Status chia sẻ từ một người bạn sống ở nước ngoài ,Mru post để bạn bè đọc và cảm thông nỗi gian khổ mà một một nữ Việt kiều ,gốc nhà giáo, tuổi đã cao ,giữa thời Covid vẫn quyết định về thăm quê hương. Chuyến đi lần này bà đã phải trả giá rất đắt ,không chỉ đắt theo nghĩa đen (do giá vé một chiều tăng gấp mười lần giá vé bình thường ) mà còn đắt theo nghĩa bóng, với bao nhiêu vất vả nhiêu khê có lẽ chỉ có một lần trong đời gặp phải.
30 thg 8, 2021
CHUYẾN ĐI THỜI COVID
30 thg 7, 2021
XUÂN, HẠ, THU, ĐÔNG… RỒI LẠI XUÂN
24 thg 7, 2021
TÀ KHÍ LÀ GÌ ? NÓ TẤN CÔNG CƠ THỂ CON NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO ?
*****
Đông y gọi CÁI
tồn tại trong cơ thể khiến cho
con người mạnh khoẻ, có khả năng chống lại những tác nhân gây hại từ bên ngoài
là CHÍNH KHÍ; những tác nhân từ bên ngoài gây bệnh cho con người là TÀ KHÍ.
·
Chính
khí có được nhờ ăn, uống, hít thở và tập luyện cơ
thể;
·
Tà
khí là
các thứ khí: phong, hàn, thử, thấp, táo, hoả (gió, lạnh, sức nóng gián tiếp, ẩm,
khô khan, sức nóng trực tiếp). Các thứ khí này có liên quan đến các bệnh truyền
nhiễm mà Đông y gọi là dịch lệ.
Các nghiên cứu xuất phát từ quan điểm kết hợp Đông, Tây y
chứng minh rằng : các thứ khí này, tuỳ thời điểm và vị trí của sự vận hành quả
đất trong vũ trụ sẽ làm điện trường quả đất thay đổi dẫn đến sự gia tăng bất
thường của các loại trùng khuẩn cực nhỏ. Những loại này xâm nhập vào mũi, thông
xuống phổi, đồng thời khu trú ở da lông (số lượng lỗ chân lông có tới hàng vạn
và làm chức năng trao đổi chất với môi trường nhiều hơn nhiều nhiều lần so với
hai lỗ mũi – đây là kiến thức mà Tây y tuy đã biết nhưng chưa vận dụng vào điều
trị các chứng cảm; vì vậy các bác sỹ Tây y chỉ mới dừng ở trình độ chỉ định cho
bệnh nhân xông mũi theo nguyên lý đau đâu chữa đó. Trong thực tế, kinh nghiệm
dân gian phương Đông đã có cách xông toàn cơ thể và phải cởi hết đồ ra mới hiệu
quả).
Bổ sung về tà khí trong đám
tang và tại sao người ốm kiêng đi đám tang ?
“Gọi là tà nghĩa là xấu, là
các khí xấu, ảnh hưởng không tích cực đến con người, chứ không nên hiểu là tà
ma, hay gì đó mang tính mê tín dị đoan”, lương y Nguyễn Văn Sử giải thích. Khi
cơ thể đau yếu, người có bệnh, sức khoẻ kém là lúc vệ khí yếu khó có thể bảo vệ
cơ thể trước sự tấn công của tà khí nên tà khí dễ xâm nhập làm cho người đau yếu
càng dễ đổ bệnh nặng hơn.
Trong khi đó, ở các đám tang tà khí thường rất nặng nề, mà theo dân gian vẫn nói nôm na là “lạnh”, người ốm yếu, phụ nữ mang bầu, trẻ em, người có sức khoẻ kém đến những nơi đó sẽ dễ nhiễm hơi lạnh, khí lạnh.
Thực chất, là vì ở người
chết quá trình oxy hoá chấm dứt, nhiệt độ cơ thể mất đi, thi thể lạnh và bắt đầu
biến đổi do bị phân hủy; quá trình này khiến cho vi trùng, vi khuẩn và ký sinh
trùng sẽ sinh sôi nhanh chóng và phát tán vào môi trường.
Không khí trong phòng tang
lễ lúc này có thể nói là tăng sinh vi khuẩn và mầm bệnh. Vì vậy, việc những người
có sức đề kháng yếu, đặc biệt những người có bệnh ảnh hưởng hệ miễn dịch, là những
người mà theo Đông y đều có nguyên khí hoặc vệ khí kém thì nên tránh xa là có
cơ sở khoa học.”
Tà khí
tấn công con người như thế nào?
Bình thường, mọi sinh vật
đang tồn tại đều có chính khí mạnh hơn tà khí. Tà khí tấn công con người như thế
nào? Nói bằng từ chuyên ngành là theo con đường tương khắc.
Con
đường này nói cụ thể như sau:
- Giai
đoạn 1:
Tà
khí tấn công vào phần cơ thể con người tiếp xúc trực tiêp với môi trường là da,
lỗ chân lông, mũi; thông sâu vào cơ thể ở vị trí phổi (tạng phế). Đông y cho rằng
da, lông, mũi và phổi có quan hệ với nhau, kết nối nhau bằng kinh Thái Âm phế,
thuộc hành Kim. Chức năng của nhóm này là thông khí, làm cơ sở để thông huyết.
Khi tà khí tấn công vào nhóm da, lỗ chân lông, mũi thì người bệnh có những biểu
hiện như: chảy nước mũi hoặc nghẹt mũi, hắt hơi, một hai ngày sau thì phát ho,
giọng nói cũng khác đi; da sởn gai ốc hoặc lỗ chân lông sít lại, sờ vào thấy
nóng. Người ta gọi đây là bệnh cảm hoặc cảm nhiễm. Cảm là giai đoạn đầu nên dễ
dàng đẩy tà khi ra ngoài, nếu không, nó sẽ lấn sâu vào gan mật theo nguyên lý
KIM khắc MỘC.
Cách
chữa cảm đơn giản là dùng cách mà Thị Nở chữa cho Chí Phèo. Đó dùng bát cháo
tiêu hành cho bệnh nhân ăn; nhưng Thị Nở còn thiếu bài XÔNG (xông lá tức là
dùng các loại lá có tinh dầu cho vào nồi lớn, nấu sôi đến mức nước bốc hơi mạnh,
nhắc xuống, trùm chăn kín ngồi trong đó chừng 25 đến 30 phút). Có lẽ Thị không
thể xông cho Chí vì xông thì phải … cởi hết đồ ra.
Phải
xông bằng các loại lá hoặc chất lỏng có tinh dầu, loại tinh dầu có tính diệt
khuẩn cao càng tốt. Những loại tinh dầu này vừa có tác dụng diệt khuận vừa
thông khí. Tinh dầu thuộc dạng hữu cơ tự nhiên, không có hại, khi bám vào các lỗ
chân lông vừa diệt khuẩn trong các lỗ chân lông vừa chặn đường vi khuẩn tiếp tục
xâm nhập vào cơ thể. Tinh dầu toả ra từ nồi xông sẽ diệt các loại khuẩn bám vào
hệ thống hô hấp con người vừa diệt khuẩn trong phòng hoặc trong nhà. Nếu kết hợp
xông lá bằng nồi nước xông với cách dùng lá để xông toàn căn nhà khi đang mùa dịch
lệ thì càng hay. Nhà có điều kiện thì dùng trầm hương. Tập quan dùng lá, trầm
hương để xông nhà là một biểu hiện của văn hoá y khoa truyền thống phương Đông,
giúp bảo vệ môi trường sống).
- Giai đoạn 2:
Tà khí vào gan mật tức
là tấn công vào phần phòng ngự tuyến 2 (da lông là tuyến 1). Gan và mật chủ quản
về gân. Triệu chứng ngoài các chứng của giai đoạn 1 còn có thêm các hiện tượng
khác như: sốt cao hơn, các gân khớp rệu rảo, không muốn vận động, chỉ muốn nằm;
tà khí lấn sâu sẽ làm đắng miệng, không muốn ăn (do các chức năng chuyển hoá
protid, lipid, glucid của gan suy giảm).
Giai
đoạn 2 cũng vẫn dùng bài xông để đẩy tà khí ra nhưng phải có trình độ chuyên
môn, phải xem mạch kỹ để biết tà khí đang trú ở phân khúc nào và dùng thêm các
loại thuốc nào cho phù hợp. Lúc này bệnh nhân đã mất sức, mệt mỏi, nếu lạm dụng
xông khiến cơ thể họ mất nhiều nước mà không bù nước kịp (truyền dịch) thì rất
nguy hiểm.
Giai
đoạn 1 và 2 bệnh thuộc phần BIỂU tức phần bên ngoài, còn dễ trị. Nếu không đẩy
tà khí ra thì nó lấn tiếp vào lách và bao tử (nhóm này có tuyến tuỵ chuyên điều
tiết insulin) theo nguyên lý MỘC khắc THỔ.
- Giai đoạn 3:
Tà
khí vào lá lách, bao tử là đã chọc chủng 2 phòng tuyến, vào vị trí “bán biểu,
bán lý” tức vị trí ở giữa bên ngoài và bên trong. Triệu chứng sẽ gồm những triệu
chứng ở giai đoạn 2, kèm theo ói mửa do tà khí khuấy động ở phần bao tử. Bệnh
nhân ăn không được, nếu ăn được chút cháo thì dưỡng trấp từ thức ăn không được
chuyển hoá hết do tuỵ suy giảm điều tiết insulin, ruột non thiếu insulin. Cơ thể
gầy rạc, suy nhược vì lá lách và bao tử chủ yếu xây dựng cho phần thịt của cơ
thể. Đây là giai đoạn nguy hiểm, nếu không đẩy tà khí ra thì nó lấn tiếp vào
xương tuỷ theo nguyên lý THỔ khắc THUỶ.
Giai
đoạn 3 cũng vẫn dùng bài xông để đẩy tà khí ra nhưng phải có khả năng chuyên
môn cứng hơn, phải xem mạch thật kỹ để biết tà khí đang trú ở phân khúc nào và
dùng các loại thuốc nào cho phù hợp. Cũng như giai đoạn 2, lúc này bệnh nhân đã
suy yếu nhiều, nếu lạm dụng xông khiến cơ thể họ mất nước mà không bù nước kịp
(truyền dịch) thì càng nguy hiểm.
- Giai
đoạn 4:
Tà khí vào xương tuỷ tức
là đã “nhập lý” nghĩa là vào sâu bên trong. Đây là giai đoạn sống chết kề nhau.
Đông y có câu: “Hàn ngộ hàn tắt tử, nhiệt ngộ nhiệt tắc vong” là ở giai đoạn
này. Thầy thuốc non tay xem mạch nhầm thì chết
chắc, không xoay trở gì được, cho thở oxy được một vài tiếng là may, có
khi thuốc vào khỏi miệng thì đã chết ngay rồi. Do là giai đoạn cưc kỳ nguy hiểm,
nếu không đẩy tà khí ra thì nó sẽ lấn tiếp vào tim và ruột non theo nguyên lý
THUỶ khắc HOẢ.
Ở
giai đoạn 4 cũng vẫn dùng bài xông để đẩy tà khí ra nhưng phải có chuyên môn
sâu, phải có kinh nghiệm nữa, phải xem mạch thật kỹ để định ra một “thế trận tổng
hợp”: xông lửa hay xông lá, uống thuốc hàn hay thuốc nhiệt, ăn cháo hay ăn nước
cháo (dân gian gọi là hồ), tác động vào những huyệt vị nào (dùng kim hay dùng
cách day ấn thông thường), trấn an, động
viên bệnh nhân và gia đình như thế nào v.v.. và v.v…
Khi bệnh
thuyên giảm dần thì phải buộc bệnh nhân ăn cháo loãng, rồi cháo đặc, rồi cơm
nhão. Khi bệnh nhân thật khoẻ hẳn mới được ăm cơm và những thứ khác. Thầy thuốc
mà không dặn kỹ, không theo dõi cách ăn uống của bệnh nhận khi bệnh thuyên giảm
thì dẫu có THẦN Y cũng vẫn nhận được tin báo: “Người nhà tôi mất rồi!”. Bây giờ
có pháp y, có giải phẩu thi thể mới thấy được nguyên nhân chết là do thủng bao
tử.
- Giai
đoạn 5:
Tà khí vào tim và ruột
non, lúc này nó uy hiếp tim, làm tim suy yếu dần hoặc truỵ tim. Ruột non bị vô
hiệu hoá, cắt đứt nguồn dưỡng trấp cho cơ thể, dù có “đổ sâm” vào cũng không giải
quyết được gì. Lúc này nếu được theo dõi ở bệnh viện thì điện tâm đồ sẽ không
còn gợn sóng và máy phát ra âm thanh è…è…è….
Trong
thực tế, bệnh nhân ở giai đoạn 5 rất ít gặp vì mấy nguyên do:
- Khu
vực nhiệt đới dễ mắc bệnh cảm nhưng kinh nghiệm dân gian từ ngàn đời chữa cảm
cũng rất hiệu quả. Người bình dân Việt Nam thường dùng các cách chữa dân gian
nên trường hợp tà khí lấn sâu không nhiều.
- Những
trường hợp để tà khí lấn sâu khi đưa vào bệnh viện thì được chẩn đoán là bệnh
năng, có nguy cơ tử vong và sau đó bị hôn mê, ngưng tim rất nhanh.
21 thg 7, 2021
ĐỜI NGƯỜI " CHỈ LÀ MỘT NẮM TRO "
trong
kho tàng Phật điển, mà nó là một thực tế .
Thực tế ấy tôi
đã chạm mắt, đã sờ mó vào được.
Từ đó tôi có
một cảm nhận riêng, xin được chia
sẻ với tất cả
các bạn ,chư vị đồng tu “nắm tro” này.
Vì là nữ nên Hòa thượng sắp xếp ở thiền viện ni tức Linh Chiếu. Cụ lớn tuổi nên không nhập chúng, mà ở cái thất trong khuôn viên thiền viện do Hòa Thượng cất cho. Vì thế chúng tôi xem cụ như một thiền sinh ni của viện. Cụ rất siêng tu, không bao giờ lơi lỏng, tự lực lo cho mình mọi việc, ít làm phiền đến chư Ni. Năm 91 tuổi cụ vẫn tự quét nhà, rửa chén, giăng mùng, không phải nhọc nhằn ai, sáng suốt minh mẫn và rất dễ thương. Đến 92 tuổi cụ mất, ra đi hết sức nhẹ nhàng, không giật mình giật mẩy, không làm kinh động đến đại chúng.
Khi được tin cụ yếu, tôi sang thăm. Cụ nhìn tôi quá đổi hiền lành rồi khép nhẹ đôi mắt, đi hồi nào tôi không hay. Thiền viện lo hết chuyện hậu sự. Hỏa táng xong, buổi chiều tôi cùng chư ni đi lấy cốt. Phần xương cho vào hủ đem về nhập tháp Liên Hoa tại Thường Chiếu, còn lại phần tro quý cô hốt vô bao ni lông đem đến cầu Long Sơn - Bà Rịa.
Tại đây tôi được chư huynh đệ chỉ cho dãy núi Long Sơn thật trầm mặc nằm sâu lắng bên trong. Dòng sông trước mắt cũng trôi chảy yên ả quá chừng, làm như không có chuyện gì phải buồn phải vui. Sạch và trong văng vắt. Tôi thật bất ngờ về một miền đất gần gũi với mình. Ở đó có một dòng sông tinh khiết, yên tĩnh, như không hề bận tâm tới chuyện phố thị rộn ràng bên ngoài.
Huynh đệ chia nhau nắm tro sau cùng của người pháp lữ cao niên rải xuống dòng sông. Nắng chiều óng ánh chiếu xuống màu áo lam, màu xám tro, màu sông nước, màu trái tim huynh đệ lần chia tay. Đẹp và cảm động vô cùng. Khi tôi bốc nắm tro rải xuống, bụi tro bay bay trong hư không, từ từ tan loảng rồi hòa vào sông nước. Về đến thiền viện, ngồi lặng lẽ trong phòng, tôi như ngộ ra một điều : đời người chỉ là nắm tro.
Thật ra chuyện này chúng ta ai cũng biết. Tôi cũng biết. Nhưng mãi đến khi chính bản thân mình cầm nắm tro của bà cụ, mà trước đó mình ngồi một bên, còn nhìn, còn nói, còn cười gọi tên… bây giờ lại là nắm tro, cũng do chính tay mình đem gởi xuống dòng sông. Bỗng dưng tôi cảm nhận sâu sắc về một đời người, chung cuộc của chiếc thân tứ đại, ai cũng như ai, chỉ là nắm tro. Đã là nắm tro thì không có nắm tro nào sang hơn nắm tro nào, không có nắm tro nào vinh quang hơn nắm tro nào, không có nắm tro nào ti tiện hơn nắm tro nào. Tự nhiên bao nhiêu muộn phiền, toan tính trong lòng rớt xuống. Bởi vì mình đã là nắm tro thì không có lý do gì đi phiền não các nắm tro khác.
Chúng ta ít nhiều đã đánh mất cả một quãng đời của mình trong phiền lụy, khổ đau. Cuối cùng tứ đại này không mang theo được vì nó chỉ là nắm tro, chỉ mang theo nghiệp mà thôi. Sao ta không tự hỏi vì cái gì mà ta tạo nghiệp, vì ai mà ta tạo nghiệp ? Vì nắm tro mà tạo nghiệp ! Có vô lý không. Phải chi vì vàng vì ngọc mình tạo nghiệp cũng được đi, nhưng vì nắm tro mà tạo nghiệp thì oan uổng quá. Tạo nghiệp để mưu cầu hạnh phúc, không ngờ lại chuốt quả khổ đau. Bởi vì ranh giới giữa hạnh phúc và khổ đau nằm ở chỗ nào, chúng ta không biết được.
Chẳng hạn trời đang nóng mình thèm ăn kem. Ăn được một cây kem thật tuyệt vời, có thể gọi là hạnh phúc. Ăn thêm một cây nữa, cũng còn hạnh phúc. Thêm một cây nữa thì… hết hạnh phúc, bởi vì nó sắp nôn ra đây nè. Nếu ăn kem là hạnh phúc thì càng ăn càng hạnh phúc, ăn một cây hạnh phúc chỉ có một, ăn hai cây hạnh phúc nhân đôi, ăn ba cây hạnh phúc nhân ba. Tại sao ăn ba cây lại hết hạnh phúc ? Thì ra chúng ta đã hiểu lầm về hạnh phúc. Hạnh phúc là gì ? Là vừa lòng. Tạm định nghĩa ngắn gọn như vậy đi.
Mình cho rằng cái gì vừa lòng, thích thú, thỏa mãn là hạnh phúc, mà không biết rằng cơ thể chúng ta, tâm tư chúng ta không bao giờ thỏa mãn được hết. Khi tham là cứ muốn thêm, mà sự tiếp nhận của thân tứ đại có chừng mực. Đến lúc nó không tiếp nhận được nữa, mà nghiệp tham vẫn lôi kéo, thế là có sự xung đột giữa thân và tâm. Như vậy là mất hạnh phúc.
Phật dạy các pháp chỉ là duyên sinh thôi, chứ không có cái gọi là chân thật trong đó. Chúng ta luôn mong muốn mình sống thì phải được vừa lòng hoài, nhưng các duyên không biết chuyện ấy. Nó cứ đến cứ đi, cứ họp cứ tan theo cách của nó. Mình không vừa lòng thì thôi, nó không chiều mình. Cho nên rốt lại hạnh phúc không có thật. Nó chỉ là ảo giác của cảm thọ.
Cảm thọ có ba :
- · Một là thọ khổ. Khi gặp những cảnh trái ý, nghịch lòng chúng ta không thích, gọi là thọ khổ.
- · Hai là thọ lạc. Gặp những cảnh vừa ý thuận lòng, chúng ta thích thú sung sướng, gọi là thọ lạc.
- · Ba là thọ không khổ không lạc. Khi gặp cảnh bình thường, chúng ta cũng thấy bình thường, gọi là thọ không khổ không lạc.
Tóm lại, có thọ là có khổ. Chẳng hạn bây giờ mình không buồn cũng không vui, nhưng có chuyện buồn tới mình sẽ buồn. Chúng ta chọn cái bình thường, nhưng ngoại duyên không mãi bình thường được, nó luôn thay đổi.
Ngoại duyên đến từ bên ngoài, chúng ta không thể chủ động được. Trong toàn bộ đời sống, con người chỉ chủ động một phần, còn lại phần lớn là bị động bởi các duyên bên ngoài. Như thời tiết tốt chúng ta thấy bình thường, dễ chịu, nhưng nếu nước lụt lên thì sao? Khổ liền. Các tỉnh miền Trung, miền Tây Nam bộ lụt hoài, dân mình cứ phải sống theo con nước, hoàn toàn không thể chủ động được. Đâu có ai muốn lụt, nhưng nước vẫn cứ dâng. Đó là duyên bên ngoài. Đến duyên bên trong lục phủ ngũ tạng của chúng ta cũng thế. Có ai muốn bệnh đâu, mà sao vẫn cứ bệnh. Già có bệnh của già, trẻ có bệnh của trẻ. Ngày nay trẻ đã bệnh ké những bệnh của người già. Như vậy thân của mình mà mình nói nó không nghe, biểu đừng bệnh mà vẫn cứ bệnh. Rõ ràng chúng ta mất quyền tự chủ đối với thân tứ đại này rồi. Cho nên Phật bảo thân này không phải của mình.
Đã không phải của mình, tại sao người ta nặng nhẹ một chút mình lại nổi sùng ?
Chúng ta khổ vì chúng ta lầm. Đơn giản vậy thôi. Hàng xóm mích lòng nhau là vì hiểu lầm. Phật nói thân này là duyên sinh, do bốn chất đất nước gió lửa hợp thành, đó là phần thân, còn phần tâm là do nghiệp dẫn. Chúng ta tạo nghiệp, rồi nghiệp quay trở lại lưu dẫn chúng ta thọ sanh. Cho nên đời quá khứ chúng ta tạo nghiệp gì nhiều, đời sau sanh ra rất quen thuộc với nghiệp ấy. Thương ai nhiều, ghét ai nhiều, nhắc ai nhiều thì đời sau được gặp lại thôi.
Nếu đời quá khứ ta đã là người tu, đời này sanh ra thấy chùa muốn tu ngay. Đời quá khứ là ca sĩ, đời này nghe nhạc là hát. Hát rất hay mà không cần ai chỉ vẽ, vì đã huân tập rồi. Nhiều thiên tài xuất hiện dưới dạng thần đồng, người ta bảo là thiên tư, thật ra nó là dòng nghiệp được nối tiếp từ đời trước.
Tuy nhiên, đạo Phật bảo nghiệp cũng không thật, có thể thay đổi được. Bởi vì nó do duyên tạo tác, luôn thay đổi sinh diệt. Nếu thật thì nó còn hoài và không thể sửa đổi. Song nó luôn biến dịch nên chúng ta có thể thay đổi được. Khi mê chúng ta tạo nghiệp xấu, nhưng tỉnh rồi không tạo nghiệp xấu nữa, mà tạo nghiệp thiện. Ví dụ chúng ta mê nên có tham sân si, nếu sáng suốt tỉnh táo ta sẽ không thèm tham sân si nữa. Điều đó có người đã làm được, như các bậc thánh nhân, cao tăng xưa cũng như nay. Nhờ thế chúng sanh mới có thể tu thành Phật.
Có người thấy tiền thích, có người thấy tiền không thích vì họ không có nhu cầu. Nhu cầu thường không nhất định, do quan niệm và sở thích của mỗi người mà phát sinh. Muốn bớt tham thì bớt nhu cầu. Muốn không tham thì không có nhu cầu. Vậy thôi. Cho nên tham tiền hay không tham tiền, chúng ta làm được, nếu muốn. Giữa hai nghiệp thiện và ác, mình muốn làm ác cũng được, muốn làm thiện cũng được. Làm ác thì nghiệp ác dẫn đi trong đường ác. Làm lành thì nghiệp thiện dẫn đi trong đường lành. Tất cả đều do chúng ta quyết định.
Có người thắc mắc, khi chết rồi đi về đâu ai mà biết được ?
Về vấn đề này, chúng ta có thể lý giải sự có mặt của nghiệp qua những gì mình thấy biết trong đời hiện tại. Như một gia đình, cha mẹ sanh ra ba đứa con. Chúng được chăm sóc như nhau, mà ba đứa không đứa nào giống đứa nào. Chúng khác nhau trên mặt mày, trên tánh tình. Tại sao cùng cha cùng mẹ, cùng sống trong một môi trường, cùng nhận sự yêu thương chăm sóc như nhau mà lại khác nhau ? Nhiều đứa bé mới hai ba tuổi đã thể hiện những đường nét riêng của nó. Đường nét riêng này ở đâu ra ? Đâu có chuyện khơi khơi mà ra, chứng tỏ nó có chủng tử nghiệp từ đời trước.
Thêm điều này nữa, chúng ta vừa thấy người nào đó thì mến liền, mặc dù chưa nói chuyện với nhau lần nào. Người ấy có thể dễ mến với mình, nhưng chưa hẳn dễ mến với người khác. Cũng thế, trong trường hợp đối nghịch. Vừa thấy người đó lần đầu, bỗng nhiên ta dị ứng ngay, thì biết oan nghiệp tới rồi. Cho nên lúc ra đi, tâm mình bình an không vấn vương việc gì, không sợ hãi việc gì, không lưu niệm việc gì thì đi thanh thản, theo phước duyên thọ thân sau tốt đẹp. Ngược lại, trước lúc ra đi chúng ta sợ hãi, hoảng loạn, lo nghĩ đến con cháu thì thọ thân sau trong sự trói buộc của nghiệp lực đời trước.
Người Phật tử hiểu đạo rất sợ tạo nghiệp. Thân này không giữ được vì nó là nắm tro, nhưng nghiệp sẽ quyết định cho vận mệnh nhiều đời của mình. Chúng ta không đầu tư vào chuyện chăm chút nắm tro, mà lo chuyển hóa tu tập ba nghiệp của mình. Hơn thua nhau từng tiếng là tạo nghiệp bất thiện. Từ đó lưu vào tâm thức những hình ảnh căm tức sân hận, nguyện gặp lại để trả thì rất nguy hiểm. Đó là một trở ngại trong tiến trình tái sinh, nếu chúng ta chưa giải thoát được.
Ở đây mục đích của người tu thiền là giải thoát sanh tử, nhưng chúng ta không dám đi quá xa với mức độ tu tập thực tế của mình, chỉ mong quý Phật tử chuyển được nghiệp bất thiện thành nghiệp thiện, định tĩnh trước phút lâm chung để có được hướng đi tốt. Sức mạnh của nghiệp rất đáng sợ. Ví dụ người nữ có tật hay cằn nhằn. Thật ra họ không muốn cằn nhằn nhưng khi đã thành nghiệp rồi, vừa gặp chuyện không hài lòng thì cằn nhằn. Cằn nhằn mà không hay mình đang cằn nhằn. Cho nên mới nói bị nghiệp lôi, không kiềm chế được. Cũng như bên nam có tật uống rượu. Uống quen không uống thấy buồn, thấy thèm. Đặc biệt những lúc căng thẳng, bức xúc là đi kiếm rượu uống. Nhiều vị dư biết uống rượu là uống chất độc mà đã nghiền rồi thì không cưỡng lại được.
Thế nên vị nào lỡ ghiền rượu mà muốn bỏ thì xin đừng đi ngang quán rượu. Quán rượu đâu có tay mà kéo quý vị, nhưng cái nghiệp nó sẽ kéo. Nghiệp là gì ? Là thói quen. Thật đơn giản mà không đơn giản chút nào. Tại sao ? Như nghiệp uống rượu, nghiệp đánh bài, nghiệp hút thuốc… muốn bỏ không phải là chuyện đơn giản.
Lại nữa, chúng ta không ai thích phiền não nhưng luôn luôn sống trong phiền não. Tại sao ? Tại quen rồi, bỏ không được. Ai bắt chúng ta phiền não ? Ta không có câu trả lời vì ta không dám nhận lỗi về mình. Bây giờ muốn giải trừ phiền não, nhất định phải truy nguyên cho ra nguồn gốc của nó. Phiền não từ mình mà ra. Do si mê tăm tối nên ta tạo nghiệp, nghiệp quay trở lại làm tăng trưởng vô minh. Cứ thế xoay vần gốc vô minh càng lớn, nghiệp lực càng mạnh, chúng ta càng bị nó sai sử, chớ không ai bắt mình cả. Đối với phiền não, nhà Phật gọi nó là giặc. Muốn trừ giặc, trước tiên ta phải phát hiện nó thật sớm, sau đó kiên quyết đuổi sạch, không khoan nhượng mới yên ổn được. Vừa nổi nóng lên ta phát hiện ngay, một tên giặc vừa ló đầu ra, dùng gươm trí tuệ chém nhanh. Tự nói giận làm gì cho mệt, không thèm giận. Đó chính là tu tập, là chuyển hóa nghiệp. Việc này cũng phải có lực, nhà Phật gọi là đạo lực. Muốn có đạo lực mạnh phải liên tục huân tu, không đợi gặp cảnh mới tu.
Cái gan của chúng sanh lớn tợn lắm, rất sợ khổ mà chuyên lao vào nhân khổ. Phật nói Bồ-tát sợ nhân chúng sanh sợ quả. Nếu thấy phiền não mệt quá thì đừng thèm phiền não. Thí dụ hồi xưa mình nói chuyện với ai, bất đồng ý kiến là bắt đầu nổi sùng trong bụng, tức thiệt là tức. Bây giờ thấy tức mệt quá mình không tức nữa. Vậy thôi. Ngoài cách đó ra không còn cách nào hữu hiệu hơn. Có người bảo làm không được. Được chứ ! Cứ không thèm tức thử coi ai làm gì mình. Thật ra chúng ta không chịu buông cái sân giận mà lại đuổi theo nó, chơi với nó, hòa nhập làm một với nó. Trong tâm cứ bám cứng theo đối tượng làm nhân cho sự tức tối thì làm sao hết tức được.
Như có vị ngồi đây trong lòng đang buồn bực chuyện riêng. Lẽ ra hôm nay không đi nghe pháp mà tại sùng bà hàng xóm quá, đi cho khuây khỏa. Nếu chúng tôi chia sẻ với quí vị rằng đừng thèm sùng bà hàng xóm đó nữa, bỏ đi. Quí vị đồng ý thực tập như vậy. Bà ta đâu có nhảy vô bụng của quí vị cản lại điều ấy. Thành thử do ý chí, do quyết định sáng suốt, do sự thực hành của chúng ta thôi.
Tất cả trạng thái tâm khổ đau là do ta tạo ra, ta lầm chấp. Người kia có quyền thích ngọt, mình có quyền thích mặn, không thể bắt buộc người kia thích giống mình. Cũng không vì người kia thích ngọt, mà ghét người ta. Điều này vô lý. Tất cả các pháp do duyên sinh, không có duyên nào giống duyên nào, chỉ giống nhau ở chỗ chúng đều là tướng sinh diệt. Tướng sinh diệt thì không chân thật, có gì ta lấn cấn với nhau hoài, cuối cùng không ai hơn ai, cũng không ai tồn tại.
Chỉ một thứ tồn tại gây khó cho mình, đó là nghiệp ta đã tạo. Thế mà ta lại quên, cứ tạo hoài. Chính nghiệp tham sân si quyết định cuộc đời tiếp tục của chúng ta. Trong một đời này mình khổ đã ngán rồi, bây giờ gieo nhân để thọ thân nữa thì được khổ nữa. Một lần có thân là khổ, Phật bảo bốn thứ khổ cơ bản của thân là sanh lão bệnh tử, không ai tránh khỏi. Đó là chưa kể tới thành bại hơn thua trong cuộc đời. Thật ra cái chết không đáng sợ, nhưng vì mình mê thân nên sợ chết. Sống thì khổ mà lại không muốn chết. Vậy chớ sống để làm gì ? Sống để khổ. Có lạ lùng chưa !
Trở lại vấn đề nắm tro. Khi đang sống đây, dù chúng ta thành công vinh quang cách mấy, cũng không giữ được. Vì sự thành công ấy phải gắn liền với chủ nhân, mà chủ nhân sẽ không còn nữa để nhận sự vinh quang kia. Chủ nhân theo vô thường mà trở thành nắm tro. Tội gì vì một nắm tro mà ta khổ triền miên như vậy. Sao không ngay đây thanh thản, hạnh phúc, bình an, để khi trở về với cát bụi, ta chỉ còn lại sự thanh thản, bình an chớ không phải là nghiệp thức mênh mang. Giả như còn nghiệp chúng ta cũng thọ nghiệp lành, tái sanh vào cõi lành. Nếu hết nghiệp chúng ta không còn đi trong sanh tử, vĩnh viễn thoát khỏi khổ đau.
Chúng ta cũng nên như thế, sống giữa trùng trùng duyên sinh tương đối, thân này còn không giữ được huống là mọi việc chung quanh. Cho nên người tỉnh ngộ sớm chừng nào thì khỏe chừng đó. Tỉnh ngộ chậm hoặc không khéo tỉnh ngộ thì sẽ khổ đến nhắm mắt. Chẳng những khổ đến nhắm mắt mà cho tới lúc tái sinh vẫn tiếp tục khổ. Chúng ta buông xuống hết những buồn phiền, giận hờn, thương ghét để sống đúng trở lại bản vị của mình. Bên cạnh chùm duyên sinh còn có tánh giác.
Tánh giác ấy chúng ta hiện có đủ, bình đẳng như nhau và vĩnh cửu bất sanh bất diệt. Chúng ta luôn luôn nghe, luôn luôn thấy rõ ràng, đó là tánh Phật thường biết nơi mỗi chúng sanh. Tánh này không ưu tư, không lao lự toan tính, thường tại như vậy. Chỉ khi buông hết các duyên, ta mới nhận ra mình có tánh giác hiện hữu. Bấy giờ còn thân tứ đại cũng vui mà không còn thân tứ đại cũng vui, sống cũng vui mà chết cũng vui.
Trong nhà Phật, người tu giỏi là người buông xả giỏi. Buông tới lúc trong lòng trống rỗng, không còn gì để buông nữa thì sống chết tự tại, vĩnh viễn an vui. Đó là những gì chúng ta cần chia sẻ với nhau.
Thích Nữ Hạnh Chiếu
HOA HỌC TRÒ-Trời đất dành riêng tuổi học trò.Một loài hoa đỏ rất nên thơ...
Mỗi năm hoa nở mùa thi đến.Chạnh nhớ trường xưa nhớ bạn bè .Nguyenuthang ..











