sao mà khi hết lộc rồi “cô’ còn mở tráp lấy ra một xấp tiền mới phát thêm.Thế là nhiều người xem bữa đó ngồi gần đều có lộc trong số có tôi. Có tiền ,tôi dắt các em ra trước Giám làm mấy đĩa gỏi bò khô ,thứ quà Hà Nội ăn chơi mà ngon đáo để .Sau này ăn ở miền Nam tôi không thấy người  nào bán món gỏi bò khô có mùi vị hấp dẫn như thế. Chỉ cần nghe những tiếng kéo cắt thịt bò khô cách cách từ xa là tôi đã thèm ứa nước dãi đầy miệng .

       Sống với ông bà nội ,tôi nhận ra trong các công việc chuẩn bị đón Tết, quan trọng nhất là cúng giao thừa. Bàn thờ lễ giao thừa phải đặt ở ngoài sân . Hai bên bát nhang có hai ngọn nến trung màu đỏ. Lễ vật gồm có con gà, bánh chưng, mứt , kẹo, trầu cau, hoa quả, rượu và không thể thiếu được giấy bạc, giấy tiền, vàng mã. Đặc biệt gà cúng phải là gà trống thiến và bao giờ ông nội tôi cũng tự tay cắt tiết và làm gà .Khi kim đồng hồ chỉ đúng 12 giờ, tức thì tiếng chuông chùa Bà Ngô đổ liên hồi, rồi pháo nổ không ngớt từ nhà này sang nhà khác.Ông nội tôi khăn áo chỉnh tề,bước ra trước  bàn thờ thắp nhang khấn lễ cầu xin đất trời, thần thánh phù hộ cho gia đình có một năm may mắn, bao nhiêu sự không may của năm trước hãy đi qua. Bà nội ,bố mẹ tôi và các cô chú khác lần lượt nối tiếp nhau ra đứng khấn vái , mỗi người đốt một nén nhang .

         Sau lễ giao thừa ,ông nội tôi mở một quyển sách lịch toàn chữ Tàu để chọn giờ, chọn hướng cho việc xuất hành lễ chùa và hái lộc đầu năm .Chỉ có bà nội và một vài người lớn được cho đi theo .Ông tôi vào nhà soạn bút mực chuẩn bị khai bút mừng xuân .Còn tôi và các em được mẹ dắt vào phòng , bắt phải ngủ .Mẹ bảo ngủ để ngày mai mới có sức dậy sớm chúc tết ông bà ,cha mẹ đúng giờ,nếu không dậy trễ thì “dông” cả năm .

         Năm nay xuân lại về trên khắp mọi miền đất nước .Không khí tết bây giờ khác xưa, không có tiếng pháo nổ vang nhưng trong tôi vẫn rạo rực cảm nhận sự chuyển mình của thiên nhiên , vạn vật .Tất cả đang xao động đổi thay trước thềm xuân mới .          

      Hồi tưởng lại hình ảnh những ngày tết Hà Nội năm xưa , tôi thấy lòng mình se lại. Ông bà ,cha mẹ không còn nữa nhưng tôi vẫn hình dung ra từng lời nói ,việc làm của các người mỗi khi năm hết,tết đến .Dù cho cuộc sống có thay đổi, phát triển đến mức độ như thế nào, nhưng những tập tục ,lề thói của cha ông vẫn cần được lưu giữ và truyền lại cho con cháu và trở thành truyền thống cho thế hệ mai sau. Mỗi năm trôi qua có nhiều chuyện buồn để lại nhưng cũng có biết bao cái được ,cái mới đáng nâng niu trân trọng.Vậy thì sao chúng ta không lạc quan tin yêu vào tương lai thay vì  phải buồn trước sự đột biến quá nhanh hoặc cái phản diện lai căng nào đó trong cuộc sống muôn mặt của thế giới hôm nay  ?

 

 

21 thg 8, 2023

“ NGỦ ĐÒ ”


        “Sống ở cái xứ Huế  nhỏ bé ’’ trong nhà chưa rõ, ngoài ngõ đã hay’’ lại mang nghiệp dĩ làm nhà mô phạm nếu bị gắn nhãn hiệu "Thầy nớ ngủ đò" thì sự nghiệp quân--phụ theo quan niệm Khổng Tử sẽ theo đò dọc mà trôi xuôi về biển”...

      Bài dưới đây, một status khá hay về  xứ Huế xưa viết với giọng văn dí dỏm, vui vui của 1 nhà giáo nhiều tuổi đời, giàu kiến thức , khá hay , phải cái hơi dài . Tuy ST đã lâu nhưng nay khi soạn tư liệu cũ , đọc lại thấy hay nên chia sẻ với bạn bè .Các bô lão nào thích, rộng dài thời gian , mời đọc tiêu sầu

         ***



          Năm  1971, trong một dịp vào Sài Gòn chấm thi tại trường Gia Long, tôi có dịp quen biết với một cặp vợ chồng người Nam, quê ở Cần Thơ. Vì biết là người Huế, lại đang dạy học ở vùng giới tuyến Đông Hà-Quảng Trị, nên anh chị đã dành cho tôi mối cảm tình đặc biệt của người lính văn phòng dành cho người lính đồn xa. Dù chưa ra Huế lần nào nhưng sự hiểu biết của cặp vợ chồng nầy về Huế khá

sâu sắc và tỉ mỉ như cách nhìn  của một nhà khảo cổ nhìn lại thời xa xưa qua sách vở. Một trong những mong ước của anh chị là một ngày nào đó được ra thăm Huế.

        Tôi mời anh chị mùa Hè năm sau ra Huế ở lại với gia đình tôi chơi để làm một chuyến du lịch vùng đất có  nhiều vui buồn đầy huyền thoại nầy.

         Sau  hơn một tuần chu du hết các thắng cảnh, lăng tẩm, chùa chiền, núi rừng,  sông biển của Huế, hai ngày trước khi rời Huế về lại Cần Thơ, anh chồng kéo riêng tôi ra quán cà phê, nhìn trước nhìn sau để yên chí là không có tai vách mạch rừng rồi mới trầm giọng nói nhỏ vào tai tôi:

- Mình muốn cậu cho mình biết cái "dzụ" đó.

 Tôi nhớn nhác chưa rõ chuyện gì, thì thào hỏi lại:

 - Cái "dzụ" gì vậy anh?

Anh trả lời hơi lắp bắp:

 - Thì, thì... cái "dzụ"... ngủ đò ấy mà!

 Tôi vỗ đùi cười ngặt nghẽo:

- Chuyện dễ ợt nằm trong lòng bàn tay, muốn lúc nào cũng đuợc mà anh làm tôi hết hồn.

Anh đỏ mặt nói như phân bua:

 -  Thì tụi mình là nhà giáo với nhau, mình sợ mang tiếng rồi thì khó lên lớp lắm. Bởi vậy mình rất tò mò muốn biết "ngủ đò" nó như thế nào, nhưng lại rất ngại làm phiền cậu.

       Vì nể bạn, tôi trả lời hăng tiết vịt cho có vẻ mình là dân lịch lãm ở quê hương mình, nhưng thật sự trong bụng cũng cảm thấy hơi "ớn lạnh" khi nghĩ tới chuyện ngủ đò. Hàng ngày tôi vẫn đi qua con đường Hàng Bè, có tên Huỳnh Thúc Kháng, nhưng ít khi dám ngó thẳng xuống những dãy đò đậu san sát dưới sông. Nhiều lần đi về khuya qua con đường Hàng Bè nầy, thường khi tôi cố giả câm giả điếc trước những lần các bà mối lái lôi kéo và mời gọi "Đò cậu !?" trên bến nước Tầm Dương canh khuya đưa khách nầy. Cái xứ Huế nhỏ bé "trong nhà chưa rõ, ngoài ngõ đã hay" lại mang nghiệp dĩ làm nhà mô phạm  mà được gắn nhãn hiệu "Thầy nớ ngủ đò" thì sự nghiệp quân sư phụ theo quan niệm Khổng Tử sẽ theo đò dọc mà trôi xuôi về biển.

     Sau khi nói cứng với anh bạn ở quán cà phê, tôi bỗng thấy lo cồn cào ruột gan.Việc đầu tiên là phóng xe một mình xuống Bao Vinh, tìm người bạn thân lớn tuổi có biệt danh nghe như hiệp khách hành là Phó Biên Thùy để vấn kế. Anh nổi tiếng một thời ngang dọc trong giới ăn chơi biết trọng nghĩa khinh tài ở Huế. Nghe  hết nỗi lòng thao thức của tôi, lại đến lượt anh cười dòn tan. Tôi vái thầm là nụ cười dễ dãi của Thùy không phải là nụ cười xã giao thiếu thực  tế chiến trường của tôi. Thùy hỏi một câu quá "hiện đại" làm tôi hơi ngỡ ngàng:

- Rứa bạn cậu muốn ngủ đò mà "ngủ chay" hay "ngủ mặn"? Tôi đang còn quờ quạng thì Thùy giải thích:

- Ngủ đò chay là thuê đò du lịch trên sông Hương để sinh hoạt bạn bè,văn nghệ, văn gừng với nhau cho vui. Còn ngủ đò mặn cũng là giong đò trên sông Hương, nhưng lại sinh họat ong bướm với những nàng Kiều sông Hương.

Tôi hỏi đùa :

- Nếu người ta thích cả "vào chay ra mặn" có được không?

 Thùy trả lời thật tình:

- Trường hợp tất cả khách đi đò đều là đàn ông thì chẳng có chi trở ngại, ai thích mục nào làm mục đó, nhưng nếu có phụ nữ thì bắt buộc phải  ngủ chay. Tôi liền cậy Thùy làm quân sư trong biến cố ngủ đò tổ chức cho người bạn.

      Theo sự cố vấn của Thùy, tôi về nhà và mời cả hai vợ chồng người bạn ra nói chuyện. Khi tôi mở lời đề nghị mời cả hai vợ chồng người bạn đi ngủ đò, anh chồng mặt tái xanh không biết vì sợ hay vì giận. Anh nhìn tôi một cách nghiêm khắc nửa như hối hận, nửa như trách móc, hỏi bằng một gịọng rất xa lạ và lạnh lùng:

-Xin lỗi anh, anh cho chúng tôi là hạng người nào...?

         Chị vợ mím môi, vòng tay trước ngực, mắt trống không nhìn bất động vào một cõi xa xăm nào đó để biểu lộ sự thất vọng vì bị xúc phạm. Tôi hơi lúng túng vì sự hiểu lầm có vẻ quá nghiêm trọng thì Thùy đã xuề xòa, cái xuề xòa của một tay từng trãi với đời đã làm cho không khí bớt ngột ngạt. Thùy đã đem hình ảnh những cuộc du thuyền rồng của giới vua quan và các sứ giả ngoại quốc  trên sông Hương ngày xưa làm phương tiện dẫn giải.

       Lịch sử ngủ đò trên sông Hương bắt nguồn từ thú chơi tao nhã của hàng mặc khách tao nhân. Đò chứa dầy trăng và chở đầy hương hoa của thơ và nhạc. Nếu có chăng những chén  rượu nồng và những trao gởi đầu mày cuối mắt thì cũng chỉ là những sương khói nhẹ nhàng kiểu tài tử giai nhân.Nước sông Hương, do đó, còn được gọi là nguồn “Tiêu Kim Thủy” – ngàn vàng chuốc môt trận cười. Nhưng  rồi mỗi nước non đều có một “lối xưa xe ngựa hồn thu thảo”. Chuyện ngủ đò trên sông Sông Hưong cũng thế, cũng có một thời tuổi trẻ và một thời tuổi già; một thời để yêu và  một thời để chết. Sông Hương đã trút áo hào hoa để sống còn qua những cơn tai biến của lịch sử, để hòa điệu sống giữa chợ đời đầy cát bụi. Cái thanh và cái thô của Huế bao giờ cũng có sẵn. Thanh hay thô là do kẻ đi  tìm...

        Thùy đã mô tả hết cái thanh và cái tục trong chuyện ngủ đò để thuyết phục cặp vợ chồng bạn tôi vui vẻ chấp nhận lời mời đi "ngủ đò" ngay chiều hôm đó.

          Chiếc đò khách có mui, lòng rộng  hơn hai thước cặp bến Thừa Phủ vào buổi chiều nắng sắp tắt. Thùy đã tế nhị mời thêm hai cặp vợ chồng yêu thích văn nghệ cùng đi và anh cũng đã khéo léo cho đò cặp vào bến Thừa Phủ thay vì bến Gia Hội hay Phu Văn Lâu vốn là những điểm nóng của khách "giang hồ ngủ mặn" để khỏi bị nhòm ngó. Cặp vợ chồng bạn tôi tỏ vẻ căng thẳng và hồi hộp thấy rõ với những giòng mồ hôi chảy dài trên má. Cả hai e dè bước xuống thuyền như một sự phó mặc cho số phận an bài.

        Đến khi thuyền ra giữa sông như cánh chim bằng đã cỡi mây vùng vẫy ra ngoài bốn bể thì cái cảm giác "ngủ đò" mới bắt đầu lắng xuống. Giữa lòng sông chiều nghe sóng vỗ mạn thuyền róc rách với sức đẩy của gió Nồm từ Thuận An lên tự nhiên cái cảm  giác trần tục từ từ nhường lại cho sự thanh khiết và lắng đọng trong mỗi con người. Thuyền hướng về phía cầu Bạch Hổ. Nhìn phía lái, o lái đò  tóc lộng gió chiều che nghiêng khuôn mặt trông như một người mẩu làm phông cho cầu Trường Tiền. Một phần nhỏ cầu Trường Tiền còn hoe nắng giống chiếc lược ngà cài trên mái tóc sông Hương. Cầu Bạch Hổ thô và đen  sậm có vẻ như hiện thân của sự thách đố với nắng gió và thời gian. Bên nầy là Thương Bạc, Phu Văn Lâu  với cột cờ Thành Nội sừng sững không biết uốn cong mình trước những cuồng phong của lịch sử nên đã mang đầy mình những vết tích tang thương.  Bên kia là bia Quốc Học-Đồng Khánh và con đường áo trắng ngây ngất biết  bao nhiêu kỷ niệm học trò đầy tiếng cười và tiếng thút thít dấu giữa khăn mù soa thêu hoa tím của gặp gỡ và chia xa thời tuổi dại.

       Cặp vợ chồng miền Nam ngồi sát vai nhau cho khỏi lạnh. Ngồi cạnh mũi thuyền, cả hai lặng im, mở to mắt,căng buồng phổi để tận hưởng buổi chiều trên sông Hương. Tôi thấy Thùy nhìn họ, không nói, nháy mắt mỉm cười. Cặp vợ chồng nhìn lại với ánh mắt  trẻ thơ mà trang trọng, tôi nghe cả hai cùng mấp máy: "Cám ơn anh! ".

       Chiếc đò bềnh bồng nương gió chiều lướt êm trên giòng sông Hương đang đổi từ màu xanh lam buổi chiều sang màu tím nhạt hoàng hôn và màu vàng lụa dưới ánh trăng con gái e ấp bên kia sông. Hai bên bờ, nhà cửa chìm khuất sau những bức tường cây giờ  đã đổi sang màu đen thăm thẳm huyền bí. Đọt dừa, đọt cau và tàng cây cao vút vẽ hoa văn cho nền trời bàng bạc khói sương. Trăng dát vàng trên  sóng nước và kết ngọc cả giòng sông. Khi thuyền đến nhánh sông chia ba gần chùa Thiên Mụ thì sông nước và làng mạc, ruộng đồng đã tắm ngập cả trăng. Khói sương, cây lá, lưng sóng và tóc mây đều choáng ngợp ánh trăng vàng lung linh huyền ảo.

          Giữa thanh vắng vô cùng con người bỗng cảm thấy cái tôi của mình tan loãng để hòa vào cái "đại ngã" của thiên nhiên. Mọi người trong đò hình như đang quên chiếc đò và giòng  sông để nói với nhau thật nhiều trong thinh lặng cho đến khi người chủ đò từ đằng lái bước tới, nói với khách bằng ngôn ngữ hiện thực của con người:

         -Xin quý khách cho biết là muốn neo đò ở đây hay chèo lên ngã điện Hòn Chén.         

   Thùy  hỏi ý kiến chung và quyết định hướng đò lên ngã thượng nguồn sông Hương. Đò chèo quanh như lưu luyến vùng sông nước xanh đen mượt trước chùa Thiên Mụ như có một chút gì tiếc nuối hương xưa rồi quay mũi hướng về phía núi Bãng Lãng. Anh bạn người Nam hỏi Thùy:

- Tôi đọc sử nghe nói Chùa Thiên  Mụ là do Nguyễn Hoàng - mà người đương thời gọi là chúa Tiên, cho khởi công xây dựng từ năm 1601 phải không anh? Được đứng trước một di tích lịch sử gần 4 thế kỷ mà vẫn còn nguyên vẹn như thế kia, tôi cảm thấy xúc động và ngưỡng phục người xưa vô cùng.

 Thùy giải thích thêm:

 -  Theo tương truyền thì khi xưa, ban đêm có người trông thấy một bà lão mặc áo đỏ quần xanh ngồi trên gò Hà Khê, tức là vùng đất cao của chùa Thiên Mụ ngay trước mặt chúng ta đây, nói rằng:"Rồi đây sẽ có một vị chúa dân tới nơi này để dựng chùa, đặng tụ linh khí và củng cố long mạch". Nói xong bà lão biến mất nên dân chúng bèn gọi gò Hà Khê là núi Thiên Mụ. Khi chúa Tiên đặt chân tới gò Hà Khê thấy cảnh trí hùng vĩ, trước có sông, sau có hồ, xa xa có núi. Cảm kích trước cảnh non sông cẩm  tú, trước khi quyết định dời đô về đất Thuận Hóa, chúa cho xây một ngôi chùa trên gò Hà Khê lấy tên là Thiên Mụ Tự, đó là chùa Thiên Mụ ngày nay.

        Người chủ đò cho biết nếu chỉ chèo tay mà không dùng động cơ gắn sẵn trên đò thì ít nhất cũng mất hai giờ nữa mới đến nhánh sông điện Hòn Chén. Thùy đề nghị là lúc về sẽ dùng đến máy, nhưng vòng lên chỉ nên chèo tay.

        Rốt cuộc dư vang của sóng nước sông đêm vẫn nghe vỗ vào mạn thuyền xao xác và tiếng chèo khua nước  vẫn nhè nhẹ chẻ nước để thuyền đi trong đêm trăng. Một người bạn của Thùy bắt đầu thổi sáo. Tiếng sáo dìu dặt nương theo hòa âm của đất trời đủ sức lay động lòng người. Những người trong đò bắt đầu ngâm thơ và hát  những bài tình ca hay nhất của mình. Cặp vợ chồng miền Nam cùng hát dân  ca điệu lý con sáo, rồi lý cây bông như thơ của Kim Tuấn:

Em nhớ chàng em hát lý cây bông

Như con sông con nước ròng con nước nổi

Em thương anh và nhớ anh quá đỗi...

Như cây lục bình quấn quít giòng sông...

Anh thương em sao anh "hổng"tới

Để em buồn em hát lý cây bông...

      Cô lái đò chừng như cũng hòa vui  với điệu hát câu hò ngồ ngộ nhưng đầy cảm xúc của khách bỗng cất tiếng hò dìu dặt theo nhịp với mái chèo. Tiêng hát cất lên từ sau lái mang âm vang thanh thoát của người lĩnh xướng

Ơ hơ...ơ ơ cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp

(Chớ) em qua không kịp (mà) tội lắm anh ơi à...ớ... ơ...ờ

Ơ hơ...ơ ơ... (Chơ) thà rằng không biết thì thôi 

(Chớ) biết rồi mỗi đứa (ư...à...) ơ hờ...hớ mà...

 mỗi nơi ớ hơ a à... cũng (ứ... a...) buồn...! 

       Tiếng hò vút cao, lững lờ rơi dần xuống thấp, rồi im bặt... Cũng buồn! Biết rồi mỗi đứa mỗi nơi cũng buồn. Có lẽ nguồn tình cảm miên man rất lãng mạn kiểu Huế nằm trong tiếng "cũng". Cái "cũng... buồn" rất e dè nhưng cũng rất nũng nịu thâm cung của cô gái Huế có nghĩa là níu kéo, là sẽ tương tư, là hào phóng một cách "tình cho đi ai lấy lại bao giờ".

        Tất cả những người khách có mặt trong đò đều khẩn khoản yêu cầu cô lái đò hò thêm bài nữa nhưng vẫn hoàn toàn im lặng, cái im lặng bất thường của một tâm hồn sôi nổi thường  có vẻ ghê ghê như cây cối mới theo gió vật vờ bỗng đứng yên giữa vùng tâm bão. Cô lái chỉ tay về mé sông bên kia với một vùng cây cối thâm u, đen kịt  trong đêm.

    Giọng cô nói như rì rào với gió :"Điện Hòn Chèn thờ Bà Chúa  đó. Ngài thiêng lắm. Ai hò hay hát giỏi, Ngài ưng ý, 'bắt lính' âm binh rồi thì hết đường chạy chữa, chỉ có nước đem chôn thôi".

       Nghe giọng nói  nghiêm trang như con chiên ngoan đạo của cô lái, khách trên đò cũng cảm  thấy phảng phất một chút sương mờ "ớn lạnh" nên chưa ai tiếp tục cuộc chơi "để em buồn em hát lý cây bông".  Cặp vợ chồng Nam Bộ xích lại gần nhau thêm chút nữa chừng như để che chở cho nhau mà trốn lính âm binh...

         Bỗng Phó Biên Thùy cất tiếng cười dòn tan như cốm bắp An Thuận, tiếng cười không chờ đợi và đúng lúc có mãnh lực an ủi chúng sinh trên đò như nhà pháp sư trừ ma ếm quỷ. Thùy chỉ tay về phía bờ sông bên kia, nơi có lùm cây cao nhô lên, nổi bật   giữa lằn chân trời cây đen thẩm, giải thích:

- Đó là Điện Hòn Chén, tên chữ là Ngọc Trản (có nghĩa là chén ngọc). Đây là đền thờ Nữ thần Thiên Y A Na, vốn là một nữ thần Chàm. Theo Đào Thái Hanh trong Bulletin des amis du vieux Hué; xuất bản năm 1914 mà thời đi học, tôi đọc lóm được của Ba tôi thì Thiên Y giáng trần qua bóng dáng của một thiếu nữ đẹp huyền diệu  và vào đời qua một câu chuyện tình thần tiên vương giả. Rồi cũng như những câu chuyện tình buồn của Huế, nữ thần cũng ra đi trong nước mắt. Nhưng cái mê hoặc của trần gian đau khổ nầy nó lạ lắm. Nó vẫn còn mãi níu kéo nữ thần vương vân với cuộc đời để ban bố bao nhiêu là phép lạ cho con người. Vì vậy, trong niên hiệu đầu, vua Gia Long ban cho nữ thần chức tước “Thần tối cao và ơn đức vô  biên, ban phước lành khắp mọi nơi đầy linhhiển” .

         Thế nhưng, khoảng hai năm trước,  tôi có dịp tham gia vào đoàn rước lễ của Thiên Tiên Thánh Giáo Huế, hành hương bằng thuyền trên sông Hương từ Điện Hòn Chén về Bãi Dâu với đoàn thuyền có đủ cờ quạt, lọng tàn, lễ nghi rực rỡ đầy màu sắc thì lại được nghe một vị chức sắc cho biết đây là nơi thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh. Nguyên bà là con gái thứ của Ngọc Hoàng Thượng Đế, giáng trần vào rằm tháng Tám năm 1557 đời Mạc Phúc nguyên tại Vụ Bản, tên Giáng Tiên. Người  tiên giáng phàm nhưng vẫn không thoát khỏi nợ tình với Trần Đào Lang. Và rồi cũng như Thánh nữ Thiên Y A Na, Thánh Mẫu Liễu Hạnh được về lại cõi trời năm hai mươi mốt tuổi, nhưng vẫn yêu cảnh trần gian nên đành xin Ngọc Hoàng trở lại... với nhiều  phép lạ giúp dân lành nên đã trở thành một trong Tứ Bất Tử của dân tộc Việt Nam: Phù Đổng, Chữ Đồng Tử, Tản ViênSơn Thánh và Liễu Hạnh. Bà Chúa Liễu Hạnh đã được sùng kính tôn thờ như một tín ngưỡng dân gian lan  rộng khắp nơi, từ Phủ Giày Nam Định, tới chùa Thiên Minh Lạng Sơn, vào đền Sòng Thanh Hóa, ra Tây Hồ Thăng Long, vào Sóc Hương Nghệ An... trước  khi giáng phàm chỉ đường cho chúa Nguyễn dựng nghiệp ở Đàng Trong và xây dựng dinh cơ ở Huế. Vua nhà Nguyễn đã sắc phong cho bà chúa là "Thượng Đẳng Tối Linh Thần".

         Theo nguồn tin dân gian truyền khẩu tại Huế thì bà chúa Điện Hòn Chén hết sức linh hiển. Đã có rất nhiều người buôn bán xuôi ngược trên sông Hương đã bị "bắt lính" vì có tài hát hò. Một số khác bị bà chúa "vật chết tươi" vì có thái độ bất kính khi đò chèo ngang qua Điện Hòn Chén. Năm Tự Đức thứ 15, nhà vua cảm  thương bá tánh vô tội bị chết oan nên đã đích thân lên Điện Hòn Chén đeo chuỗi hột bồ đề vào cổ bức tượng của bà chúa Liễu Hạnh và khuyên bà chúa hãy tu hành. Từ đó, bà chúa không còn linh hiển như xưa nữa.

         Người kể chuyện im lặng, rồi trầm giọng đọc thơ với một chút cười buồn:

                         Mắt nữ thánh cũng sầu xanh soi bóng 

                         Hương Giang ơi! Sao sóng lục vô chừng.

           Phó Biên Thùy lại cất cao giọng nói như đọc sớ trên sông:

- Xin van vái bà Chúa, nếu tối nay bà bắt lính, Thùy tôi xin tình nguyện đi ngay, đừng bắt ai khác tội nghiệp. Thùy nầy vốn ca xướng không hay nhưng được cái độc thân, vui tính. "Dương binh" được xếp loại hai, nếu vô "âm binh" xin bà xếp cho loại ba, lọai bốn chi cũng được...!

         Hình như lên tinh thần vì vui lây cái tinh thần hài hước của Thùy hay vì đã có người tình nguyện "chết" thay cho mình nên từ chủ đến khách trên đò đều lấy lại được cái vui hồn nhiên "giã gạo dưới trăng" tưởng như đã bị thần linh ném giữa giòng sông. Cái đẹp của vùng thượng nguồn sông Hương trong đêm là vẻ đẹp huyền bí của Nghìn Lẻ Một Đêm vì nó mênh mông và êm ả quá, nhưng trong từng giọt sương, từng mảnh trăng tan trên mặt sóng, từng tiếng vỗ cánh của bầy vạc ăn đêm và tiếng xao xác của lau  lách đều mang ít nhiều huyền thoại của Cố Đô với dư vang của những dấu oai linh hiển hách một thời vang bóng.

      Chị bạn người Nam bỗng thở mạnh, hít thật sâu và reo lên như vừa khám pha ra một điều gì mới lạ:

- Thấy không kìa! Tôi nghe như vừa có một mùi thơm thoang thoảng trầm hương đâu đây. Tôi đọc sách nghe kể là sông Hương có tên như vậy vì thường có mùi thơm trên sông…Có tiếng của anh bạn thổi sáo nói vọng ra từ phía trong muiđò:

 -  Tôi đang thưởng thức mùi thơm đó chị ơi, nhưng rất tiếc là mùi thơm của  Seventy Nine và Half and Half trộn lại từ trong chiếc "píp" của tôi.

Chị bạn tiếc rẻ:

 -Vậy thì lời đồn sông Hương có mùi thơm là bịa đặt sao?

 Thùy lên tiếng:

- Tôi cũng được nghe mấy cụ xưa kể rằng, xưa kia hai bên bờ sông Hương có mọc một giống cỏ gọi là "Thạch Xương Bồ", còn có tên gọi khác là "Ngoại Xương Bồ" (Acorus Gramineus). Các nhà đông y coi Thạch Xương Bồ có tác dụng chữa bệnh như vị thuốc trường sinh. Hoa và củ có mùi thơm đặc biệt, về mùa xuân phấn hoa bay thơm lừng khắp cả mặt sông nên mới có  tên là sông Hương.

Chị bạn người Nam lại thắc mắc:

 -  Anh có bao giờ nghe ai diễn tả lại cái "mùi thơm đặc biệt" của Thạch Xương Bồ nó thơm nồng, ngọt dịu, đam mê, giống như một mùi hoa nào đó mà  mình đã biết không?

Thùy trả lời hóm hỉnh:

- Chị ạ, tôi lớn từng này tuổi đầu rồi mà vẫn còn độc thân là vì hương sắc của Thạch Xương Bồ đó chị! Hồi còn sinh viên, tôi ở gần nhà ông thầy  Tàu. Ông thường khoe là trong ba cô con gái của ông, cô út là đại quý tử vì phấn má có mùi hương Thạch Xương Bồ. Tôi đã bao phen cố làm một chàng Trọng Thủy Việt Nam để cố "ngửi" mùi Thạch Xương Bồ trên má cô út Mỵ Châu Tàu lai coi thử cái "đọat hồn hương" đó nó ghê gớm tới mức nào nhưng thất bại, có lẽ vì ông già đã hiểu quá thâm thúy cái hệ lụy "Nam Quốc sơn hà" của Lý Thường Kiệt nên đã thẳng tay làm cho chúng tôi xẻ nghé tan đàn.

  Có tiếng anh chàng thổi sáo xen vào:

 -  Các vị nầy răng mà rắc rối dữ rứa? Thì cứ tạm cho mùi hương Thạch Xương Bồ nó cũng thơm thơm ngọt ngào giống thuốc Seventy  Nine và Half and Half của tôi đang hút đây nầy thì có chết ai đâu, bảo đảm sẽ không có ai chống đối hay kiện tụng chi mô mà sợ.

           Đò rời vùng Thiên Mụ, xuôi về mạn Kim Long. Một giọng ngâm thơ nào đó, không hay nhưng đầy cảm xúc, cất lên:

                Kim Long có gái mỹ miều, 

               Trẩm thương, trẩm nhớ, trẩm liều, trẩm đi

        Rồi cũng chính người ngâm bình luận:

 - Trời đất! Làm như gái Kim Long toàn là tiên nga giáng thế không bằng .Xưa vua mê người đẹp, vua liều vua đi là vì bị mấy ông quan lớn gài bẫy.  Những vị quan lớn trong triều phần đông ở miệt Kim Long cho gần cung đình. Ông nào cũng nuôi mộng con mình lên làm hoàng hậu nên lắm ông quan đã khôn khéo đóng kịch cho con gái cưng của mình mặc áo lụa hồng, choàng khăn nhiễu tím, giặt áo trên sông rồi thỉnh hoàng thượng lên nguồn dạo mát. Vua đã ê chề với các cô cung nữ trong cung quá rụt rè,run rẩy, sợ hãi trước long nhan nên mình cứng như cây củi. Nay ra ngoại thành nhìn trộm  được giai nhân má thắm lưng ong đang lả lơi để cho gió hôn trên má, nắng cắn trên vai, nước đầm trên yếm... Thế là vua tương tư. Vua cải trang vi hành đi thăm bá tánh. Vua thêm một lần biết yêu. Cung đình thêm  một hoàng hậu...

         Chuyện dân gian kể rằng, vua Thành Thái cải trang làm người dân thường, lặng lẽ lên Kim Long đi tìm giai nhân mà không gặp vì con gái Kim Long thường chuyên nghề thủ công ở  chỗ im mát nên nõn nà và đẹp nhưng ít khi ra ngoài. Vua thất vọng ngoắc  một chiếc đò trên bến sông Hương để thuê chèo xuôi về lại hoàng thành. Thuyền cặp bến rước khách, từ trong khoang thuyền, vua nhìn ra sau lái thấy cô chèo đò đang độ tuổi xuân căng phồng sức sống, với manh áo cũ vá  vai, với môi thắm má hồng và tóc mây vờn bay theo gió. Cô gái uyển chuyển theo mái chèo với vẻ đẹp tự nhiên làm vua rung động.  Vua lại gần hỏi với:

-Nì, o nớ! Rứa chớ có chồng con chi chưa?

 Cô gái che miệng cười duyên, đáp vọng lại:

 -Tui nghèo nàn xấu xí có ai mà ưa!

   Câu nói thủ phận, chơn chất càng  làm cho nhà vua cảm thấy cô gái càng đáng yêu hơn.

        Vua Thành Thái bước tới giữ tay chèo cô lái lại, bắn tiếng:

- Tui biết có đám ni khá lắm, để tui làm mối cho o. Chừ tui hỏi thiệt rứa chớ o có ưng lấy vua không cái đã?

          Cô gái vừa thẹn thùa, vừa sợ hãi, nhớn nhác nhìn quanh, thì thầm nói với người khách lạ:

 - Đừng nói bậy mà họ chém đầu chừ!

       Nhà vua đặt tay lên cùng mái chèo với cô gái, nói như reo vui:

-Thiệt mà! O mà nói “ưng” một tiếng là được lấy vua liền!

      Trong khi cô gái vẫn thẹn thùng thì có một cụ lớn tuổi cùng đi trong đò tham gia vào cuộc vui, lên tiếng:

- O nớ! Có mất chi mô mà lo. O cứ nói “ưng” một tiếng thử coi rồi để tui làm chứng cho.

    Cô gái chèo đò Kim Long đánh bạo, nhìn ông khách nói nhanh: "Ưng !"

     Vua Thành Thái thú vị dành lấy cán chèo trên tay cô gái:"Rứa thì ái phi ngồi nghỉ để trẩm chèo đưa về cung nghe."

        Sau duyên kỳ ngộ đó, cô lái đò áo vá vai đã trở thành một vương phi được nhà vua sủng ái.

                                                            (Theo Bảo Hiển - Chuyện Các Bà Trong Cung Nguyễn)

***

           Ngày vui thường qua mau và cuộc vui nào cũng có lúc tàn. Đò trăng của chúng tôi rồi cuối cùng cũng đành phải chia tay với nguồn nước trên của sông Hương để trở về bến cũ vì đã quá nửa đêm. Tráo về, người lái thuyền  đã đưa khách nhàn du trở lại với thực tại bằng cách gác mái chèo và nổ máy Yanmar F.10 gắn trên đò với tiếng nổ phành phạch rất phàm tục như múa lân đánh trống bể. Khi đò về đến Phu Văn Lâu, đò không được chạy máy mà phải chèo trở lại. Thoát khỏi mùi khét, âm thanh và sức đẩy của máy dầu cặn, trăng lại về trên sông và sóng lại vỗ mơn man vào mạn thuyền. Thuyền tạm dừng lại trước bến Văn Lâu, anh bạn người  Nam hỏi Thùy:

- Đây có tên là "Phú Vân Lâu", có lẽ bởi vì nơi đây thường có nhiều mây lắm phải không anh?

Thùy giải thích với nét cười thích thú:

- Hay! Anh đã sáng tạo một ý nghĩa mới cho một tên gọi sai do thói quen của quần chúng. Thật ra Phu Văn Lâu mới là tên gọi đúng của nơi nầy. Ngày xưa cái lầu nầy là trung tâm thông tin của triều đình với dân chúng. Những văn kiện quan trọng của nhà vua và triều đình được niêm yết  ở lầu nầy. Phu Văn Lâu có nghĩa là "lầu phô bày văn kiện" (Phu: phô bày; Văn: Giấy tờ văn kiện; Lâu: lầu). Anh nhìn kỹ vào đằng trước của lầu nầy sẽ thấy hai tấm bia có khắc chữ: Khuynh cái - Hạ mã (Nghiênglọng- Xuống ngựa). Bất cứ ai đi ngang qua đây đều phải nghiêng lọng đi đầu trần và xuống ngựa đi bộ để tỏ lòng tôn kính nhà vua. Từ Văn Lâu nhìn ra sông Hương có Nghinh Lương Đình, là nhà hóng mát của vua. Đó là cái nhà cuối cùng tiếp giáp với bến nước   của sông Hương trong khu vực cột cờ. Đây cũng là nơi thường vang vọng những tiếng hò quốc kêu đau thương sau ngày vua Duy Tân, nhóm Trần Cao Vân, Thái Phiên, Phan Thanh Tài đứng lên mưu đồ cuộc khởi nghĩa chống Pháp nhưng thất bại vì nội phản để đến nỗi vua bị đày, tướng bị xử trảm tại An Hòa:

                    Trước bến Văn Lâu

                     Ai  ngồi  ai  u 

                     Ai  sầu  ai  thảm

                     Ai thương ai cảm

                     Ai nhớ    ai trông...

                     Thuyền ai thấp thoáng bên sông

                     Nghe câu mái đẩy chạnh lòng nước non. 

         Nghe Thùy giải thích, ý nghĩ của những người trên đò như đang lãng đãng trôi về thời quá khứ. Chị bạn người Nam chỉ tay về phía cột cờ sừng sững làm bối cảnh chính cho cả vùng Phu Văn Lâu:

   - Cột cờ nầy hình như đã treo cờ vàng ba sọc đỏ từ thời chính phủ Trần Trọng Kim, rồi cờ đỏ sao vàng của Việt Minh khi Trần Huy Liệu nhận ấn tín từ tay vua Bảo Đại thoái vị trên lầu Ngọ Môn năm 1945. Không biết lần đầu tiên lá quốc kỳ được treo lên nơi đây là loại cờ nào và trông giống ra sao?

      Mọi cặp mắt lại hướng về Thùy, viên thuyền trưởng kiêm hướng dẫn viên bất đắc dĩ. Thùy trầm ngâm rồi dè dặt lên tiếng:

 -  Tôi có một ông đời sơ, nghe đâu là một trong những tác giả bình dân của  bài vè lịch sử nổi tiếng "Thất Thủ Kinh Đô", có kể lại rằng Cột Cờ Thành Nội xây cao 80 thước, ngang với đỉnh núi Ngự Bình. Quốc kỳ thời nhà Nguyễn là cờ ngũ hành, thường được treo trong các dịp Tết, lễ lớn của đất nước và triều đình, kèm theo các sắc cờ khánh hỷ đuôi nheo. 

     Đò lại tiếp tục di chuyển về phía cầu Trường Tiền. Một nhịp cầu đã gãy trong biến cố Mậu Thân nằm thương tích, lạnh lẽo dưới trăng như một vết chém ngang lưng đối với khách ngã nón trông cầu và trông tội nghiệp như vết sẹo ân oán vô tình trên khuôn mặt trái xoan nuột nà của cô nữ sinh Đồng Khánh.

    Người bạn miền Nam thắc mắc:

 -  Lúc nãy cô lái đò có hò : Cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịpEm theo không kịpTội lắm anh ơi!.." làm cho người nghe có cảm giác cầu Trường  Tiền dài mù mịt và sông Hương cuồn cuộn sóng dữ. Nhưng thực tế chiếc cầu đã ngắn mà giòng sông lại hiền hòa thế kia thì tại sao lại "qua không kịp" vậy kìa?

       Người bạn thổi sáo trả lời:

-      Muốn hiểu Huế cần phải biết cách "nói lẩy" của mấy o gái Huế. Ngày trước, sau khi cầu Trường Tiền do Pháp dựng lên, Huế bị chia ra làm hai thế giới: Phía bên nầy sông Hương là thế giới của người Việt Nam và phía   bên kia là thế giới của Tây. Người bình dân xứ Huế nhìn qua bên kia với   những tên xa lạ như vùng Xạc-Măng-Rông"(Charfanjon), "Mô-Ranh" (Morin Frères), "Trường Sài-Nhô" (Chaigneau Ecoles)... Vì vậy khi người tình đã  "qua cầu" Trường Tiền rồi thì kể như đã sang một vùng trời khác với thế  giới "tối rượu sâm-banh sáng sữa bò" xa lạ của Tây, Đầm... làm sao cô gái mộc mạc chân chim theo cho kịp được. Có thể nói mỗi bước chèo khoan của sông Hương đều có man mác một dòng lịch sử, nên đò đã đến gần khúc sông giữa cầu Gia Hội và Cồn Hến lúc nào mà khách đi dò vẫn còn miên man  trên những nhánh sông của quá khứ.

           Theo hướng dẫn của Thùy, thuyền tạm neo bên bờ sông Đào đổ ra sông Hương, gần cầu Gia Hội. Khi Thùy lên tiếng mời mọi người sẵn sàng "đi ăn" thì ai cũng nghĩ đến một tiệm ăn nào đó trên bờ. Thùy bước ra phía mũi đò và đưa tay ngoắc một một chiếc xuồng gần đó, dặn dò to nhỏ với người duy nhất ngồi trên xuồng. Người lái xuồng quay mũi đi lập tức.

  Anh bạn ngườiNam coi chừng đã đói bụng, nhắc:

- Còn chờ gì nữa, thôi chúng ta đi ăn đi các anh chị.

   Thùy cười:

-Chúng ta ăn ngay ở đây chứ khỏi cần đi đâu xa.

        Liền đó, ba bốn chiếc xuồng nan đã tiến tới cặp bên đò khách. Xuồng nan là một loại thuyền câu nhỏ, đan bằng tre, trét kín bằng dầu hắc hay dầu rái để nước khỏi rỉ vào. Xuồng chỉ cần một người lái với hai tay bơi hai chiếc chèo nhỏ gọi là chầm. Xuồng di chuyển thoăn thoắt và rất cơ động trên giòng sông nhỏ chằng chịt thuyền đò. Xuồng tạo thành một mạng lưới thông tin, liên lạc, mua bán, trao đổi rất nhanh chóng và tiện lợi trong thế giới thuyền chài trên sông Hương. Mỗi chiếc xuồng được trang bị như một bếp nhỏ và chuyên   trách một món ăn nào đó. Các chủ xuồng, hầu hết là mấy o, mấy thím. Những món ăn đặc thù của Huế như bún bò, cơm hến, cháo lòng, gà xé phay,   bánh bèo, bánh nậm, bánh bột lọc, bánh  ít, bánh cuốn, xôi thịt hon, chè xanh đánh, chè nhãn, chè hột sen, chè thịt quay... đều có đầy dủ trong những cửa hàng nổi tý hon nầy.

       Mở màn, mấy anh ăn gà xé phay uống với rượu nếp; mấy chị ăn bánh nậm tôm chấy và bánh bèo thịt heo luộc. Một anh bạn thắc mắc sao không uống bia hay rượu tây mà lại uống rượu nếp thì Thùy nêu ý kiến rằng, ngủ đò trên sông Hương thì ngon nhất là uống rượu nếp vì rượu nếp "đằm" và "ngấm dai". Nếu uống bia mà phải ngồi xếp bàn trên đò thì bụng sẽ "nê" và mắc “đi ngoài” liên tục. Đò trăng, lại có thêm người đẹp mà phải đứng trên đò làm cái công việc ngủ u ẩn trần ai thì còn chi là hồn thơ của Hương Giang dạ khúc nữa. Nếu uống  rượu mạnh thì sương đêm và gió sông rất dễ làm cho khách chìm đắm và có   khi ngủ quên trong hơi men, nhìn mọi vật lờ đờ sương khói, còn đâu cái cảm giác dìu dặt, ngây ngây  để nằm ngửa nhìn trăng, nằm nghiêng nhớ...bến! Tiếp theo là món ăn tùy   thích của mỗi người và cuối cùng là bún bò Huế. Cái ngon của "những nhà  hàng nổi sông Hương" đến từ hình ảnh chập chờn của những ngọn đèn dầu leo lắt, những bếp lửa mong manh, những bàn tay buông chầm cầm chèo thoăn thoắt, những món ăn chuẩn bị cầu kỳ mà nhìn đơn giản, những chén dĩa nhỏ nhắn, đơn sơ và đặc biệt là những món ăn thơm mùi "tiệm", nhưng cũng phảng phất mùi khói nhẹ nhàng trên đội xuồng rần rật đánh thức sông  Hương.

     Sau bữa ăn, có dấu hiệu bất thường nào đó đã gây nên một thoáng xôn xao trong đò. Hình như "triệu bất tường" phát xuất từ cặp vợ chồng người Nam. Cuối cùng hình như không còn đè nén được nữa, anh bạn người Nam bò sang phía tôi, ghé sát tai tôi thì thầm báo động: "Bả muốn tiểu tiện! Đây có chỗ nào đi không? ”.

        Tôi ráng nín cười, kéo tay anh bạn ra phía đằng sau lái để hỏi người chủ  đò về phương tiện vệ sinh. Người chủ đò lật đật đem ra một cái lon sữa Guigoz, nói một cách thật thà:

- Mời mấy "khách quan" ngồi trên đò đi trong lon "gô" ni cũng đặng.

       Anh  bạn lật đật tới đằng trước kéo bà xã ra đằng sau để giải tỏa bầu tâm sự. Tôi và người chủ đò tạm lánh mặt tận đằng sau lái để cặp vợ chồng tự  do chèo chống với nhau, nhưng anh chồng lại băn khoăn tới báo hung tin:

- Cái lon "gô" nó "kỳ" quá, bả đi khôngđược. Người chủ đò bèn đổi chiến thuật:

 -Thôi thì bồng bà lên trên mạn đò để đi xuống sông mau hơn.

        Anh bạn lại làm theo lời chỉ bảo, nhưng được một lát lại vào báo cáo:

 -Ngồi giữa lộ thiên nó, nó... trống trải quá hà, bả chịu hổng đi được.

       Tôi đã đoán là sự cố coi bộ không êm xuôi vì cái cảnh "Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn, trơ cái hồng nhan với nước non" khó mà chịu nổi với một người phụ nữ mới lần đầu đi ngủ đò. Tôi ngoắc đại một chiếc xuồng đang chèo chầm chậm gần đó và thuê chở chị vợ anh bạn vào bờ mới có nhà vệ sinh. Xuồng cặp sát ngay mạn đò và tôi vào đề ngay không cần uốn lưỡi một lần nào cả:

-   Mời chị lên ngay xuồng để vào bờ mới có nhà vệ sinh.

           Khi  chị bạn đã bước xuống chiếc xuồng nhỏ chòng chành, anh chồng và tôi định xuống theo nhưng o lái xuồng đã la ơi ới cản lại vì xuồng chở được tối đa là ba người. Cuối cùng tôi phải đi theo vì quen thuộc địa phương hơn. Xuồng vừa lướt êm vài chục thước, tôi bỗng nghe một tiếng rên nho nhỏ từ phía chị bạn miền Nam... và, tiếp theo là tiếng nước chảy róc rách từ trên tấm chỏng tre xuống lòng xuồng.

      Cô lái xuồng coi bộ hoảng hốt, nói với tôi bằng một giọng đặc sệt tiếng Huế vùng quê:

- Nì, eng nớ coi tề. Cấy chi kiêu rỏn rỏn ngụy hung. “Tòng” miền bị lủng răng hè? (Nè anh kia coi kìa. Cái gì kêu rỏng rỏng lạ lắm. Xuồng mình bị thủng sao kìa?)

     Cũng may là chị bạn hoàn toàn không hiểu cô lái xuồng đang nói gì. Mặc cho cô lái xuồng phản đối líu lo, tôi làm bộ trượt tay rồi vươn tay ra khoát mạnh nước lên xuồng cho mọi người cùng ướt. Khi ba người đều bị ướt, nguyên nhân có thể hơi khác nhau nhưng hậu quả vẫn là ướt, nghĩa là  huề cả làng. Xuồng cặp bờ, chị bạn nói rất nhỏ đủ tôi nghe:

- Thôi khỏi, cảm ơn anh, tôi "xong" rồi...!

o0o

      Nếu có một chút trăn trở, khách sẽ có dịp nằm nhìn trời cao và đen xanh thăm hẳm trên kia rồi vẽ ra những kỷ niệm, những khuôn mặt khi ẩn khi hiện với trăng sao lay lắt xa xăm và mờ nhạt.

 Nếu khách có chút máu văn nghệ vặt thì rất có thể thơ Hàn Mặc Tử sẽ hiện về hỏi thăm:

 “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó, 

     có chở trăng về kịp tối nay?

 Hoặc buồn hơn một chút nữa sẽ nhớ thơ Đường của Trương Kế :

 “Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên.

 Giang phong ngư hỏa đối sầu miên…

 Qụa kêu trăng lặn sương đêm.

 Đèn chài gió sóng cho thêm nỗi sầu…

         Ngủ đò mà ngủ ngon là chưa đạt, vì ngủ ngon là đã gói trọn cả trái đất này trong tiếng ngáy pho pho, mặc cho gối thắm, má hồng, môi son, mắt sóng rơi vào… “hư vô”. Ngủ đò là sống từng phút từng giây, từng vi ti của cảm giác để một mai lỡ “thuyền có về Đại Lược, duyên có ngược Kim Long” thì vẫn còn một chút gì để nhớ và để…thèm về một khuôn mặt khó quên, một giòng sông lãng đãng và một xứ Huế trầm lặng nhưng lãng mạn và đa tình không nói hết.

      Nằm trên đò, sẽ nghe một ngày tàn của Huế lịm dần với tiếng rao hàng xa xôi và mất hút của chè đậu xanh đậu ván, của bún bò, của phở. Rồi một ngày mới của Huế bắt đầu với tiếng chuông Thiên Mụ gióng lên lúc 5 giờ sáng. Huế trầm lặng qúa nên trong những ngày tốt trời tiếng chuông lan xa đến tận Văn Xá, Hương Cần, Chợ Nọ, Chợ Dinh. Một ngày mới của khách ngủ đò thường bắt đầu với ánh mặt trời “dòm mặt”. Khách sẽ mĩm cười với nắng, với Huế và với chính mình khi chải tóc trong gương: “Ngủ đò, một kỷ niệm khó quên mỗi lần nhớ Huế!”. Một đêm ngủ đò được coi là “đạt” khi sáng hôm sau khách ngỡ ngàng với chính mình vì hình như đêm qua mình và giòng sông đã tan loãng hòa làm một; mình đã coi những giá trị bao năm gìn vàng giữ ngọc thành phù phiếm và bỗng thấy đò nước sông Hương có một mày vẻ, một linh hồn riêng của nó. Rồi tự nhiên cảm thương chính mình, thương giòng sông, thương cuộc đời và thương số phận long đong của khách giang hồ và người kỹ n.

      Buổi chia tay trên phi trường Phú Bài, anh bạn miền Nam phát biểu cảm tưởng:" Chúng tôi thật may mắn vào giờ chót lại được đi ngủ đò. Chuyến nầy về thăm Huế mà không được đi ngủ đò thì chỉ mới biết Huế có một nửa. Từ nay tôi có thể lên lớp nói chuyện với học trò về cái thú ngủ đò trên sông Hương như nói chuyện dong thuyền ngâm thơ trên Hồ Tây, khỏi có băn khoăn hay ngại ngùng gì cả."

  Tôi nheo mắt nói riêng nho nhỏ với anh bạn:

– Thùy hẹn anh sang năm về Huế đi “ngủ mặn” đó nghe.

 Chị bạn vẫy tay từ biệt vẫn không quên nhắn lại:

– Cảnh Huế đã đẹp một cách thâm u mà người Huế lại quá thâm trầm. Cám ơn anh rất nhiều và sẽ nhớ mãi “Tuyệt Anh Hội” trên xuồng “cấp cứu”.

***

        Năm 1973, một năm sau ngày “Đại Lộ Kinh Hoàng”, tôi theo học sinh hồi cư trở lại Quảng Trị. Để giúp tuổi trẻ lang thang bụi đời trên vùng đất hồi cư còn đau ê ẩm với vết thương của chiến tranh nầy, tôi được mời vào Huế nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm của các tổ chức tiền phong đang hoạt động ở đó trong giới gái giang hồ và trẻ em hè phố, bụi đời. Nhờ vậy mà tôi được cái “hân hạnh trời đày” là ngủ đò miễn phí, công khai, nhưng lại ngủ đò chay, không phải trên thuyền rồng say duyên, thuyền tình nghiêng ngửa mà trên thuyền “thái giám” lặng lờ của trung tâm xã hội Caritas trên sông Hương.

        Tất cả ghe thuyền trên sông Hương có khoảng từ hai đến ba nghìn chiếc. Con số co giãn vì một số đò chợt đến chợt đi tùy mùa và tùy hoàn cảnh. Từng nhóm đò họp lại với nhau thành một khu vực nào đó gọi là Vạn Đò. Vạn An Hội, là vạn lớn nhất trong những năm 70, gồm các đò đậu hai bên bờ sông kéo dài từ cầu Gia Hội cho đến cầu Đông Ba và rải rác tới Cửa Trài. Những cô gái Sông Hương lạc loài hương phấn hầu hết nằm trong địa bàn của Vạn An Hội. Vạn Tân Bửu, Vạn Trường Độ, Vạn Lợi Thành kéo dài từ Bến Xe Buýt Chợ Đông Ba lên tới Cầu Mới và lẻ tẻ đó đây lên tới mạn dưới Kim Long. Các vạn đò trong vùng nầy chủ yếu là làm ăn bằng phương tiện đánh cá, vận tải hay mua bán đổi chác hơn là rước khách. Ngoài ra còn có một vạn đò rất cơ động và cũng đã đóng một vai trò rất sôi động trên sông Hương là Vạn Lanh Canh. Tên “Lanh Canh” xuất phát từ tiếng gõ lanh canh của các tròng đánh cá nhỏ lúc hành nghề. Nhưng sau nầy hầu hết đã chuyển nghề thành một mạng lưới phục vụ rất nhộn nhịp khắp nơi trên sông Hương.

        Huế là vùng đất của suy tư và tình cảm, nhưng lại không có chỗ dung thân cho ngày trở về của những đứa con hoang.

        Đọc Kiều, ai cũng cảm thương cho cuộc đời luân lạc, truân chuyên của một nàng Kiều tuyệt thế, tài hoa. Đến Huế, bao nhiêu người đã tiếc cho một giòng sông Hương hiền hòa mà phải cưu mang những đứa con bất hạnh.

      Có một nhà thơ cổ vừa lãng mạn, vừa trào phúng của Huế mà tôi rất hâm mộ, đó là cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vi, nhưng nhiều người lại không thích hai câu thơ đối của cụ sáng tác đâu vào khoảng năm 1947 mà dân Huế nhiều người thuộc. Người ta không thích bởi nó quá tàn nhẫn và trần trụi, thiếu mất một một lớp khói sóng mong nanh của sông Hương và lớp lá me bay che tiếng thở dài không hợp với phong thái lãng mạn, nhẹ nhàng và trầm tư của Huế. Đó là hai câu:

                  Núi Ngự không cây chim đậu đất

                 Sông Hương vắng khách đĩ kêu trời.

        Một sớm mùa Xuân trước khi Huyền Trân Công Chúa giã biệt sang Chiêm Quốc thì Huế vẫn là vùng Ô Châu Lạc Địa và giòng sông Hương vẫn là giòng sông trinh nguyên của chim bói cá dưới nước, chim sơn ca trên trời giữa hai bờ lau lách.

         Rồi một ngày, Huế trở thành Hoàng Triều Cương Thổ thì chim chóc lưa thưa vì sợ người săn đuổi, lau sậy không còn đất mọc vì hai bên bờ sông Hương đã bắt đầu phân chia Kẻ Chài và Kẻ Chợ. Kẻ Chài là tiền thân của những vạn đò mà hơn 500 sau sẽ thành mạng lưới dân thủy diện trên sông Hương hôm nay.

        Một thời, khách ngủ đò trên sông Hương là hàng tao nhân mặc khách. Những chàng tư mã áo xanh và những vương tôn công tử hào hoa trọng nghĩa khinh tài. Thuở đó, đò là phương tiện để chở nhạc và thơ, đầy tiếng ca, tiếng sáo, tiếng đàn, tiếng phách… chưa gợn một chút u tình.

         Rồi một thời tan tác đổ. Chiến tranh, phân ly, nghèo đói đã đưa những kiếp người vào ngõ cụt: “Bán thân nuôi miệng, bán tiếng nuôi con”. Những đứa con xứ Huế lỡ một lần làm điếm nhục gia phong là kể như chung thân biệt xứ.

         Nếu Huế có quyền chọn lựa những ước mơ thì ước mơ đầu tiên là đất nước sẽ giàu, những vùng quê thôi nghèo đói, những cô gái sông Hương có được một cuộc đời, nếu không được “êm đềm trướng rủ màn che” thì cũng đáng sống để trả sông Hương về lại dáng xưa với tiếng đàn, tiếng phách. Sông Hương khó mà chịu nỗi những tiếng cười vỡ vụn nhức buốt và những tiếng thở dài áo não đêm đêm trên những con đò!

          Giòng sông Hương cũng như một đời người chia thành nhiều khúc. Khúc thượng nguồn là tuổi trẻ măng tơ và thanh thoát. Khúc Thiên Mụ Kim Long là tuổi thành niên đã bắt đầu thấp thoáng ưu tư. Khúc Đông Ba Gia Hội là tuổi trưởng thành để vật lộn, tranh sống với đời “mười hai bến nước, bến mô trong thì nhờ, bến mô dơ thì chịu”. Từ đó, sông Hương sẽ rẽ về hai ngã: Ngã Đò Cồn, Vỹ Dạ mang dáng dấp trầm tư của con nhà quan về vườn qui ẩn. Ngã Bao Vinh, Ba Sình giống như tuổi sắp già chán cảnh bon chen, nhưng vẫn còn duyên nợ với cuộc đời, ít ra là cũng “phù thế giáo một vài câu thanh nghị”. Và cuối cuộc đời, rồi cũng như tất cả những nhánh sông Hương đều trôi về biển.

         Ngủ đò trên sông Hương là đang nằm trên giòng đời trôi chảy. Ngủ chay là tĩnh, ngủ mặn là động; động tĩnh cũng chỉ là hai mặt của một trự tiền. Nằm ngủ đò trên sông Hương có những lúc không biết đò trôi theo nước hay nước trôi theo đò. Trôi đi cũng có nghĩa là chảy về. Về đâu? Về lại chính mình. Khi tâm mình không động thì ngủ chay hay ngủ mặn, đò trôi hay nước trôi có nghĩa gì vì ta vẫn nằm đó. Nằm im nghe sóng hay nghiêng ngửa với thuyền tình thì vẫn là ngủ đò trên sông Hương. Khách viếng Huế vẫn thường có một tâm trạng chung là viếng Cố Đô, nghĩa là chân bước đi dưới những hàng phượng đỏ và nằm trên sóng nước sông Hương đang trôi chảy về xuôi mà hồn vẫn cứ rưng rưng với dĩ vãng. Khách cứ nhìn Huế như một thiên đường đã mất nên ngủ đò như một kẻ lạc hồn, ít khi tỉnh thức để “chộ mình đang ở bến mô”. Ngủ đò như thế là có nợ mà không có duyên với Huế.

         Có một người làm thơ tại Sacramento với những vần thơ lục bát mượt mà, cổ kính và đẹp kiêu xa như tên gọi một giai nhân thời dựng nước: Thục Nữ Văn Lang. Tôi đang loay hoay tìm câu kết luận cho bài nầy thì Thục Nữ Văn Lang vừa tặng bài thơ Khúc Sầu Thiên Cổ. Bài thơ mang âm hưởng buồn cổ độ của điệu hát Nam Ai, Nam Bình. Tiếng thơ nghe ra cũng là “có nợ” với cố đô rồi đó, nhưng chưa biết sẽ có duyên hay không:

Tình sầu vọng gởi cố đô

Sông soi cổ thá p- Thuyền lờ lững trôi.

Chiều tàn, mộ khúc à-ơi!

Não lòng lăng tẩm bên đồi nhớ vua.

Bốn ngàn năm của hồn xưa

Hương cau, Đền cũ, Lưa thưa nắng thề.

Ô Châu hề! Thuận Hoá hề!

Hoàng triều Nguyễn Thị đã về bến mô?

Ngàn đời còn đó Nam Ô

Khúc sầu thiên cổ: Điệu hò Nam Ai.

     Một đêm trăng nào đó với một con đò nhỏ trên sông Hương, trước khi ngủ đò, tôi sẽ đọc lại bài thơ nầy để Huế nghe thử có duyên tới mô, Huế hỉ! Nhưng có lẽ trước khi gởi thơ cho nước, tôi sẽ xin phép tác giả sửa lại một từ trong câu gần cuối của bài thơ:

                                                   Ngàn đời còn đó con đò

                                                  Khúc sầu thiên cổ: Điệu hò Nam Ai.

         Xin được thay “Nam Ô” bằng “con đò” vì Nam Ô xa quá, cách Huế cả một cái đèo Hải Vân trùng trùng mây bay sương phủ. Lại nữa, đò Nam Ô là đò nước mặn “ngủ đò nước mặn sợ hà ăn… chân”. Có ngủ đò nước ngọt sông Hương mới biết thương sông Hương. Và, thương những gót son, môi thắm, má hồng… của Huế đang cố dấu niềm u ẩn tàn phai sau nụ cười vỡ vụn và ánh mắt phong ba vì sông nước Hương Giang cứ trôi chảy hoài ra biển, quê hương thì biền biệt, răng lại quên mất nơi mô là chốn cũ quay về.

              Trần Kiêm Đoàn

HOA HỌC TRÒ-Trời đất dành riêng tuổi học trò.Một loài hoa đỏ rất nên thơ...

HOA HỌC TRÒ-Trời đất dành riêng tuổi học trò.Một loài hoa đỏ rất nên thơ...
Mỗi năm hoa nở mùa thi đến.Chạnh nhớ trường xưa nhớ bạn bè .Nguyenuthang ..