18 thg 4, 2017

TÔI ĐI THĂM ĐỀN THỜ LÝ THƯỜNG KIỆT


                        Viết tặng các bạn : Uthang,Chiêu,Ph.Y.
                                                       
---
"Nực cười châu chấu đá xe
Tưởng rằng chấu ngã ai ngờ xe nghiêng"

Tôi khởi hành từ Hà Đông bằng chuyến xe buýt số 2 . Khi xe chạy đến khu phố sầm uất ở đường Nguyễn Lương Bằng - quận Đống Đa, từ xa tôi đã thấy những lá cờ ngũ sắc tung bay phất phới trước cổng đình như  báo hiệu cho ngày lễ hay ngày hội lớn sắp hoặc đang diễn ra… Hình ảnh rực rỡ nhiều màu sắc đã lôi cuốn tôi  tập trung chú ý. Khi xe chạy đến gần ,nhìn trên cổng lớn hàng chữ “Đình Nam Đồng, nơi thờ Quốc công - Thái úy Lý Thường Kiệt”  đập vào mắt tôi. A, đúng đúng đây rồi ! Tôi vội vàng xin tài xế cho xuống xe ở trạm gần đó rồi mang hành trang đi bộ ngược lại chừng  200m để vào Đình.



Một cảm xúc khoan khoái tuyệt vời chạy khắp châu thân khi thấy Đền thờ Lý Thường Kiệt đang ở trước mắt mình , ngôi đền mà bao lâu ở miền Nam tôi từng ao ước, mong mỏi có dịp thăm viếng nhưng tiếc là trong những lần ra  Bắc trước đây  chưa có thời gian  ghé qua.
Việc đầu tiên của tôi là tìm gặp người giữ đền để tìm hiểu cặn kẽ về nguồn gốc. Đó là một ông lão tuổi khoảng thất tuần có gương mặt hiền lành, đầu chít khăn đống màu đen cổ truyền.


Qua chất giọng từ tốn và ấm áp, ông nói như người kể chuyện cho tôi nghe về lai lịch của đền.Thì ra ngôi đền này trước đây tọa lạc tại làng Thái Hòa, sau đó được chuyển về Ấp Nam Đồng . Ngày xưa Đình chỉ là một đền thờ nhỏ nằm ở giữa cánh đồng hoang vắng.Thủa ấy khung cảnh còn hoang sơ với những mảnh ruộng lúa, ao, chuôm…rải rác.Sau này chúng được san lấp và cải tạo thành mặt bằng rộng lớn để xây cất nhà cửa, chợ búa, dinh thự, nhà tập thể kiên cố như bây giờ .Những năm tháng dài đằng đẵng trôi qua đến nay tính ra đã hơn 300 năm.
Khuôn viên đền trước đây có chiều rộng chừng 150m và dài độ 250m. Trải qua thời gian cùng với các biến cố của chiến tranh, đất đền thờ bị dân làng lấn chiếm để xây dựng nhà cửa, cứ hẹp dần cho đến ngày  nay diện tích hiện hữu của đền còn rất hẹp.


Cổng đền thờ Lý Thường Kiệt tiếp giáp với đường Nguyễn Lương Bằng.Hai trụ cổng được xây cao 5m bằng gạch  có trạm trổ hoa văn. Một tấm bảng dài đúc bằng xi măng bắt ngang qua hai trụ cách nhau khoảng 6m, trên đó được gắn các hàng chữ lớn màu vàng đậm in trên nền đỏ rất đẹp. Cạnh cổng đền có một cây đa cổ thụ tỏa ra bóng mát dễ chịu, các rễ phụ mọc um tùm treo lơ lửng từ các cành trên không trải xuống gần mặt đất. Giữa sân đền có một lư hương lớn để mọi người thắp nhang chiêm bái. Tiếp đó là hai cây đèn đá đặt ở hai bên. Trước đây có thiết kế bóng đèn điện, nay đã hỏng chưa được trùng tu nên ngày lễ hội phải thắp tạm bằng đèn cầy.
Phía sau có hai con Nghê (linh vật có 4 chân) bằng đá vôi ở thế nằm giữ đền. Trước đây hai con Nghê này bằng đá đen xanh, loại đá quý,nhưng lúc trùng tu do sơ suất nào đó không rõ đã khiến cho chúng bị đổi chác thành đá vôi như bây giờ. Một sự thất thoát cổ vật thật đáng tiếc của ngôi đền.
Hai dãy nhà trệt có thờ các bài vị thần linh chạy dài, song song trên mỗi dãy ghi "Uống nước nhớ nguồn", còn dãy kia thì ghi "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây".
Trên vách phải đền có một bảng lớn ghi Thần tích Thành Hoàng làng Nam Đồng - Anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt.
Một bức tranh cực lớn bên trái vách có hình tượng vị tướng Lý Thường Kiệt oai nghi ngồi trên lưng ngựa, tay cầm đao. Bên cạnh có 4 câu thơ thần ở bờ sông Như Nguyệt (Sông Cầu). Đây cũng là bản tuyên ngôn độc lập siêu kinh điển đầu tiên của dân tộc Việt Nam.

      Sông núi nước Nam

Sông núi nước Nam, vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.



Bên trong đền:

Hai hàng cột song song, mỗi hàng có 6 cây, tổng cộng tất cả 12 cây cột gỗ cực lớn quý hiếm từ ngàn xưa có đường kính một người ôm không xuể.

Ở chính giữa điện thờ:

- Có bàn thờ Trình quan thần linh, các bài vị được sơn son thiếp vàng.
- Hai bên trưng bày các loại vũ khí (thương, đao…) của Thần Sấm Sét.
- Con ngựa đỏ có long bào trên lưng.
- Bên phải là kiệu rồng, có 2 cái lộng che để cung thỉnh kiệu rước tướng quân đi vi hành hay công tác.
- Trên cột có các câu đối để tôn vinh tướng quân:
                                         Thánh cung vạn tuế
                                         Thánh thọ vô cương
           Thượng đẳng tối linh
Bàn thờ trình các quan thần linh. Đây là nơi để khách thập phương chuẩn bị lễ vật cúng tế và trình diện các thần linh.
- Bên trái có con ngựa trắng (bạch mã) cùng với các vũ khí của thần sấm sét.
- Cùng các bài vị các bậc tiền nhân anh hùng và những người có công với tổ quốc.
Ở hậu cung, bàn thờ chính diện thờ Thái úy Lý Thường Kiệt, tượng ngài cao độ 3m sơn son thiếp vàng, trước bàn thờ có lư hương và hai con chim hạc. Bên trái có thần thiện cầm đao, bên phải có thần ác cầm thương để bảo vệ ngôi đền. Cảnh giới thật trang nghiêm và oai nghi, càng làm cho mọi người phải kính cẩn nghiêng mình trước oai lực của đình thờ.
Để có tài liệu thật chính xác, tôi xin trích lục các dữ liệu được ghi trên bảng Thần tích Thành Hoàng làng Nam Đồng - Anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt tại quận Đống Đa - Hà Nội, cũng như tri ân các ý kiến chọn lọc của thân hào nhân sỹ, các giáo sự chuyên gia đầu ngành văn hoá và xã hội đã đêm biết bao nhiêu kiến thức và óc mỹ thuật cùng nhau đóng góp để có kết quả hoàn thiện và tuyệt với như ngày hôm nay.
Tóm lược lịch sử, chiến công của Ngài được Tổ quốc  và lịch sử ghi công.
"Lý Thường Kiệt là một nhà quân sự, chính trị kiệt xuất thời Lý. Sinh năm Kỷ Mùi (1019), mất tháng 6 năm Ất Dậu (1105). Sử cũ ghi nơi quê ông ở phường Thái Hòa, nhưng công trình nghiên cứu mới cho rằng" đó là nơi sau khi ông đã làm quan và nổi tiếng. Còn chính quê ở làng An Xã cũ, huyện Quảng Đức tức khu vực phía Nam thành Thăng Long (khu làng An Xã sau dời ra bãi Sông Hồng, quanh bãi Phúc Xá ngày nay đổi tên là Cơ Xá nay thuộc Hà Nội).
Vào triều từ năm 23 tuổi với chức Hoàng Môn Chi Hậu, trải chưa đầy một kỳ, nổi tiếng khắp nội đình. năm 1061 nhận lệnh cầm quân đi trấn yên Thanh Nghệ. Năm 1069 được phong chức nguyên soái Đại Tướng chỉ huy đội tiên phong trong cuộc tấn công dài ngày vào các vùng phía Nam do Vua Lý Thánh Tông thân chinh. Sau khi toàn thắng được vua ban các chức Phụ Quốc Thái Phó và Phụ Quốc Thượng Tướng quân. Ít lâu sau ông lại thăng Thái úy Đồng Trung Thủ môn Hạ Bình Chương Sự là chức danh thứ hai trong triều. Năm 1072 vua Lý Thánh Tông mất, Lý Thường Kiệt tích cực đứng về phía mẹ nguyên phi Ỷ Lan và con là Lý Nhân Tông đánh bại phe Thái Hậu Thượng Dương và Thái Sư Lý Đạo Thành được gia phong chức Đôn Quốc Thái Úy Đại Tướng quân, Đại Tư Đồ và tước hiệu Thượng Phụ Công nắm toàn quyền cả văn và võ.
Nhờ nhìn xa trông rộng ông đã kịp thời giải hòa với nguyên Thái Sư Lý Đạo, xây dựng lại đoàn kết trong triều đình, mở khoa thi nho học. Năm 1075, trước âm mưu xâm lược ráo riết và những việc khiêu khích của triều đình nhà Tống, Lý Thường Kiệt chủ động tấn công lên mặt Bắc, phá tan đồn lũy các châu Khâm, Liêm, Ung Bạch và Dung và các trại Vĩnh Bình, Thái Bình Thiên Long, Cổ Vạn, tiêu hủy phần lớn những căn cứ hậu cần và những lực lượng do Tống dự trữ ở đây để xâm lược Đại Việt. Năm 1077 ông lại tổ chức thắng lợi phòng tuyến sông Như Nguyệt (tức Sông Cầu), bẻ gãy cuộc hành binh cướp nước ta của tướng Quách Quỷ nhà Tống buộc phải rút quân.
Truyền thuyết kể lại rằng: Một đêm bên bờ sông Như Nguyệt từ đền Thần Tam Giang (thờ Thần Trương Hống, Trương Hát) thấy vang lên lời thơ Thần :

  "Nam quốc Sơn Hà Nam đế cư
  Tuyệt nhiên định phận tại Thiên Thư
  Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
  Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư"

Nguyên bản chữ Hán

南 國 山 河

      
      
      
      

Nghĩa là:
               "Sông núi nước Nam Vua Nam ở
              Rành rành định phận ở sách trời
                  Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
                  Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời"

Nghe thơ binh sĩ ta thêm nức lòng, tinh thần chiến đấu càng cao.
Tháng 3 - 1077 quân Tống bị đánh tan. Sau chiến thắng Lý Thường Kiệt lo việc nội trị, tu bổ đê điều, cải tổ lại bộ máy hành chính trong toàn quốc.
 Từ năm 1082 - 1101 ông thôi giữ chức Tể Tướng và trông coi Trấn Thanh Hóa. Đầu niên hiệu Long Phú (1101) ông được gọi trở về lại Triều Đình. Những năm cuối đời Ngài còn cầm quân đi đánh Lý Giác Diễn Châu (1103) dẹp quân Chiêm quấy nhiễu ở Bố Chính (1104). Tổ chức lại bộ máy quân đội, duyệt đổi lại các đơn vị từ cấm binh đến dân quân. Với công lao hiển hách của mình Lý Thường Kiệt đã từng được cả Triều Đình nhà Lý quý trọng. Ngay lúc ông còn sống Lý Nhân tông đã cho làm bài hát để tán dương công trạng. Ông được lịch sử công nhận là một Anh hùng dân tộc kiệt xuất, một con người đã hiến dâng tất cả tâm hồn, sức lực cho một sự nghiệp duy nhất. Sự nghiệp độc lập Tổ quốc ở buổi đầu thời tự chủ. Tài năng quân sự đột xuất của ông đã làm kẻ thù khiếp phục. Bốn câu thơ Thần: Nam quốc sơn hà là xuất hiện trên phòng tuyến sông Cầu đã kết tinh từ lòng yêu nước và căm thù giặc của dân tộc ta chất chứa trong hàng nghìn năm. Bài thơ đó như một sức nén của ngôn từ, đã có một âm vang đặc biệt dội vào tâm hồn nhiều thế hệ, có cái khí thế của người Anh hùng đè bẹp kẻ thù.
Theo các cụ lão thành kể lại rằng: "Ngài được nhân dân Nam Đồng tôn là Thành Hoàng Nam Đồng" vì không những Ngài có công với nước với dân là anh hung dân tộc nước Việt mà Ngài còn là người đã đưa dân đến đây lập trại, dạy bảo dân làm ăn.
Trước đây nơi này gọi là Nam Đồng Trại thuộc Tổng An Hạ, huyện Hàn Long, tỉnh Hà Đông; nay là làng Nam Đồng thuộc đường Nam Đồng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Đình làng Nam Đồng là nơi thờ Ngài đã nhiều thế kỷ qua. Hàng năm mở hội vào ngày 17/2 và ngày 2/6 âm lịch để tưởng niệm Ngài. 
                                    *****
Tôi trở lại thăm đền thờ Thái úy Lý Thường Kiệt thêm một lần nữa vì quá ngưỡng mộ và muốn nói lên lòng chân thành biết ơn tiền nhân của tôi.
Đứng trước bàn thờ thiêng liêng, tôi quỳ xuống dưới chân Ngài, hai tay cầm nén hương, khói bay nghi ngút để lễ bái, tâm trí tôi tập trung hết vào bốn chữ "Uống nước nhớ nguồn", ôn lại lịch sử để thấy xuyên suốt công ơn to lớn của Ngài đối với đất nước ,Tổ quốc và lịch sử Việt Nam.
- Lý Thường Kiệt là một vị tướng kiệt xuất, tài giỏi, mưu lược. Ngài nhìn xa thấy rộng, đã hiến dâng trọn vẹn cả đời mình cho Tổ quốc. Từ  tuổi thanh xuân (23 tuổi) Ngài đã vào triều phục vụ cho đến tuổi cổ lai hy (86) . Tuy tuổi già nhưng phong cách Ngài vẫn oai nghi, can trường tay cầm đao, ngồi trên mình ngựa điều khiển ba quân viễn chinh phá Tống  bình Chiêm .
- Ngài còn là một nhà chính trị lỗi lạc, một nhà đạo đức có tấm lòng vị tha và khoan dung. Biết phò tá lập minh quân Lý Nhân Tông.Biết xây dựng sức mạnh đại đoàn kết dân tộc thành một khối bằng lòng vị tha quân tử, hòa hợp với các đối thủ trong triều đình, quên mối thù riêng mà xây dựng đại nghĩa.
- Ngài là một nhà kinh tế đại tài, làm cho dân giàu nước mạnh. Ngài cho xây dựng thêm thôn làng, tu bổ đê điều, khai hoang lập ấp trấn giữ phần đất Thanh Nghệ để mở mang bờ cõi về phía Nam, ngăn chặn quân Chiêm Thành, kẻ thù sách nhiễu.
- Bốn câu thơ Thần bên bờ sông Như Nguyệt là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam đã làm cho kẻ thù mất vía và run sợ.
Gương của tiền nhân sáng tỏ, vĩ đại như vậy lẽ nào thế hệ chúng ta ngày nay sao không lấy đó soi chung, để cùng nhau xây dựng đất nước.
       Bài viết xin được kết thúc ở đây.Qua bài viết,tôi mạnh dạn bày tỏ đôi điều suy nghĩ,cảm xúc, có thể còn nông cạn, sơ sót nhưng là thành ý .Mong nhận được hồi âm từ bạn bè và thân hữu dù là chia sẻ, đồng tình hay phản biện ?

                        Hà Nội, ngày 17 tháng 4 năm 2017
                             Nguyễn Thế Tân - Vũng Tàu ba lô                                           (thetan1944@gmail.com)

10 thg 4, 2017

TOP CÁC MÓN ĐẶC SẢN PHẢI ĂN KHI ĐẾN PHAN THIẾT 2017


1. Bánh canh chả cá

Món này cực phổ biến ở Phan Thiết luôn, bạn có thể dễ dàng tìm thấy những hàng quán bánh canh ven đường hoặc ở các khu chợ. Tất nhiên không phải chỉ ở Phan Thiết mới có bánh canh chả cá nhưng phải ăn bánh canh chả cá ở Phan Thiết thì mới đúng vị. Giá cả lại vô cùng bình dân, ăn một lần là nhớ mãi luôn.


2. Bánh căn

Thêm một món quan thuộc nữa nè. Bánh căn ở đây có thể ăn với trứng luộc và xíu mại hoặc cá kho. Có chỗ còn để thêm tốp mỡ chiên, ăn kèm với xoài bào chua chua, bảo đảm nghiện ngay từ phút đầu tiên. Ăn chừng vài cặp là no nê lăn quay nha

3. Bánh hỏi lòng heo

Trong miền Nam người ta ăn bánh hỏi với heo quay, còn Phan Thiết mình ăn với lòng heo luộc, ăn kèm với rau sống, chấm nước mắm pha mặn mặn, ngọt ngọt. Lòng heo được làm sạch sẽ, không bị hôi tanh, sợi bánh hỏi mềm dẻo, ăn là thích ngay.

4. Bánh rế

Bánh được làm từ khoai lang bào, chiên lên và được phết lên một lớp mạch nha. Ai có dịp đến Phan Thiết chơi thì phải mua bánh này về làm quà, hôm nào buồn miệng thì lấy miếng bánh rế ra nhâm nhi, thêm tách trà nóng bên cạnh nữa. Vị khoai lang bùi bùi, mạch nha ngọt ngọt, uống một ngụm trà là cực đúng vị ngon nè.

5. Bánh tráng nướng mắm ruốc

Món này ở vỉa hè Phan Thiết bán nhiều lắm nè. Ai đi xa Phan Thiết thì khó tìm được chỗ nào bán lắm, miếng bánh tráng mè dày được nướng lên thơm thơm, rồi thêm trứng cút và tất nhiên không thể thiếu nguyên liệu chính là mắm ruốc, vị không lẫn vào đâu được.

6. Bánh quai vạc

Loại này thoạt nhìn giống bánh bột lọc của miền Nam, cũng ăn kèm với nước mắm nhưng ăn vị khác hẳn. Thường ở các khu chợ có bán nhiều lắm, đến Phan Thiết ăn thử một lần, coi chừng bị ghiền đó .

7. Chả cá

Tuy ở đâu cũng có chả cá nhưng vị chả cá ở Phan Thiết lại vô cùng đặc biệt, khiến thực khách cứ thích ăn mãi. Ai đến đây du lịch cũng phải tìm mua một hoặc vài ổ chả cá về làm quà, tuy dân dã nhưng lại ngon vô cùng.

8. Chả lụi

Món này nổi tiếng ở Lagi, chạ lụi được nướng lên thơm bung mũi, ăn kèm với nước chấm hết sức đặc trưng, rau sống tươi thật tươi. Đang đói bụng mà đi ngang hàng chả lụi thì phải lủi vô ăn ngay và luôn.

9. Cốm sữa

Món cốm sữa hẳn là niềm tự hào của người dân Phan Thiết luôn đấy nhé, mỗi dịp lễ Tết, trên bàn thờ tổ tiên của nhà nào cũng đặt một hộp cốm sữa. Món này ăn vặt thì ngon phải biết, cốm thơm thơm mùi sữa, buồn miệng ăn một miệng là nghiện luôn.

10. Gỏi ốc giác

Dường như chỉ có ở Phan Thiết mới có món này. Gọi trộn vừa miệng, ăn với bánh đa. Có 1 điều đặc biệt là đây là món yêu thích của mấy cô cậu học trò sứ biển lộng gió. Đến đây phải tìm ăn gỏi ốc giác cho biết vị ngon thế nào nhé!

11. Gỏi thanh long

Nghe tên là thấy đặc biệt rồi . Nào giờ có nghe ai nhắc đến thanh long mà làm gỏi đâu, giờ mới biết luôn. Cứ tưởng không ngon nhưng lại ngon không tưởng. Ở nhà cũng có thể tự làm món này nhưng đến Phan Thiết để ăn gỏi thanh long thì cảm giác sẽ thú vị hơn nhiều.

12. Lẩu thả

Mỗi lần nghe tên lẩu thả là nghĩ ngay đến Phan Thiết liền chứ không lẫn vào đâu hết. vẫn như bao món lẩu khác thôi nhưng được tỉ mỉ bày trí, khiến người ăn luôn cảm thấy thú vị. Màu sắc rau đủ loại, hải sản tươi ngon của vùng biển, bạn bè lâu ngày hội họp, "lạc trôi" với suất lẩu thả ngon lạc lối luôn.

13. Răng mực

Món này bây giờ khá phổ biến ở các địa phương khác, nhưng Phan Thiết là nơi sản sinh ra món tuyệt vời này. Cứ nghĩ rằng răng mực vô dụng nhưng người Phan Thiết lại biết cách biến tấu, chế biến thành món ăn đặc trưng của quê mình. Răng mực thường được nướng, luộc hoặc tẩm bột chiên, món ăn vặt cực hấp dẫn cho các bạn thưởng thức mỗi khi buồn miệng đây.

14. Trứng mực hấp

Món này thường được bán ở chợ, và phải ăn buổi sáng hoặc trưa thì mới ngon nhé các bạn. Làm mồi nhậu thì ngon phải biết luôn, ăn kèm với rau răm, muối tiêu chanh ớt. Đến Phan Thiết mà không thử món này thì hơi tiếc nhé .

15. Xíu mại

Bánh mì giòn giòn ăn với xíu mại béo béo, thường có cả trứng luộc và da heo. Thường bán từ sáng đến tối nên lúc nào thèm thì cứ chạy tìm quán ăn thôi. Người Phan Thiết còn ghiền món này huống hồ gì khách du lịch.


16. Xôi vò bánh chiên


Thêm một sự kết hợp độc đáo nữa của những người vùng biển. Thoát nghĩ có vẻ kì nhưng ăn lại ngon vô cùng luôn.


17. Cá lồi xói mỡ
Món ăn đơn giản với một con cá lồi hấp chín, xối mỡ hành, ăn kèm cùng bánh tráng nhưng đây luôn là món ăn đầu tiên nằm trong thực đơn của các quán ăn ở Phan Thiết.


18. Tôm mũ ni
Tôm vỗ là tên gọi khác của tôm mũ ni, thịt tôm vỗ trắng tinh rất mềm và thơm ngọt. Đặc biệt bổ dưỡng, dù ăn nhiều bạn cũng sẽ không có cảm giác bị ngấy.


Foody.vn
 Theo Ngọc Trâm 

28 thg 3, 2017

ĐẤT HIẾM - KIM LOẠI QUÝ HƠN VÀNG -THẾ NHƯNG...


Kim loại  Quý hơn vàng" đã giúp TC tăng trưởng phi mã, nhưng dần hủy hoại đất nước này như thế nào ?

Với hồ chất thải rộng không tưởng, và hàng ngàn người dân ung thư, nhưng ngành Công nghiệp này vẫn tiếp tục tồn tại do nhu cầu sản xuất quá lớn.
                           Hãy hiểu “Rare Earth” (Đất Hiếm) là gì?
Đó là loại kim loại có thể xứng đáng với biệt danh “Quý hơn vàng", bởi lẽ nhu cầu sử dụng loại kim loại này toàn thế giới là cực kỳ lớn. Những nguyên tố như terbium được sử dụng trong sản xuất bóng đèn tiết kiệm điện, neodymium được dùng trong turbine khai thác sức gió, lanthanum được dùng trong sản xuất ắc quy cho xe hơi chạy điện.

Loại Đất Hiếm mang tên Dysprosi.

Đất Hiếm còn được sử dụng trong sản xuất điện thoại, máy tính, iPod, màn hình phẳng LCD, máy giặt, máy chụp X-quang, và thậm chí cho hệ thống dẫn đường cho hỏa tiễn, và cả tàu vũ trụ nữa. Ngành Công nghiệp dựa trên những loại Đất Hiếm này ước tính có giá trị 2 tỷ Bảng Anh, chiếm 5% tổng GDP toàn cầu.

Mỏ khai thác Đất Hiếm lớn nhất thế giới:

Đó là mỏ Bayan Obo, tại TC, mỏ Đất Hiếm lớn nhất trên thế giới, đã hoạt động suốt 5 thập kỷ nay rồi.
Mỏ quặng Đất Hiếm khổng lồ Bayan Obo.

Đá ở đây chứa đầy Đất Hiếm lẫn trong quặng sắt. Với trữ lượng lớn như vậy, mỏ này là nguồn cung cấp Đất Hiếm hàng đầu trên thế giới. Việc sản xuất đồ điện của phương Tây dựa nhiều vào nguồn khoáng chất từ mỏ này. Năm 2008, TC cung cấp 139.000 tấn Đất Hiếm cho ngành Công nghiệp ở mọi nơi, chiếm 97% sản lượng Đất Hiếm trên toàn thế giới.

Như ở Trung Đông có dầu mỏ, thì ở TC lại rất giàu Đất Hiếm. "Đây không chỉ là quê hương Đất Hiếm tại TC, mà còn là của toàn thế giới nữa !", như một người làm việc tại khu mỏ này nhận định.
Nhưng ngành Công nghiệp khai thác khổng lồ như vậy, thì hẳn phải có mặt trái của nó. Chính chính sách quản lý môi trường lỏng lẻo tại đất nước tỷ dân này, đã khiến cho việc sản xuất Đất Hiếm trở nên dễ dàng hơn, khi mà giá thành sản xuất chỉ gần bằng 1/3 với những đối thủ cạnh tranh khác. Theo một báo cáo về ngành Công nghiệp Đất Hiếm năm 2010, đất nước này "gần như không có quy trình xử lý chất thải ô nhiễm nào đạt tiêu chuẩn cả !".


                                        Chất thải từ nhà máy chế biến Đất Hiếm.
Cũng như nhà máy nguyên tử, dự án chế biến Đất Hiếm cũng cần những biện pháp nghiêm ngặt, để ngăn ngừa ảnh hưởng nặng nề của nó tới môi trường, theo lời của Peter Karamoskos, một nhà Nghiên cứu về các biện pháp an toàn nguyên tử của viện Nghiên cứu An toàn Nguyên tử, và Phóng xạ Úc.
Những ô nhiễm từ mỏ Đất Hiếm Bayan Obo này là lý do tại sao những nông dân tại những đồn điền trồng cây, và những vùng đất canh tác quanh khu mỏ, đều bỏ nhà cửa, và ruộng vườn để tìm kiếm công việc mới. Như anh Liu, một cựu nông dân nay đã là công nhân khai thác quặng, nói rằng: Anh có thể kiếm được số tiền nhiều gấp 5 lần làm nông với công việc khai thác ở đây.


Một công nhân tại khu mỏ Đất Hiếm Bayan Obo.

Một công nhân khác, anh Guo Fu Qiang cho biết: "Tiền được trả khá là hậu hĩnh, nhưng chủ dự án không trả thêm đồng nào cho chúng tôi, khi phải làm trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, cũng như môi trường cực kỳ độc hại, hơn nữa không ai trong chúng tôi có bảo hiểm tai nạn cả !”.
Một người khác làm tại nhà kho nói rằng: Anh sẽ không bao giờ đặt chân vào khu mỏ kia, hay những khu vực khai thác Đất Hiếm, dù có được trả bao nhiêu tiền đi chăng nữa: "Chẳng khác gì tự sát !. Bạn làm việc ở đó thì sớm muộn gì cũng bị ung thư mà chết thôi !".



Không rõ là làm ở nhà kho thì sống lâu hơn được bao lâu, khi mà toàn bộ môi trường xung quanh khu mỏ khổng lồ này đều nhiễm độc nặng nề !.
Đúng vậy, nguồn thu nhập ấy cũng có cái giá đắt khác phải trả, một môi trường bị hủy hoại hoàn toàn. Khu dân cư cũng như các khu vực xung quanh dần bị ô nhiễm. Toàn bộ vùng lân cận trở thành khu vực chết, những cỗ máy chế biến quặng được vứt đó đây, khiến cho toàn bộ vùng đất gợi lên cảm giác tan hoang sau một cuộc chiến.

Những ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường:
Phía Bắc TC, gần biên giới Mông Cổ, một hồ chất thải tồn tại nhiều thập kỷ nay, đang đe dọa tới nguồn nước sông Hoàng Hà, nguồn nước quan trọng của hơn 150 triệu dân.
Tại tỉnh Quảng Đông phía Đông nam TC, người ta đang cố gắng cải tạo những cánh đồng lúa, và những suối, kênh nước tại đây, những thứ đã bị hủy hoại bởi nguồn acid cực mạnh rò rỉ từ những khu khai thác Đất Hiếm gần đó.

Chính quyền TC vẫn liên tục từ chối những mối lo ngại mà cộng đồng quốc tế, cũng như Tổ chức Thương mại Thế giới nêu ra, rằng: Những hậu quả để lại từ việc khai thác Đất Hiếm tới môi trường sẽ cực kỳ nặng nề.
Tất cả những ngôi làng nằm giữa thành phố Bao Đầu, và sông Hoàng Hà, đều đã được di tản, và tái định cư, khi có những báo cáo cho rằng: Tỉ lệ ung thư tăng cao đột biến, mà nguyên nhân không gì khác chính là do việc khai thác, và tinh chế Đất Hiếm.

Những nhà máy chế biến những loại kim loại này thải ra rất nhiều loại chất thải độc hại, dễ thấy nhất là thorium phóng xạ nặng. Hàng tấn acid sulfuric đậm đặc được sử dụng để phá vỡ cấu trúc hóa học của quặng Đất Hiếm, từ đó mới có thể tinh chế được Đất Hiếm nguyên chất. Những thứ chất thải kinh dị đó được thải hết vào một hồ chứa gần sông Hoàng Hà, ngay ngoại ô phía Đông thành phố Bao Đầu, một hồ chứa rộng tới hơn 10 km2.


Một hồ lớn rộng khuất tầm mắt, chứa đầy những chất thải nhầy nhụa, đen đúa, và độc hại tột cùng. Bên bờ là hàng tá những đường ống thải vẫn đều đặn đổ xuống hồ những phần thừa từ phương pháp chế biến Đất Hiếm của những nhà máy gần đó. Mùi sulfur nồng nặc, kèm theo những âm thanh ồn ào của những chiếc ống xả thải không ngớt hoạt động, làm cho nơi đây mang lại cảm giác như của một địa ngục trần gian !.
Bạn có thể nhìn thấy hình ảnh hồ chất thải này từ Google Earth, và nếu bạn phóng to lên, bạn sẽ thấy những đường ống bên bờ hồ, được nối từ những nhà máy chế biến Đất Hiếm.
Thứ chất thải ấy độc hại thì không phải bàn tới rồi, nhưng những thành phần phóng xạ như thorium trong đó, là nguyên nhân dẫn đến bệnh ung thư lá lách, phổi, và nhiều bệnh khác nữa, nếu con người ăn uống phải loại nước nhiễm độc đó. "Trước khi những nhà máy ấy được xây dựng nên, nơi đây là những cánh đồng bạt ngàn dưa hấu, cà chua, và cà tím", một trong những người dân còn bám trụ nơi đây, Li Guirong thở dài nói.

Tất cả bắt đầu từ năm 1958, khi mà Công ty Sắt và Thép Bao Đầu bắt đầu khai thác, sản xuất những loại Đất Hiếm nơi đây. Và cũng từ khi ấy, cái hồ chất thải này bắt đầu hình thành.
Đến cuối những năm 1980, mùa màng nơi đây bắt đầu tàn lụi. "Mùa màng có hoa, nhưng đến khi kết thành quả, thì sản phẩm thường bị teo nhỏ, thậm chí là có mùi hôi thối nữa !". Mười năm sau, dân làng đã phải chấp nhận thực tại rằng: Hoa màu không thể mọc lên tại nơi đây nữa. Làng Xinguang Sancun, cùng với nhiều ngôi làng gần những nhà máy tinh chế đất hiếm kia, đã dừng hoạt động trồng trọt.


Cây trong khu vực còi cọc, thiếu sức sống.

Nhiều nghiên cứu nêu ra rằng: Nguồn gốc của mọi chuyện chính là Đất Hiếm, và quá trình khai thác, chế biến Đất Hiếm kia. Cư dân của thành phố Bao Đầu, "thủ đô Đất Hiếm của thế giới", đã phải hít thứ không khí chứa đầy acid sulfuric, bụi than, suốt nhiều năm trời. Động vật nuôi chết, mùa màng không còn, khiến người dân bỏ nhà cửa, dân số thành phố từ con số 2.000 giảm xuống chỉ còn vài trăm người.
Nhiều người dân còn lưu lại nơi đây phàn nàn rằng: họ nhiễm rất nhiều bệnh tật: đau tứ chi, tiêu chảy, loãng xương, và các vấn đề tim phổi. Gần như mọi gia đình nơi đây đều nhiễm bệnh.
Chính phủ không trợ giúp gì nhiều trong việc này. Họ được hứa hẹn đền bù, nhưng cũng chưa đầy đủ và thỏa đáng. Việc tái định cư cũng được nhắc tới, nhiều khu chung cư đã được dựng lên cách chỉ vài km với khu nhà cũ của họ.


Đường ống dẫn chất thải ra ngoại thành thành phố.

Nhưng những tòa nhà ấy gần như vẫn trống trơn. Chính phủ yêu cầu người dân mua quyền ở tại những tòa nhà đó, nhưng những nhà ấy sẽ không được truyền tiếp cho đời con cháu của họ.
Một số người cố gắng kiếm lời từ những chất thải trong hồ kia, bởi lẽ những chất thải ấy vẫn còn lưu giữ lại phần nào Đất Hiếm, những phần đó sẽ được bán lại cho nhà máy tái tái chế với giá 300 USD/tấn.
Nhưng chính phủ đã đặt lệnh ngăn cấm chuyện khai thác, và bán lại số chất thải trong hồ. Một số lượng người đã bị đem ra xét xử với mức án lên tới 10 năm tù vì hành vi này.

Theo Genk.  ./.

26 thg 3, 2017

XA QUÊ NHỚ NƯỚC MẮM


image

Một cô ký giả Mỹ chuyên viết về ẩm thực so sánh nước mắm Thái Lan và nước mắm Việt Nam thế này: Cả hai đều làm từ cá cơm (anchovy), nhưng nước mắm Thái mặn hơn và có mùi "nặng" hơn.

image

Cô Mỹ này nhận xét trật. Trật không phải do lưỡi của cô, mà trật vì cô so sánh con gà với con vịt.
Nước chấm làm từ cá thì nhiều nước làm: Thái Lan, Malaysia, Lào, Campuchia, Trung Cộng, Philippines, Indonesia, Hàn Quốc…Người Nhật còn lấy cả mực làm nước chấm.

image
Nước mắm ở Phú Quốc
Cá nào cũng đem làm nước mắm được hết. Về mặt khoa học, đó chỉ là "chặt" nhỏ protein của cá thành acid amin do tác dụng của enzyme trong ruột cá, từ đó mới tạo ra hương và vị đặc trưng của nước mắm.

Nước mắm mỗi nơi mỗi vẻ

Hầu hết nước chấm làm từ cá của nước Châu Á có độ đạm khoảng 10, và họ quen với hương vị nước mắm như thế. Một vài loại nước mắm Thái có độ đạm khoảng 20, nhưng Việt Nam chuộng nước mắm đạm cao, có khi lên tới 30 - 40 độ.
Thái Lan và Việt Nam thường dùng cá cơm, một loại cá biển, nhỏ cỡ ngón tay trỏ để làm nước mắm. Nhưng có cả hơn trăm loại cá cơm, phân bổ mỗi vùng mỗi khác. Mỗi loại khi làm sẽ cho ra nước mắm có vị có hương khác nhau.

http://www.xn--bomai-xqa.com/

Ở Việt Nam có khoảng 6-7 loại cá cơm: cơm than, cơm đỏ,sọc tiêu, sọc chì, sọc phấn,…nhưng chỉ có 3 loại đầu được dùng nhiều vì cho chất lượng nước mắm ngon hơn.
Cũng một loại cá cơm, nhưng cá mỗi vùng lại ăn rong rêu khác nhau. Rồi cá mùa này gầy, cá mùa khác béo, năng suất ra đạm (phân rã cá) cũng khác. Tùy theo cách làm và cũng tùy thuộc loại cá, mà thời gian lên men kéo dài 4-6 tháng, có khi kéo dài cả năm hoặc hơn.
Hơn nữa thời tiết khí hậu mỗi nơi mỗi khác, ảnh hưởng rất nhiều đến việc hình thành hương vị nước mắm. Chính cái "nắng gió" trời cho quanh năm này mà nước mắm Phan Thiết, Nha Trang trở nên lẫy lừng. Với Phú Quốc, ông Trời còn biệt đãi hơn nữa, vì ngoài thời tiết, cá cơm vào mùa to béo tươi ngon, chượp ra đạm nhiều. Chỉ có điều phải chượp lâu, có khi hơn cả năm, mà chượp lâu hương mắm càng đậm đà.

image 
Những vùng khác yếu thế hơn, nhưng họ cũng biết đối phó với thời tiết, để có được những kỹ thuật làm nước mắm khác nhau, và cứ thế cha truyền con nối.
Có thể ép đạm, nhưng không thể ép hương 
Nước mắm đạm cao thì thời gian ủ chượp phải lâu hơn, nhưng "chân lý" này không phải lúc nào cũng đúng. Người ta có thể dùng thêm enzyme để thúc đẩy sự phân giải protein cá thành đạm amin nhanh hơn, từ một năm còn 6 tháng, có khi nhanh hơn. Mà cũng tùy nguyên liệu nữa: cá nhỏ, cá dập nát phân giải nhanh hơn, cá tươi cá còn nguyên phân giải chậm hơn…

image

Nhưng hương thì khác, hương cần thời gian ủ chượp khá lâu, một năm hoặc hơn, để vi khuẩn kỵ khí phân giải chất béo và protein thành các chất dễ bay hơi để tạo ra mùi hương đặc trưng của nước mắm, và vị nước mắm cũng "đầm" lại, cái mà người ta gọi là hậu vị (after-taste) của nước mắm.

image 
Nước mắm Thái hầu hết đều sử dụng thêm enzyme để tăng tốc lên men, ra nước mắm nhanh. Họ cần năng suất, nhưng hương chưa kịp ngấu sẽ có mùi hơi ngai ngái.

image 
Ngư dân Phú Quốc
Cách làm nước mắm của người mình thường có tỉ lệ muối cao (3 cá 1 muối), còn các nước khác tỉ lệ muối ít hơn. Muối ít, lên men nhanh hơn, ra nước mắm lẹ hơn, và dĩ nhiên hương cũng kém hơn…Còn muối cao thì thời gian ủ chượp lâu hơn, có khi cả năm hoặc hơn, nhưng hương nước mắm ra đậm đà hơn. Nước mắm truyền thống "thứ thiệt" của Việt Nam thường hơi mặn hơn là vì thế.
Công nghiệp ép truyền thống
Làm nước mắm truyền thống thì quanh năm vất vả, nắng mưa dãi dầu, chăm mấy cái thùng còn hơn chăm heo đẻ, nhưng làm nước mắm công nghiệp thì nhanh cái rẹt, mỗi ngày ra cả vài chục ngàn lít là thường. Chỉ cần mua nước mắm thấp đạm về pha loãng, rồi thêm phụ gia hóa chất, đóng chai dán nhãn là xong.
Vị nước mắm là do acid amin do phân giải từ cá mà ra. Nước mắm công nghiệp (NMCN) chỉ cần cho thêm các chất tạo vị như bột ngọt, siêu bột ngọt (I+G)...
Hậu vị của nước mắm là do đủ loại acid amin từ cá tạo thành. NMCN làm gì có hậu vị.

image 
Màu nước mắm là do chuyển hóa các chất đường, lipid và protein trong cá mà thành. NMCN chỉ cần thêm màu nhân tạo caramel, carmine, Brown HT...
Hương nước mắm là do nhiều chất dễ bay hơi hợp thành do phân giải cá mà ra. NMCN chỉ cần thêm hương nhân tạo. Hương cốm, hương nhài, hương nếp… Hương cà cuống còn nhái được, thì nhái hương nước mắm là chuyện…nhỏ.
Độ sánh của nước mắm là do protein tan trong nước tạo gel. NMCN chỉ cần thêm chất tạo sệt (thickening agents) như CMC, xathan gum...
Độ mặn của nước mắm phải cao để ức chế vi khuẩn gây hư (spoilage bacteria). NMCN không cần mặn cao, vì đưa thêm chất bảo quản benzoate, sorbate vào. Còn muốn mặn dịu hơn nữa thì thêm đường hóa học như aspartame và acesulfam K.
Độ đạm (tổng) nước mắm là protein cá phân giải. NMCN là nước mắm đạm thấp pha loãng. 

image 
Muốn tăng độ đạm muôn vàn thủ thuật, tử tế thì bổ sung đạm từ lúa mì (protein được thủy giải để dễ hòa tan), bá đạo thì thêm nước phụ phẩm bột ngọt…
Nước mắm công nghiệp ngọt đầm hương dịu, sóng sánh màu hổ phách,nói chung, thích gì chiều nấy. Vì thêm các phụ gia hóa chất được phép dùng trong thực phẩm, nên nước mắm công nghiệp về mặt an toàn thực phẩm, không có gì đáng than phiền. Còn bá đạo đến cỡ nào cũng tùy nhà sản xuất.
Nước mắm hải ngoại
Tôi có thể nói, nước mắm "Made in Thái Lan" ở bên Mỹ hay bên Châu Âu đa số là nước mắm công nghiệp. Thực ra nước mắm Thái cũng có loại zin, nhưng cũng chỉ cỡ 20 độ đạm là cao do khẩu vị của dân họ đã quen như thế. Còn nước mắm truyền thống Việt Nam loại ngon khoảng 30-40 độ đạm.

image 
Ở nước ngoài, khai báo về độ đạm thường "nấp" vào trong cái bảng nhỏ xíu gọi là "thành phần dinh dưỡng" (nutrition facts) dưới dạng protein. Con số này phải chia cho 6,25 mới ra độ đạm. Người tiêu dùng hầu như không để ý chuyện này.
Có hãng quảng cáo, chỉ có anchovy extract (nước cốt cá cơm) và muối, nhưng lại có thêm đường ăn (sugar). Mấy nhà thùng nước mắm truyền thống Việt Nam mà biết chuyện "nước mắm có đường" chắc phải bở vía. Có đường, chỉ vài ba tháng nước mắm sẽ xuống màu, mất hương. Thế thì nước mắm đó là gì? Hoặc là dùng đường hóa học, hoặc là xài phẩm màu và hương nhân tạo.
Đến chơi nhà bạn bè ở nước ngoài, tôi thấy nhiều bà xài nước mắm Thái. Sao vậy, chê nước mắm Việt à? Không phải, tôi xài nước mắm Thái cho an toàn. An toàn thiệt không?

image
Cục Khoa Học Y tế (DMS-Thái Lan) năm 2013, đã khảo sát chất lượng mắm với 471 mẫu của 118 nhà sản xuất nước mắm trên thị trường Thái. Kết quả ghi nhận 45,4% mẫu không đáp ứng tiêu chuẩn. Đa số có độ đạm thấp hơn so với ghi nhãn, hàm lượng acid glutamic (bột ngọt) cao, và đáng ghi nhận là 4,5% chứa chất bảo quản benzoate trên mức cho phép. Loại nước mắm pha (mixed fish sauce), hay gọi theo kiểu Việt Nam là nước mắm công nghiệp, vi phạm nhiều hơn.
An toàn thực phẩm là chuyện vô vàn, rủi ro có thể xảy ra bất cứ chỗ nào, chỉ có thể hạn chế mà thôi. Xuất được chai nước mắm vào Mỹ, vào Châu Âu cũng chẳng dễ gì qua được đôi mắt sấm sét của cơ quan thẩm quyền bản xứ.

image 
Trở lại câu chuyện cô ký giả Mỹ so sánh nước mắm Thái và nước mắm Việt. Dựa trên hình ảnh mà bài báo minh họa, cô ký giả đã không nhận ra rằng, cả 2 chai nước mắm đều sản xuất tại Thái Lan. Nước mắm Thái mà cô nếm là nước mắm zin, khoảng 20 độ đạm, nên có vị hơi mặn và hơi nồng. Còn chai nước mắm Việt (Made in Thailand) là nước mắm công nghiệp, nên ít mặn và dịu là đúng rồi.
Nhìn về đường cố lý…
Đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, một người Việt tại Mỹ đã đăng ký nhãn hiệu nước mắm Phú Quốc tại đây, và cho đến nay vẫn dùng thương hiệu Phú Quốc thoải mái. Công ty này mua nước mắm sản xuất tại Thái Lan, vận chuyển qua Thẩm Quyến hay Hồng Kông gì đó và đóng chai tại đấy, rồi xuất đi tứ phương. Nước mắm Phú Quốc thứ thiệt là thế này hay sao?

image 
Hiện công ty này cũng có một xưởng làm nước mắm với quy mô nhỏ tại Phú Quốc. Nước mắm sau đó được xuất đi đâu đó để pha chế và đóng chai. Theo quy định về chỉ dẫn địa lý, nước mắm Phú Quốc phải được sản xuất và đóng chai dán nhãn ngay tại Phú Quốc.
Không riêng gì Phú Quốc, Phan Thiết cũng đã có Chỉ dẫn Địa lý cho nước mắm. Không đơn giản chỉ là đóng chai tại nguồn, mà nguyên liệu làm nước mắm phải là cá loại gì, đánh bắt ở đâu, chất lượng muối thế nào, ủ chượp ra sao, thùng chượp bằng gỗ loại gì,…. Và phải chịu sự kiểm soát lẫn nhau về tuân thủ quy định này mới được phép dán nhãn Chỉ dẫn Địa lý, chứ không phải cứ nước mắm sản xuất tại Phú Quốc hay Phan Thiết là được dán nhãn ấy.
Ai muốn mua nước mắm truyền thống thì căn cứ vào logo Chỉ dẫn Địa lý mà mua. Còn độ đạm, theo tôi cỡ 25 - 30 độ là tuyệt rồi. Còn chai nào ghi "nước mắm nhĩ" hay "nước mắm cốt" thì quên đi. Quảng cáo xạo đó! Nước mắm nhĩ giống như thóc giống. Có ai mang thóc giống đi rao bán bao giờ. Thực ra, độ đạm của nước mắm nhĩ cũng chẳng cao. Được trời đãi, cá cơm mập ú như ở Phú Quốc, mà "nhĩ" ở đây cũng chỉ cỡ 30 độ. Muốn nâng độ đạm, phải đem phơi và đổ lại vào thùng chượp để rút thêm đạm trong cá.

image 
Không phải chỉ có nước mắm Phú Quốc hay Phan Thiết mới là ngon. Nước mắm mỗi vùng mỗi miền đều có hương vị riêng của nó. Anh bạn tôi, quê Quảng Trị, lưu lạc xứ người, mỗi lần ăn thịt heo luộc, bánh bột lọc, bánh ướt, …lại nhớ nước mắm Mỹ Thủy. Cái tên nước mắm vùng miền nghe lạ hoắc, vậy mà anh ta lại nhớ da diết.
Nước mắm không chỉ là hương và vị, nó còn mang theo cả ký ức của tuổi thơ, của một thời bình yên chỉ biết ăn và học. Hương vị nước mắm thấp thoáng trong lời của bản nhạc "… Nhìn về đường cố lý, cố lý xa xôi…"(Thuyền Viễn Xứ , Thơ: Huyền Chi, Nhạc : Phạm Duy).
Xa quê mà dùng nước mắm công nghiệp thì buồn lắm, phải không?

Vũ Thế Thành

HOA HỌC TRÒ-Trời đất dành riêng tuổi học trò.Một loài hoa đỏ rất nên thơ...

HOA HỌC TRÒ-Trời đất dành riêng tuổi học trò.Một loài hoa đỏ rất nên thơ...
Mỗi năm hoa nở mùa thi đến.Chạnh nhớ trường xưa nhớ bạn bè .Nguyenuthang ..