13 thg 10, 2018

HOÁ TRI UNG THƯ CẦN ĐÁNH GIÁ CHO ĐÚNG

          Về cơ bản, hóa trị ung thư là biện pháp điều trị, sử dụng những hóa chất nhằm can thiệp vào quá trình phân chia tế bào. Bằng cách tấn công các dưỡng chất protein hoặc đánh thẳng vào DNA của những tế bào ung thư, hóa trị ép các tế bào này tự phân hủy dưới hình thức chết rụng tế bào.
         Trên các phương tiện thông tin truyền thông, thỉnh thoảng sẽ có những trường hợp người nổi tiếng xuất hiện thông báo đã mắc phải một chứng ung thư nào đó. Họ nói rằng sẽ tiến hành hóa trị liệu và biến mất trong vài tháng sau đó.
       Đến khi trở lại, họ lành lặn hoàn toàn và hồ hởi tuyên bố: “Thật quá kỳ diệu, khối u đã biến mất! Tôi bình phục rồi!” Giới truyền thông sẽ nhào vào với những dòng tít, đại loại như: “Diễn viên X kiên cường chiến đấu (và chiến thắng) bệnh ung thư.”
Trên thực tế, dù hơi phũ phàng nhưng những điều như vậy chưa phản ánh đúng sự thật của cuộc chiến chống lại ung thư.
Có nhiều điều cần cân nhắc về hóa trị ung thư
                      Có nhiều điều cần cân nhắc về hóa trị ung thư (ảnh: Internet)
Chính xác thì mọi chuyện bắt đầu từ sự ngộ nhận của giới truyền thông, hoặc tính cả tin của con người. Hãy tưởng tượng, bạn chấp nhận rót hóa chất vào cơ thể với hy vọng những hóa chất này sẽ có thể khử đi những tế bào ung thư quái ác – điều này có khác mấy so với tự sát?Các bác sĩ luôn động viên và đưa ra những lí lẽ thuyết phục, nhưng trên thực tế, nếu bạn được tiếp xúc với các bác sĩ chuyên khoa sẵn sàng nói thật – họ sẽ thành thật chia sẻ với bạn một điều chấn động: Giả sử như họ bị chẩn đoán ung thư, những người trong nghề sẽ không bao giờ dùng tới hóa trị liệu.Trong nhiều trường hợp hóa trị thành công thì chỉ vỏn vẹn khoảng 6 tháng đến 1 năm sau đó, những tế bào ung thư sẽ lại “ghé thăm”. Thậm chí, có phần còn nguy hiểm hơn trước.
Hãy chấp nhận một sự thật đau lòng rằng những tế bào ung thư sẽ không đơn giản là “biến mất hoàn toàn” khỏi cơ thể bạn. Đấy là điều hoàn toàn dễ hiểu: Khi bạn “bơm” hóa chất vào cơ thể, đành rằng chúng có thể tiêu diệt những tế bào ung thư nhưng mặt khác, chính những hóa chất đó lại làm tiêu giảm khả năng miễn dịch của bạn.
Đến một ngưỡng nào đó cơ thể không còn có thể chống đỡ nữa, ung thư sẽ quay trở lại.
Bạn tưởng rằng khối u biến mất có nghĩa rằng mình đã thoát khỏi ung thư? Mọi chuyện không đơn giản là như vậy, bởi bạn khỏi bệnh khi và chỉ khi không có bất cứ dấu hiệu nào của một cơn tái phát trong vòng 5 năm sau khi điều trị.
Thế nhưng, buồn thay là xã hội vẫn hiểu sai vấn đề và tuyên truyền sự sai lầm đó hàng ngày…

Hóa trị ung thư có thể diệt khối u, nhưng mầm bệnh thì sao?

                            
                                  Tế bào ung thư đang phân chia (ảnh: NIH)
Trong một số trường hợp hiếm hoi, hóa trị ngắn hạn có thể đem lại dấu hiệu tích cực trong việc kiềm hãm những khối u ác tính. Nhưng nhìn chung, hóa trị ung thư thường phá hủy số lượng tế bào khỏe mạnh lớn nỗi khó có thể coi nó là một phương pháp điều trị.
Khi bạn bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư, các bác sĩ sẽ thuyết phục vẫn còn cơ hội cứu chữa nếu sử dụng hóa trị, và đủ những thứ khó hiểu như “tỷ lệ phản ứng”, “khối u tiêu giảm”…. Vấn đề ở đây là mọi người thường quá lo lắng về vấn đề trước mắt là làm sao tiêu biến được khối u, chứ ít ai đủ tỉnh táo để nhìn xa hơn cho tương lai của người bệnh. Nói một cách đơn giản, khối u đã biến mất, nhưng mầm bệnh vẫn còn ở đó.
Sự hiểu lầm đáng buồn về hóa trị dẫn tới những hy vọng hão huyền và thậm chí là đánh giá thấp những tác hại mà hóa trị mang lại. Thực sự mà nói thì hóa trị ung thư cũng như việc lấy dao mổ trâu giết gà vậy.
(Ảnh: celldiagram)
             Tiến sĩ Ralph Moss là một trong những chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực điều trị ung thư. Trong cuốn sách viết về hóa trị liệu của mình, ông cho rằng hóa trị ung thư thực ra chỉ có tác dụng ngắn hạn để điều trị các trường hợp: Bệnh bạch cầu cấp do tủy xương; Ung thư hạch; Ung thư tinh hoàn và một số bệnh ung thư hiếm khác như Ung thư nhau thai, U nguyên bào thận hay Ung thư nguyên bào võng mạc.
         Tuy nhiên những bệnh án kể trên chỉ chiếm khoảng 3-6% tổng số các ca ung thư. Có nghĩa là có tới 94-97% các trường hợp mà hóa trị ung thư gần như vô dụng.
Những trường hợp ung thư phổ biến như ung thư vú hay ung thư ruột kết đều trơ lỳ trước hóa trị. Những tiến bộ trong hóa trị liệu được sử dụng mới đây cũng chỉ giúp phương án này kềm tỏa được một phần của ung thư buồng trứng và ung thư phổi cấp độ nhẹ.

28 ngày có phải thước đo chuẩn?
                
                      Lỗi trong phân chia tế bào sẽ gây ra khối ung thư (ảnh qua Cancer.ca)
          FDA định nghĩa phương pháp chữa ung thư được coi là có tác dụng khi và chỉ khi phương pháp đó khiến khối u thuyên giảm từ 50% trở lên trong vòng 28 ngày. Nhưng sự thực thì trong đại đa số các trường hợp, chẳng có bất cứ mối liên hệ nào giữa việc “khối u thuyên giảm từ 50% trở lên trong vòng 28 ngày” và “phương pháp chữa ung thư” cả.
          Bạn bơm thuốc vào cơ thể với hy vọng sẽ khỏe khoắn trở lại? Theo nhiều bằng chứng, mọi chuyện không đơn giản như vậy. Ung thư là một loại bệnh gây rối loạn hệ thống, có nghĩa là nó sẽ gây ảnh hưởng tới toàn bộ cơ thể của bạn; thậm chí là gây tổn thương cả về mặt tâm lý.
Ung thư có thể được phát hiện ở một số bộ phận nhất định trên cơ thể, nhưng hậu họa tiềm tàng của nó thì khó lòng đong đếm hết. Bộ phận bị nhiễm ung thư sẽ bị làm suy yếu và gần như không thể trở lại trạng thái khỏe mạnh hoàn toàn
        Khoảng 96% những người mắc bệnh ung thư điều trị bằng hóa trị liệu đã bị tái phát trong vòng 5 năm.Ung thư phát triển như một thứ sinh vật sống trong môi trường ẩm, tối, có tính axit. Ung thư được nuôi dưỡng bằng glucozo và tiết ra axit lactic. Cơ thể con người lại chuyển hóa axit lactic thành glucozo để nuôi sống tế bào ung thư, dẫn tới một vòng tuần hoàn chết hay còn gọi là bản chất của ung thư.
        Vì đặc tính ung thư chỉ phát triển trong môi trường axit và thiếu oxy nên nền tảng để chữa trị là phải tạo ra môi trường kiềm bằng cách cắt giảm những loại thực phẩm chứa axit; cung cấp nồng độ oxy cao cho các mô tế bào.Biện pháp trực tiếp nhất chính là cắt bỏ hoàn toàn nguồn cung glucozo cho những tế bào bệnh.

8 thg 10, 2018

ĐÔI NÉT CẢM NHẬN VỀ THƠ CỦA BÙI GIÁNG

 Đọc thơ Bùi Giáng thì phải đọc hết toàn bộ mới cảm nhận được hết cái hay vì cuộc đời của ông là cả một bài thơ lớn. Mỗi bài thơ là một âm sắc trong bản nhạc giao hưởng mà mỗi âm sắc đó có phản ánh một mặt của cuộc đời ông.

Kết quả hình ảnh cho tho bui giang
ĐÔI NÉT CẢM NHẬN VỀ THƠ CỦA BÙI GIÁNG

2.1. Cõi xuân trong thơ Bùi Giáng

Những tác phẩm của Bùi Giáng rất nhiều nhưng nỗi bật nhất là tập thơ Mưa nguồn và những hình ảnh mùa xuân trong thơ ông. Người đọc như lạc vào vườn xuân với những nét xuân khác nhau theo từng cung bật cảm xúc của tác giả. Đó là cõi riêng của ông và cũng là niềm tin của ông. Ông tin tưởng vào muà xuân vì đó là một mùa đẹp nhất trong một năm và mùa xuân cũng là mùa hạnh phúc. Mùa xuân trong thơ ông đối với thời gian là vô cùng và không gian là vô tận.
“Mùa xuân bữa trước mùa xuân bữa sau, xuân bốn bên trong hiện tại vây hãm tấn công đời hạnh phúc lạnh như băng không làm sao nhúc nhích”. (Bờ xuân, Mưa nguồn, tr.38-39)
Ông sử dụng nhiều điệp ngữ “xuân” “xuân bữa trước, xuân bữa sau, xuân bốn bên”. Dụng ý ở đây muốn nói lên một mùa xuân miên viễn, lòng ông lúc nào cũng tràn ngập mùa xuân. Dù trong vòng chu kỳ của một năm chỉ có ba tháng mùa xuân, xuân đi rồi xuân sẽ trở lại, nhưng mấy ai cảm nhận được xuân từng “bữa” như ông. Phải chăng ông xem xuân giống như những “bữa ăn” cho nên ông tận hưởng được mùa xuân ấy trong từng “bữa” đó là thời gian, còn không gian là “xuân bốn bên” nghĩa là nơi nào cũng có mùa xuân cả. So với xuân của chu kỳ trời đất, xuân của Bùi Giáng hiện hữu trong giờ phút hiện tại và vây hãm, tấn công nhưng nó lại mang đến cho ông một hạnh phúc.
Ngôn từ rất Bùi Giáng, mấy ai nói xuân “vây hãm tấn công” bao giờ. Chỉ có Bùi Giáng mới thế, ông có “điên” trong ngôn ngữ hay không điều đó không biết nữa. Chỉ có ông mới hiểu nỗi cái ngôn ngữ của ông. Dù không biết ông có “điên” hay không nhưng nếu tinh ý ta vẫn thấy ông “hạnh phúc” trong mùa xuân mà ông cảm nhận. Khác với mùa xuân của trời đất theo chu kỳ ba tháng trong một năm, còn xuân của ông là từng “bữa” cái “bữa” đó ông đã thưởng thức nó trong niềm hạnh phúc thẩm sâu vào trong tận hồn ông, mà nói rõ hơn là cảm nhận bằng “Tâm”. Giống như những câu thơ trong bài thơ Nguyên Đán của nhà thơ Xuân Diệu:
“Xuân của đất trời nay mới đến
Trong tôi xuân đến đã lâu rồi
Từ lúc yêu nhau, hoa nở mãi
Trong vườn thơm ngát của hồn tôi.”
Không những ông tận hưởng mùa xuân trong cả không gian và thời gian mà còn tin vào một mùa xuân miên viễn như tin một cánh én sẽ báo tin một mùa xuân đang về. Hình ảnh chim én bay, báo hiệu mùa xuân cho nhân loại. Đây là một niềm vui chung chứ chẳng phải riêng một mình ông. Khi chim én về báo hiệu mùa xuân đến, xua tan đi mùa đông đầy băng tuyết giá lạnh để cho những cây khô nẩy lộc đâm chồi:
Én đầu xuân tuyết đầu đông
Rừng cô tịch ngóng nội đồng trổ hoa.(Mưa nguồn, tr.62)
Ông đồng cảm nghĩ với nhạc sĩ Văn Cao, trong ca khúc Xuân đầu tiên của Văn Cao có đoạn: “Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về, mùa bình thường mùa vui nay đã về…” Xuân đến lòng người ai lại chẳng vui, ai chẳng nao nức, ai chẳng muốn gặp lại cố nhân, những người đã xa vắng từ bao giờ. Xuân về cho lòng người một cảm giác ấm cúng, thân thương, khó tả:
Mùa xuân hẹn thu về em trở lại
Ta nhìn nhau trong bóng nước mơ màng
Nước chảy mãi bởi vì xuân trở lại
Với dòng trong em hẹn ở bên đường
Ta sẽ đợi nghe đời em kể lại
Thuở xưa kia… bờ nước ấy xưa kia
Ta sẽ đợi nghe đời em nói mãi
Bên đời ai vạn đợi đã chia lìa
Mùa xuân hẹn thu về em trở lại
Bên đời đi còn giữ mãi hay không
Giòng bất tuyệt xanh ngần xuân thơ dại
Sầu hoang vu vĩnh hạ vọng non hồng. (Về cố quận, Mưa nguồn, tr.61)
Những câu thơ của ông thật lạ, không giống như những mùa xuân của thiên hạ hay tả là mùa xuân có bướm có hoa. Mùa xuân của Bùi Giáng là “hạnh phúc” mà hạnh phúc của ông chỉ trong những câu nói bỏ lững, chính vì vậy ta mới thấy ông cảm nhận ở “Tâm: “Thuở xưa kia…bờ nước ấy xưa kia” Câu thơ không mang một nội dung gì cả, “thuở xưa kia” là thuở nào, xưa là từ bao giờ, “bờ nước ấy” là bờ nào, rồi lại nhắc thêm một lần “xưa kia” nữa. Phải chăng mùa xuân của ông là một sự hoài niệm, khắc khoải, chờ đợi, hay là mơ ước cho một mùa xuân đẹp sẽ đến khi ông khát khao một nàng thơ nào đó sẽ trở về. Nhưng dù thế nào thì ông cũng cảm nhận được hạnh phúc trong mùa xuân của mình. Ông đã sớm linh cảm rằng cuộc đời của ông chỉ xoay vòng trong một tọa độ mà tọa độ đó được xác đinh bởi không gian “Cố quận” và thời gian “Nguyên xuân” đễ đến nổi ông phải thối lên rằng:
Rồi tôi lớn, đi vào đời chân bước
Cỏ Mùa Xuân bị giẫm nát không hay
Chợt có lúc hai chân dừng một lượt
Người đi đâu ? Xưa chính ở chỗ này. (Chỗ này, Mưa nguồn, tr.82)
Mùa xuân trong thơ ông có lúc đã rất vui, rất hạnh phúc, nhưng cũng lại có mùa xuân đau đớn, tái tê thể hiện qua câu: “Cỏ Mùa Xuân bị giẫm nát không hay”. Cỏ đẹp thế, mùa xuân đẹp thế nhưng bị giẫm nát lúc nào không hay biết. Phải chăng ông đã rất đau đớn một điều gì đó, tâm hồn ông đã giằn xé hay xót xa cho kiếp cỏ cây hay cho thân phận con người. Với ý nghĩ này Trịnh Công Sơn cũng xót xa cho thân phận của “cỏ” qua ca khúc Cỏ xót xa đưa:
“Trên đời người trổ nhánh hoang vu
Trên ngày đi mọc cánh lá mù
Những tim đời đập lời hoang phế
Dưới mặt trời ngồi hát hôn mê
Dưới vòng nôi mọc từng nấm mộ
Dưới chân ngày cỏ xót xa đưa.”
“Cỏ” trong thơ của Bùi Giáng cũng như trong nhạc của Trịnh Công Sơn đều đau đớn như nhau. Cỏ như thân phận kiếp người cũng bị con người chà đạp, cỏ cũng biết xót xa biết tủi nhục, biết tái tê, biết rơi lệ. Như vậy, mùa xuân trong câu thơ này của Bùi Giáng cũng u buồn, chứ đâu phải mùa xuân trong câu thơ nào của ông cũng vui.
Mưa nguồn cũ quá xa rồi một trận
Ôi xuân xanh vĩnh biệt như thể nào
(…) Người viết mãi một màu xanh cho cỏ
Người viết hoài một màu cỏ cho xuân…(Bài ca Quần Đảo, tr.22-23)
Với thơ ông, mùa xuân của đất trời hay xuân trong lòng thì cũng có lúc xuân buồn, cũng có lúc xuân vui, có lúc xuân hạnh phúc nhưng cũng có lúc xuân xót xa. Có những mùa xuân đã qua đi không bao giờ trở lại nhưng cũng có những mùa xuân ở mãi trong lòng ông. Rồi suốt một đời, ông đã ấp ủ một mùa xuân và ông vẽ cho chính mình một chân dung chân dung duy nhất, như viết hoài một màu cỏ cho xuân.
Xuân mười sáu suốt bến xuân chìm tắt
Một bài thơ gieo suốt tự bao giờ (Bài ca Quần Đảo, tr.11)
Không biết năm mười sáu tuổi đã xảy ra biến cố gì trong cuộc đời ông mà bến xuân trong ông đã chìm tắt? Điều đó cũng chẳng ai biết, chỉ biết là ông làm thơ từ dạo ấy, khoảng vào năm 1942, tại Huế, như theo lời kể của ông trong đầu sách Lời Cố Quận.[2]
Đọc thơ ông người đọc như lạc vòa một cánh rừng u tịch, không biết lối ra, không định hình được hướng, Người đọc choáng ngợp với từ từ, từng ngữ, từng câu thơ ông. Họ say sưa, họ suy nghĩ, … nhưng không thể hiểu hết những gì ông viết trong thơ. Trong khi họ còn đang đắm mình với cỏ cây hoa lá trong mùa xuân của ông thì bất chợt đâu đây lại nghe một lời chào như hư như thực:
“Xin chào nhau giữa con đường
Mùa Xuân phía trước miên trường phía sau.”(Chào Nguyên Xuân)
Ủa! quen hay lạ mà chào nhau thế? Phải chăng trong từ vô thỉ mọi người đã quen nhau? Thôi thì thôi cũng xin chào nhau vì tất cả mọi người cùng đi trên một lộ trình cơ mà. Kiếp người đã là một lộ trình dài vô tận, trên lộ trình đó thi thoảng con người đã gặp nhau rồi. Trong luân hồi sanh tử ấy nếu có duyên. Vậy thì hãy cứ chào nhau đi, cứ vui đi như tận hưởng những mùa xuân vậy. Niềm khát khao nhất một kiếp người không phải là đi tìm hạnh phúc đó sao? Vậy thì xin cứ xem nhau như những người quen để còn được thấy nhau, được chào nhau. Hôm nay còn gặp thì hãy cứ chào đi, cứ vui đi như xuân đang về vậy, và hãy để cho mùa xuân ấy miên trường ở phía sau, có nghĩa là còn vui trong vạn ngày tới nữa. Hãy bỏ qua những đau thương mất mác trong cuộc đời để đi tìm một bến bờ hạnh phúc. Hãy cảm nhận nó trong từng bước chân và đừng nói thêm gì nữa:
Thưa rằng nói nữa là sai
Mùa Xuân đang đợi bước ai đi vào
Hỏi rằng: đất trích chiêm bao
Sá gì ngẫu nhĩ mà chào đón nhau.(Chào Nguyên Xuân)
Mùa xuân trong thơ Bui Giáng còn ở bước chân của ai nữa kia. Xuân cũng có thể theo người mà về chứ chẳng cần có chim én. Phải chăng là mùa xuân của tâm hồn khi tâm hồn tràn ngập niềm vui thì một bước chân nhè nhẹ cũng là một hạnh phúc. Nhưng sao trong những câu thơ này Bùi Giáng tự hỏi rồi lại tự trả lời. Ông có cô đơn không? Có lẽ tâm trạng ông vừa hạnh phúc vừa cô đơn chăng? Chính vì cô đơn nên ông mới độc thoại với chính mình. Có khi ông rất mơ hồ, rất triết lý nhưng có khi ông lại rất thực tại:
“Thưa rằng: ly biệt mai sau
Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân.”
Không chỉ có vậy, những câu thơ về mùa xuân của ông có cái gì đó ngộ ngộ mà xưa nay chưa có một ai nghĩ ra dù nó chỉ là những hiện tượng bình thường của cuộc sống:
“Xuân về xuân lại xuân đi
Đi là đi biệt từ khi chưa về”
Theo Đặng Tiến nhận xét: “Hai câu thơ đơn giản. Ngớ ngẩn mà thâm sâu. Vớ vẩn mà thần sầu. Thâm sâu ở chỗ: lời nói tự hủy, tự lời bôi xóa lời. Câu thơ có nghĩa là: tôi vô nghĩa. Thần sầu ở chỗ: không mấy ai thấy cái chốn thâm sâu.”
Theo Nhất Thanh nhận định: đây là “Một bài thơ Xuân lạ lùng! Người làm thơ cứ như nhảy chân sáo trong thơ. Rất bông đùa, hóm hỉnh mà lại triết lý đến không ngờ. Qua tới đi về, cứ như mùa Xuân đang lượn lờ trước mắt chúng ta. Thế mà nó đã đi, đi biệt khi tất cả chúng ta chưa kịp thấy nó về. Hay nói cách khác, mùa Xuân vẫn mãi đi về giữa đất trời lớn rộng, trong khi lòng người quá nhiều bận rộn nên chưa kịp thấy hết nhịp điệu đến đi phiêu bồng của một cõi Nguyên Xuân.”[3]
Nói theo chu kỳ của vũ trụ thì xuân đến thì xuân phải về, dù cho con người có mong đợi hay không. Khi xuân đến có bảo xuân đừng đến cũng không được mà khi xuân đi có nắm giữ xuân lại thì cũng không thể. Hai câu thơ của Bùi Giáng nói lên chu kỳ của trời đất rất bình thường thôi nhưng nghe lại không bình thường. Có cái gì đó hay hay, lạ lạ, không dùng ngôn ngữ bay bướm, phóng đại gì cả, tuy rất đời thường nhưng lại rất khác thường. Có cái gì đó rất hay theo kiểu của Bùi Giáng mà ta không thể nói nên lời.
Theo nhận định của người viết: “Nếu nói Trịnh Công Sơn là “phù thủy về ca từ trong âm nhạc” thì Bùi Giáng là “kẻ điên về từ ngữ trong văn chương” điều đó không ngoa chút nào. Còn Đặng Tiến cũng khẳng định: “Thơ Việt Nam nhiều câu hay. Nhưng hay kiểu Bùi Giáng, xưa nay có một. [4]

2.2. Triết lý Phật giáo trong thơ Bùi Giáng

Đọc thơ của Bùi Giáng không những ta thấy được nét xuân mà còn thấy đầy triết lý của Phật giáo. Giống như Trịnh Công Sơn những ca từ trong ca khúc Trịnh thấm đượm tinh thần Phật giáo thì từ ngữ trong thơ của Bùi Giáng cũng mang nhiều hơi hướng của Đạo Phật. Nhiều người cho rằng “ông điên” nhưng hình như “ông điên để được tỉnh”, tỉnh trong thơ và tỉnh trong cả cuộc sống. Điên mà ông nhận chân được cuộc sống này là “hư vô” là không thật, là hữu hạn:
Cũng vô lý như lần kia dưới lá
Con chim bay bỏ lại nhánh khô cành
Đời đã mất tự bao giờ giữa dạ
Khi lỡ nhìn viễn tượng lúc đầu xanh. (Hư vô và vĩnh viễn)
Mấy ai trong cuộc đời này hiểu được cuộc sống là “vô thường” biến đổi không ngừng nghỉ. Có lẽ ông cảm nhận điều này nên ông đã làm một kẻ lữ hành rong chơi suốt cả một đời không vướng víu. Ông giống như một gã cùng tử trong kinh Pháp Hoa cứ mãi lang thang cả một đời đến khi sực tỉnh lại thì mới nhận chân ra được “đời chỉ là cõi tạm”, chỉ là “quán trọ trần gian” thôi, có gì đâu mà vui. Cõi tạm thì vô thường mà quán trọ chỉ là chỗ nghỉ chân. Cõi tạm này chẳng biết bắt đầu từ khi nào và kết thúc từ bao giờ. Nhưng có điều mà ông biết được đó là cái chết. Cái chết là điều gì đó thương tâm của kiếp người mà không ai tránh khỏi, cũng như kiếp hoa rồi cũng sẽ úa tàn:
“Lỡ từ lạc bước bước ra
Chết từ sơ ngộ Màu Hoa Cuối Cùng.” (Chớp biển, tr.45)
Nếu gọi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ của “Tình yêu và thân phận” mà trong đó yếu tố thân phận là yếu tố đã làm cho Trịnh Công Sơn trở nên bất hữu thì Bùi Giáng cũng có thể gọi là thi sĩ của “Tình yêu và thân phận”. Trong “cái thân phân” đó con người đã gặp nhau, đã vui sướng, đã đau khổ, đã dằn vặt, đã cấu xé lẫn nhau:
“Anh cứ tưởng đầu đường thương xó chợ
Ai có ngờ xó chợ cũng thương nhau.”
Hai câu thơ này chẳng biết chính xác là như thế nào mà lại có câu thơ dị bản khác:
“Cứ tưởng đầu đường thương xó chợ
Nào ngờ xó chợ cũng chơi nhau.”
Dù có dị bản đi chăng nữa, ta vẫn thấy được nó chứa đựng một triết lý rất Phật giáo mà lại “rất Bùi Giáng. Theo quan niệm của đạo Phật, cuộc sống của một kiếp người là đau khổ. Sự khốn khổ cùng cực với sinh lão bệnh tử, ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc… Bùi Giáng hiểu điều này, chính vì vậy mà ông đã sử dụng vào thơ của mình với hình ảnh “đầu đường” “xó chợ”, “đầu đường” “xó chợ” ở đây không phải là những người bần cùng theo phương diện xã hội mà ông muốn nói trên phương diện nỗi khốn cùng của kiếp người. Nhưng dù có là những kẻ “đầu đường” “xó chợ” đi chăng nữa thì phải biết thương nhau chứ. Kiếp người vốn dĩ đã chịu nhiều đau khổ của luật vô thường, của nhân quả nghiệp báo rồi, tại sao con người còn phải gây thêm những đau khổ cho nhau nữa. Cũng phân thận “đầu đường” “xó chợ” cả thôi, thì có gì sung sướng, có gì vinh quang đâu mà lại “chơi” nhau.
Trong xã hội người khốn khổ về vật chất nhất là những kẻ “đầu đường” “xó chợ” thì với triết lý của nhà Phật con người chỉ là một “gã cùng tử” không hơn không kém. “Gã cùng tử” chỉ biết rong chơi, lang thang đây đó, cho đến một lúc nào đó:
“Biển dâu sực tỉnh giang hà
Còn sơ nguyên mộng sau tà áo xanh.(Áo xanh)
thì mới nhớ đến quê nhà. Thế gian là cõi tạm, cuộc sống là vô thường, biến hoại, không hằng hữu, chỉ có quê nhà mới là nơi êm ấm, là chốn bình yên. Mỗi con người ai không có một quê hương, một chốn để về. Lang thang suốt một đời rồi mới:
Sực nhớ rằng đây rừng rú thẳm
Là quê thân thiết biết bao chừng (Người về)
Ông nhận chân ra được quê nhà ấy ở trong lòng, nghĩ là sự cảm nhận của tâm. Chỉ có “chân tâm” mới là quê nhà thật sự. Chỉ có hạnh phúc thật sự là ở mãi trong tâm:
Lòng chim gieo sáng dệt vân sa
Trên bước đường xuân trở lại nhà
Mở sách chép rằng: vui một sáng
Nghìn năm còn mãi tấm lòng ta (Áo xuân, 1942)
Phải chăng Bùi Giáng muốn trở về với “chân tâm” của mình hay là khéo nhắc mọi người đừng đi tìm chân hạnh phúc ở đâu xa mà chính là ở tâm mình. Ông đã rất khéo léo vận dụng ngôn ngữ của Phật giáo và trong thơ ông. Ngôn từ tuy có khác nhưng ý nghĩa thì tương đồng, thế mới nói chân lý chỉ có một nhưng phương tiện là rất nhiều. Trở lại quê nhà ở đây không khác là trở lại với chân tâm, chính nơi đây mới là hạnh phúc và giá trị của hạnh phúc này phải đánh đổi bằng bao nhiêu năm lang thang nơi xứ lạ quê người.
Trong kinh Hoa Nghiêm, Phật dạy: “Nhất thiết duy tâm tạo”. Trước Bùi Giáng, Đại thi hào Nguyễn Du trong Truyện Kiều cũng nói về “Tâm” khi khẳng định về thân phận của kiếp người qua hình ảnh của nàng Kiều: “Thiện căn ở tại lòng ta, chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Trịnh Công Sơn cũng có một câu trong ca khúc Để gió cuốn đi đã trở thành một câu dường như là bất tử: “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng”. Tấm lòng đó là “Tâm”, nếu sống mà không có “Tâm” thì cuộc sống trở nên vô nghĩa. “Tâm” của Bùi Giáng có lúc lang thang, có lúc ngỡ ngàng, có lúc hiu quạnh, lúc có niềm vui… nói chung là trái tim ông cũng xao động theo mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút:
“Đường đi ngõ quạnh lang thang,
Niềm vui tao ngộ muôn vàn lạ thay.
Trái tim mỗi mỗi mỗi ngày,
Mỗi giờ phút đọng mây trời rung rinh”.
Điều này ứng với giáo lý của nhà Phật là: “Tâm viên, ý mã” (Tâm như con vượn truyền cành, ý như con ngựa chạy rong trên đường.) Bùi Giáng hiểu được điều này, chính vì vậy mà ông muốn “trở về cố quận” để tìm lại cõi “nguyên xuân” của kiếp người. Cõi “nguyên xuân” đó chính là quay về với tự thân của cuộc sống đời thường mà bấy lâu nay con người ta bỏ quen. Cứ tưởng hạnh phúc nằm ở đâu xa xôi lắm con người cứ mãi khát khao đi tìm, đâu có ngờ hạnh phúc nằm ở những điều giản dị nhất của cuộc sống. “Hạnh phúc đâu chỉ là những nụ cười mà con tô điểm thêm bằng những giọt nước mắt. Hạnh phúc đâu chỉ là ánh mặt trời ấm áp mà còn là vầng trăng lạnh lẽo đêm thâu.”[5]. Bùi Giáng đã nhận chân ra được hạnh phúc nên ông đã sống một cuộc đời không bon chen không danh lợi. Ông tìm vui trong những gì đơn sơ nhất, giản dị nhất mà mỗi người ai cũng có thể tìm được:
“Mỗi sáng tôi nhìn mặt trời mọc trong mây,
Mỗi chiều tôi nhìn mặt trời lặn trong mây,
Suốt ngày tôi lắng tai nghe tiếng chim hót trong lá cây reo,
Và nhìn thấy rất nhiều mùa xuân mênh mông đang đi tới”.
(Nhìn thấy – “Đêm ngắm trăng” tr.27)
Ông tận hưởng cuộc sống với mỗi sáng sớm được còn nhìn thấy mặt trời mọc trong mây, mỗi chiều cũng được thấy mặt trời lặng trong mây, và lđược lắng nghe tiếng chim hót trong khoảng trời mênh mông vô tận. Cuộc sống tấp nập hối hả đã làm cho con người mãi chạy theo vật chất, với công việc, những mối quan hệ xã hội chằn chịt, những lo toan vây hãm, đâu có ai có thời gian để tận hưởng cuộc sống, dù chỉ là được nhìn cảnh bình minh và hoàng hôn. Cuộc sống rất ngắn ngủi, sang còn tối mất như cánh phù dung sớm nở tối tàn. Cái chết chẳng đợi ai nên đừng truy tìm hay ước vọng về quá khứ và tương lai mà cứ an trú trong phút giây hiện tại để thấy mình còn hiện hữu trên cõi đời này. Trong kinh Người biết sống một Đức Phật dạy:
“Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.”[6]





Chỉ có giờ phút hiện đại mới tìm thấy được hạnh phúc mà hạnh phúc đó là trạng thái của Niết Bàn. Niết Bàn hiện hữu trong từng hơi thở, trong từng thớ thịt của mạch sống chứ đâu phải ở đâu xa xôi. Niết bàn là sự hiện hữu của cái nhìn, cái thấy trong giây phút hiện tại khi tâm tỉnh giác. Tỉnh giác với tự thân và tỉnh giác ở cảnh vật mà ở đây trong thơ ông là tỉnh giác với thiên nhiên qua ánh nắng của mặt trời. Chỉ bao nhiêu đó thôi là đã đủ giàu có, thế mà tại sao con người vẫn mãi lang thang làm gả cùng tử, đến lúc nào đó gã cùng tử muốn quay trở về cố quận, dù đường về có quá xa xôi. Trịnh Công Sơn cũng nói:
“Đường xa mỏng mộng vô thường
Trái tim chợt tỉnh tôi nhừng nhịn tôi.”
Lang thang suốt một độ luân hồi rồi cũng may là có lúc tỉnh ra, có người suốt đời cũng đâu hiểu cuộc đời chỉ là giác mộng vô thường. Dẫu biết rằng con người không biết sinh ra từ đâu, nghĩa là cội nguồn hay quê hương là ở đâu, vì thế mà Bùi Giáng đã tự hỏi:
“Hỏi rằng người ở quê đâu
Thưa rằng tôi ở rất lâu quê nhà”.
hay :
“Từ đâu ngươi đến? – Từ đây ta về”.
Cuộc hành trình về cố quận của Bùi Giáng quả thật là dài, nhưng đâu đó ông cũng đã gặp được những triết lý của Phật giáo để rồi từ đó ông đem nó vào trong thơ ca của ông, nó trở thành chất liệu sống của ông theo từng năm tháng. Những tháng ngày một mình trên lộ trình của cuộc sống thông qua những câu thơ bình dị mà trác tuyệt là cả một tâm hồn siêu thoát. Cho nên có người còn gọi ông là “vị Bồ tát của văn chương”. Đúng vậy, ông đã từ bỏ một cái ràng buột, “ồn ào của cuộc sống để thong dong bước vào đạo”.[7] Đó là hạnh nguyện hay chỉ là một sự ngẫu nhiên của cuộc đời ông hoặc là cái nghiệp văn chương của ông phải như thế. Dù sao đi nữa thơ ông cũng mang đầy tâm trạng, mang đầy màu sắc mà màu sắc Phật giáo là một kho tàng vô giá mà ông đã may mắn bắt gặp được. Âu đó cũng là một phần thưởng của hạnh phúc đã dành cho ông và từ đó ông đem ban tặng đến tất cả mọi người qua những vần thơ tuyệt tác.

2.3. Nét hư thực trong thơ Bùi Giáng

Có người cho rằng Bùi Giáng “điên” nhưng hình như ông chỉ “điên trong thơ” mà thôi. Cái điên đó thể hiện ở nét hư thực trong ngôn từ và nội dung của ông. Thơ của ông dung dị mà sâu sắc, đơn giản mà tài hoa, bong đùa mà nghiêm túc, khoáng đảng mà khắc, như vậy đâu thể nói Bùi Giáng là một “người điên”, thơ ông hay là thế. Những câu thơ trong thơ ông có thể bỏ lững, có thể không lý do nhưng ta vẫn có thể cảm nhận nó theo tâm trạng của mỗi người. Ai muốn hiểu sao thì hiểu, nhưng không ai có thể hiểu hết thơ ông. Và cho đến chính bản thân ông cũng không thể hiểu nổi ông kia mà:
Xưa kia tôi đã có lần
Và bây giờ đã đôi phần tôi quên.
(Ca dao, Mưa nguồn, tr.143)
Ông không cho biết ông quên gì, nhớ gì, vì ông cũng không biết ông đã làm gì để mà nhớ. Có đôi khi con người ta “tưởng rằng đã quên” nhưng sự thật có quên đâu bao giờ, không những không quên chút nào mà nổi nhớ ấy lại được cất giữ ở một góc khuất trong tâm hồn mà thôi. Bùi Giáng cũng vậy, cái ông quên là những gì ông có thể quên vì không ai nhớ hết tất cả mọi điều. Cuộc sống còn có những điều quan trọng hơn cần phải nhớ và cần phải nghĩ. Cũng rất “may” là ông đã quên chứ không ông còn có nhiều câu thơ hay hơn thế nữa. Câu thơ đọc lên rất bình thường nhưng lại không bình thường. Chính vì thế mà người đời mới bảo ông “điên”.
Những câu thơ của ông vừa hư vực, hư ở đây là nó thực đến nỗi mà hóa “hư” còn “thực” ở đây là hư đến nỗi mà hóa “thực”. Có những thứ mà chẳng ai đem nó vào thơ nhưng hình ảnh “đầu đường” và “xó chợ” vậy mà ông lại đem vào thơ không những thế mà lại hay nữa chứ. Có những dụng cụ tầm thường trong cuộc sống chẳng đưa nó vào thơ vậy mà qua ngòi bút của ông những thứ đó lại trở nên sống động hư thực:
“Bằng bút chì đen
Tôi chép bài thơ
Trên tường vôi trắng
Bằng bút chì trắng
Tôi chép bài thơ
Trên lá lục hồng
Bằng cục than hồng
Tôi đốt bài thơ
Từng phút từng giờ
Tôi cười tôi khóc bâng quơ
Người nghe cười khóc có ngờ chi không?” (Bao giờ)
Bằng những vật dụng có trong cuộc sống hàng ngày mà ít ai để ý đến giá trị của nó như: “bút chì”, “tường vôi”, “cục than” vậy mà ông đã đem vào thơ của mình. Nhìn ở ngoài chúng bình thường thế mà vô trong thơ ông nó trở nên có hồn, có cảm xúc tạo nên những câu thơ sống động. Những câu thơ rất thực nhưng không ai ngờ đến nỗi nó quá thực đến như vậy, chính vì nó quá thực nên nó đã trở thành “hư”
“Người nằm ngủ thấy gì,
Thấy rất nhiều nắng lạ,
Những chùm bông rất xanh,
Có lẽ bông là lá.
Người nằm ngủ thấy gì,
Chẳng thấy gì hết cả.
Ngài thử nằm ngủ đi,
Đừng hỏi gì hết cả”. (Có lẽ – “Mưa nguồn…” tr. 359)
Đọc thơ của ông đôi khi ta bắt gặp những điều rất mâu thuẫn. Có khi ông nói thấy có khi lại nói không, vậy cuối cùng là như thế nào? Chỉ có người sống trong cuộc mới biết chứ có diễn tả ra cũng không ai hiểu được. Những hình ảnh nắng, lá, bông trong giấc mơ có khi thấy có khi lại không thấy, không thấy không có nghĩa là không thấy mà thấy không có gì. Bùi Giáng đã hư thực trong giấc mơ như hư thực trong chính những câu thơ của ông. Đây không phải là lời nói xuông mà chỉ có ai sống trong giấc mơ đó mới cảm nhận được. Giấc mơ thì là có thật nhưng những điều diễn ra trong giấc mơ lại là hư ảo. Bùi Giáng cảm nhận được điều này muốn đem kể lại cho mọi người ông nghĩ mọi người sẽ không cảm nhận được nó. Nếu ai muốn hiểu được những giấc mơ đó thì phải tự mình đi vào giấc mơ đó và sống với nó thì mới hiểu được. Sự cảm nhận của mỗi người là khác nhau khi mỗi sự vật hiện tượng đều có nguyên lý của nó. Giống như viên kim cương có nhiều mặt con người không thể nhìn một lúc tất cả các mặt của nó. Nếu chỉ nhìn phiến diện thì không thể nhận xét đúng về nó, chính vì vậy mà phải nhìn toàn thể thì mới đáng quá được. Nhưng chưa chắc gì khi nhìn tổng thể lại đánh giá đúng về nó.
Sự hy thực trong thơ ông làm cho sự tư duy của người đọc thêm phong phú, tùy theo sự cảm nhận của mỗi người, ông không bắt buột ai phải có suy nghĩ như ông. Phải chăng nó hư thực quá mà người ta cho rằng ông “điên”. Nhưng “điên” mà có những tác phẩm hay đến siêu lòng thì cũng nên “điên” lắm chứ. Chỉ sợ tỉnh mà không thể làm được điều gì thì tỉnh cũng chẳng để tỉnh làm gì cả. Phải nói rằng Bùi Giáng là ông Tiên thì đúng hơn vì ông đã sử dụng chiếc đủa thần tư tưởng của mình gõ vào những con chữ để cho chúng tự nhảy múa chứ ông không hề điều khiển chúng.

3. NHẬN ĐỊNH VỀ NHỮNG TÁC PHẨM CỦA BÙI GIÁNG

Bùi Giáng không chỉ làm thơ, dịch tiểu thuyết, viết sách khảo luận triết học, Bùi Giáng còn viết rất nhiều tùy bút văn học, đặc biệt là tùy bút về thơ. Nếu ai đã từng đọc nhữn tác phẩm của ông sẽ thấy đằng sau những ngôn từ đó là một tâm hồn mênh mang huyền diệu, những cung bậc cảm xúc của một con người đa tài. Khác với những tác giả khác chỉ thiên về một lĩnh vực văn hoặc thơ hay tùy bút còn Bùi Giáng thì viết nhiều thể loại nhưng thể loại nào cũng hay cả.
Ngôn từ trong thơ ông đa dạng, nhiều ẩn ý, nhiều hình tượng và đặc biệt là mang đầy triết lý phương Đông mà nổi bật nhất là triết lý Phật giáo. Đọc thơ ông người đọc như lạc vào một khu rừng của từ ngữ, trong đó những con chữ thi nhau nhảy múa, hát ca. Ngôn ngữ đó, Bùi Giáng đã đưa kinh Phật về với những gì dung dị nhất mà người đọc vẫn có thể cảm nhận nó qua những cảnh vật, những vật dụng, hoặc thiên nhiên như hoa lá cỏ cây. Mùa xuân trong thơ của ông có khi buồn, khi vui, khi hạnh phúc, khi xót xa.
Những câu từ vừa siêu nhiên, vừa trần tục, vừa ngây ngô, vừa điên dại đã làm cho người đọc như lạc vào cõi ba đào tuý luý tình mộng đổ xiêu của mình. Cõi thơ Bùi Giáng mang bóng dáng của huyền thoại nữa hư nữa thật. Nhưng dù sao đi nữa phải công nhận một điều thơ ông hay mà lạ, không lẫn lộn với thơ của bất cứ ai. Chính vì vậy mà ta có thể gọi là độc đáo ‘rất Bùi Giáng.

KẾT LUẬN

Có thể nói Bùi Giáng là một thi sĩ kỳ lạ mà có người đã mệnh danh ông là “thi sĩ Bồ Tát”, vì ông đã cống hiến cả đời mình cho văn chương. Sự cống hiến không mệt mỏi cho đến cuối đời. Ông hào phóng với cuộc đời và ban tặng những gì tin túy nhất trong tư tưởng của ông để có những tác phẩm dâng đời. Xét về cuộc sống của ông có cái gì đó rất bình dị không hoa hòe, không phô trương, không chấp trước. Chính vì thế mà ông trở nên khác người đến nổi người đời còn cho là ông điên. Nhưng thực ra ông sống tùy duyên không vướng bận, ông muốn thoát ra khỏi những vật chất bám víu với những cái cảnh nhà cao, cửa rộng mà lại trở về với thế giới nguyên sơ để không phải lụy phiền.
Bùi Giáng một mình đi trên con đường thênh thang trong cả cuộc sống và trong cả văn chương, nhưng trên bước độc hành đó ông đã bắt gặp những tâm hồn đồng điệu như Nguyễn Du, Trịnh Công Sơn và đặc biệt là bắt gặp cả một kho tàng giáo lý của nhà Phật thì đó quả thật là một điều hạnh phúc. Ông bắt gặp được một nguồn hạnh phúc, một niềm vui thật sự để từ đó bước vào cõi nguyên sơ và sống với nó qua những vần thơ bình lặng.
Thơ ông vừa lãng mạn, tinh nghịch, lại vừa hóm hỉnh, nhẹ nhàng. Có những bài thơ vừa độc thoại và vấn đáp xoay quanh tình yêu và thân phận, lẽ sinh tồn trong cuộc sống bể dâu đầy khắc nghiệt. Ông yêu cuộc đời nên không muốn cuộc đời tổn thương, ông thương con người nên không muốn than phận kiếp người phải đau khổ, nên thơ ông như ẩn chứa những tâm trạng khắc khoải hoài vong. Thơ ông vừa cổ kính vừa hiện đại, “có màu sắc siêu thực qua tính cách tạo hình, có chất hoang mang của con người bất khả tri về mình, về người khác trong cuộc sinh tồn hiện hữu…” [8]
Bùi Giáng đã bắt gặp hình ảnh của chính mình ở trong thơ, và tấm bi kịch đó ông đã vẽ nên những bức tranh có khi vui tươi, có khi ảm đạm, có khi có nghĩa và có lúc cũng trở trên sáo rỗng. Chính vì vậy mà ông đã rất “ngông” không những ở trong thơ mà luôn cả với đời sống hiện thực của ông. Người viết xin mượn lời của T.Khuê nhận định để thay lời kết: “Dù sao chăng nữa, ông cũng đã tạo được một mẫu ngông thời đại, sáng tạo một kiểu say sưa, chán đời của thế kỷ 20, khác với Nguyễn Khuyến trong thế kỷ 19 hoặc Tản Đà ở đầu thế kỷ 20” [9].

Thích Pháp Như


12 thg 9, 2018

TỪ HA LONG BAY ,CAM RANH BAY ĐẾN CAM DAI BAY

      Việt Nam nổi tiếng có Vịnh Hạ Long , tên tiếng Anh là Ha Long Bay, một kỳ quan mà UNESCO đã công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới từ năm 1994. Địa danh Hạ Long hàm ý nơi rồng đáp xuống tại một vịnh nhỏ thuộc phần bờ Tây vịnh Bắc Bộ, khu vực biển Đông, bao gồm vùng biển đảo thuộc Thành phố Hạ Long, Thành phố Cẩm Phả và một phần của huyện đảo Vân Đồn thuộc tỉnh Quảng Ninh.

      Vịnh Hạ Long là trung tâm của một khu vực rộng lớn có những yếu tố ít nhiều tương đồng về địa chất, địa mạo, cảnh quan, khí hậu và văn hóa. Vịnh Hạ Long giới hạn trong diện tích khoảng 1.553 km² bao gồm 1.969 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn là đảo đá vôi, trong đó vùng lõi của Vịnh có diện tích 334 km² quần tụ dày đặc 775 hòn đảo.




Ha Long Bay

      Tại miền Nam có Vịnh Cam Ranh , tên tiếng Anh là Cam Ranh Bay. Nơi đây là một cảng biển nước sâu thuộc thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, thường được xem là bến nước sâu tốt nhất Đông Nam Á, thích hợp làm nơi tàu bè trú ẩn khi biển động. Vì địa thế chiến lược mà Cam Ranh được sự chú ý quân sự qua nhiều thời kỳ. Hải quân Pháp, Hoa Kỳ, và Liên Xô đã từng dùng Vịnh Cam Ranh làm căn cứ chiến sự. 




Cam Ranh Bay

        Du khách đến Việt Nam thường thấy nhiều nơi xuất hiện những dòng chữ "Cấm Đái Bậy" nên cứ tưởng ta đang quảng cáo cho một vùng vịnh mới có tên "Cam Dai Bay"! Ngôn ngữ tiếng Việt quả là… nhiêu khê và người nước ngoài khi đến Việt Nam nhầm lẫn giữa 3 cái vịnh cũng là điều bình thường!


CAM DAI BAY

     Để diễn tả hành động “tiểu tiện”, kho từ vựng của người Việt có rất nhiều từ ngữ dưới dạng “thanh” cũng có, mà “tục” cũng không thiếu. Người miền Bắc gọi “tiểu tiện” là “đi giải”, một từ ngữ nghe thật lạ tai đối với người miền Nam. Tuy nhiên, “đi giải” vẫn “thanh” hơn là… “đi đái”.
         Hình dưới đây được chụp tại miền Bắc với mũi tên “Vệ sinh” chỉ vào một nơi được gọi là… “hố giải”. Ngày nay, các cháu nhỏ được dạy từ cấp tiểu học là “đi vệ sinh” thay vì “đi tiểu” hoặc “đi đái”. Cụm từ “đi vệ sinh” nghe rất thanh tao. 



Hố giải = Hố tiểu

          Rõ ràng là giữa hai từ “đái” và “tiểu” có sự khác biệt về mức độ “thanh-tục”. Hình như người miền Bắc có khuynh hướng dùng chữ “đái” nhiều hơn chữ “tiểu” (?). Điển hình là tên bệnh “đái tháo đường” được dùng khá phổ biến ở các tỉnh phía Bắc trong khi tại miền Nam lại gọi là “tiểu đường”.
      Tôi không biết nhiều về y học nên không rõ có sự khác biệt nào giữa “đái tháo đường” và “tiểu đường” nhưng về phương diện ngôn ngữ, cái tên trước nghe “thô tục” và tên sau nghe có vẻ thanh tao hơn.
        Các bệnh viện trên cả nước bác sĩ thường cho “thử nước tiểu” thay vì “thử nước đái”. Điều này cho thấy giữa “đái” và “tiểu” đều diễn tả cùng một hành động nhưng lại có sự khác biệt giữa một bên là ngôn ngữ “bình dân” và phía bên kia là hình thức ngôn ngữ tạm gọi là… “sử dụng mỹ từ”!
       Có lẽ trường hợp chữ “tiểu” ở đây xuất xứ từ chữ “tiểu tiện”, một từ Hán Việt được dùng để phân biệt với “đại tiện” (đi cầu, đi tiêu) và “trung tiện” (người miền Bắc gọi là “đánh rắm” trong khi người miền Nam lại gọi là “đánh địt”). 

       Nói đi thì cũng phải nói lại, có nhiều trường hợp chữ “đái” không thể nào thay thế bằng chữ “tiểu”. Người ta thường nói con nít hay “đái dầm”, “đái mế” chứ không ai nói… “tiểu dầm” hay “tiểu mế”! Lại nữa, tục ngữ có câu:
“Trai khôn lắm nước đái, gái khôn lắm nước mắt”   hoặc ít có câu nào lột tả được hết tình đời đen bạc, phũ phàng như   “Ăn cháo đái bát”.

Cát bụi trở về cát bụi... nước trở về với nước 

         Lại bàn về tiểu đường, một căn bệnh rất khó chữa vì phải uống thuốc trường kỳ, ngày nào cũng uống. Có những người không mắc bệnh lý tiểu đường nhưng lại mắc chứng… tiểu tiện ngoài đường. Gốc cây, bờ tường hay bất kỳ một chỗ khuất nào cũng có thể đứng hoặc ngồi để giải quyết cơn buồn tiểu. Người ta nói vui, họ “tưới cây” hay văn hoa hơn là… “đứng nhìn trời hiu quạnh”.
      Năm 1994 tôi đã chụp được một loạt hình một người lớn tuổi, mới trông tưởng ông đứng ngắm cột đèn hay đọc quảng cáo trên đường Hàm Tử, quận 5. Hóa ra ông mắc chứng… tiểu đường.



Ông đang đọc quảng cáo trên cột điện?

 Ông thư thái, nhẹ nhõm khi rời… "hiện trường"
Xem ra “tiểu đường” là một cái “tật” chứ không phải “bệnh” mà thời nào cũng thấy xuất hiện, tuy ở mức độ khác nhau. Trước năm 1975, Sài Gòn cũng đã cố chữa tật này nhưng không mấy hiệu quả. Người Sài Gòn lớn tuổi chắc vẫn còn nhớ, con đường Lê Lợi (Bonard) chỉ đông vui phía bên này đường với những người đi “bát phố Bonard”, dập dìu tài tử giai nhân.
Phía bên kia đường là hình ảnh ngược lại, vắng như… chùa Bà Đanh. Không biết vì phần đường này ít ai lui tới vì không có tiệm lớn hay vì tại đây có một “cầu tiểu” xây bằng gạch để mọi người khi cần có chỗ “giải tỏa bầu tâm sự”. Điều đáng nói là “cầu tiểu” dù có nước chảy nhưng lúc nào cũng bốc mùi đặc trưng của nước tiểu.
Trên trang Flickr của anh Mạnh Hải có sưu tầm được một tấm hình “cầu tiểu” phía bên kia đường Lê Lợi từ bộ sưu tập của Darryl Henley. Nhìn kỹ phía bên trái hình có cảnh một cậu học sinh, một tay cắp cặp còn tay kia giơ lên bịt mũi. A picture says a thousand words!   


“Cầu tiểu” phía bên kia đường Lê Lợi

       Thêm một “cầu tiểu” nữa nằm nay phía bên hông Quốc hội, ngày nay gọi là Nhà hát Thành phố. “Cầu tiểu” này trông “khang trang” hơn cái ở đường Lê Lợi nhưng chắc chắn các dân biểu không bao giờ bén mảng tới. Cầu nằm ngay trên lề đường, rất thuận lợi cho những ai vào… “xả xú bắp”.
       Có điều rất nhiều người không biết đến địa chỉ này nên “cầu tiểu” lâm vào tình trạng… ế khách vãng lai! Dưới đây là hai bức hình cũng do anh Mạnh Hải sưu tầm, được chụp từ năm 1964:




Cầu tiểu phía bên hông Quốc Hội

Cô nữ sinh đạp xe về nhà ngang qua… “cầu tiểu”

      Thời nay, tật tiểu đường có vẻ như “ngày càng phát triển” khi ăn nhậu càng nhiều. Bia vào thì nước tiểu phải ra là điều dĩ nhiên. Có những người khi còn ngồi trong quán nhậu không cảm thấy sự đòi hỏi bức xúc phải trút bầu tâm sự nhưng trên đoạn đường về nhà mới thấy… tưng tức trong lòng.
Thế là đành phải ghé gốc cây tưới nước. Mặc kệ những biển cấm phóng uế. Họ bất chấp cả hình ảnh khủng khiếp dưới đây :


Bảng cấm tiểu tiện

      Không phải chỉ ở xứ ta mới bị “tật tiểu đường”. Ai cũng biết Singapore là một đảo quốc thuộc loại “sạch & xanh” hàng đầu thế giới. Ấy thế mà tôi đã “chộp” được một tấm ảnh cấm tiểu tiện tại khu Little India. Bảng cấm tiểu tiện có kèm theo dòng chữ sẽ phạt 500 đô (Sing.) nếu vi phạm: 

Ảnh chụp tại khu Little India, Singapore

      Tin vui đọc trên VnExpress : 

"Hà Nội chi 15 tỷ đồng xây 14 nhà vệ sinh”.Theo bản tin này, “UBND TP Hà Nội vừa cho phép Ban quản lý Chỉnh trang đô thị Hà Nội thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư xây dựng 14 nhà vệ sinh công cộng bằng thép, trong đó có 10 nhà vệ sinh 2 buồng và 4 nhà vệ sinh loại 4 buồng”.
     Dự án có tổng mức đầu tư 15 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách, trong đó công tác chuẩn bị đầu tư khoảng 350 triệu đồng, được thực hiện ngay trong cuối năm nay. Bài viết được đi kèm hình ảnh một nhà vệ sinh công cộng bằng thép thật “hoành tráng”. Trên nóc có chữ WC để mọi người không lộn địa chỉ. Bên hông còn có khẩu hiệu: 

                                       “Vì môi trường Xanh Sạch Đẹp”. 



Hình ảnh đi kèm bản tin trên VnExpress

     Rất mong hình ảnh nhà vệ sinh công cộng điển hình ở Hà Nội sẽ sớm xóa đi những hình ảnh xấu trên cả nước. Chúng ta tự hào là có Ha Long Bay, Cam Ranh Bay nhưng đừng để khách nước ngoài cứ thắc mắc về cái bảng... "Cam Dai Bay" trên đường phố, họ cứ ngỡ ta quảng cáo cho một địa điểm du lịch mới...
       Tuy nhiên, giá một nhà vệ sinh công cộng bằng thép lên đến hơn 1 tỷ đồng. Tôi e có người vào đây bỗng phải... "nín tè" vì nhà vệ sinh công cộng sang trọng và giá trị hơn cả căn nhà cấp 4 mà nhiều người sinh sống.


          TỪ CAM DAI BAY ĐẾN URITROTTOIR , URINOIR

     “ Từ Ha Long Bay, Cam Ranh Bay đến… Cam Dai Bay ” tôi viết vào 11/2013 . Đối với một số bạn đọc, bài viết này không có tính chất “thanh cao” vì đề cập đến một vấn đề kém “tế nhị”, xuất xứ từ những dòng chữ “Cấm đái bậy” tại Việt Nam.
      Bây giờ 2018, đã là 5 năm sau bài viết đó, có một tin trên báo Daily Mail (Anh) cũng lại có một bài viết liên quan đến việc tiểu tiện ngay tại Paris vốn là “thủ đô hoa lệ” của nước Pháp.Người Pháp “chế” ra một từ ngữ mới, gọi là “uritrottoir” hay “urinoir”, để ám chỉ những nơi tiểu tiện ngay giữa chốn phồn hoa đô hội.
    Mời các bạn xem hình trên Daily Mail, ngày 13/8/2018:

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhZrS-k5pnX1n7s5sB9JgQpAfTZW1fMMmGO-_71ve7Cpif7vHiKQc_W89IR-yS11kmoQngdKj2_8jJSTbZUFfIDEdcAU87xclCbliLkZyPajE2ud0AS7OQ3Xa5X5Q2JbT7DKk1Kx9XLzRE/s640/U+1.jpg
                “Uritrottoir” trên bờ sông Seine
       Cách trang trí một “uritrottoir” (tạm dịch một cách thanh cao là “nơi tiểu tiện trên lề đường”) được ngụy trang thật “bắt mắt” và “thi vị” với hoa tươi trồng trên nột nền đỏ rực rỡ rất ư là… “nghệ thuật”. Tuy nhiên, theo bài báo, có nhiều người phản đối “sáng kiến” này.
      Dĩ nhiên đa số người phản đối gay gắt là dân “địa phương” Parisiens, có lẽ vì là người “tại chỗ” nên các nhu cầu của “tiếng gọi thiên nhiên” đã được giải quyết ngay tại nhà của họ. Chỉ khổ cho du khách lúc cần mà không tìm được nhà vệ sinh công cộng, dù phải trả bằng tiền.
     Xét cho cùng, “uritrottoir” là giải pháp hoàn toàn có tính cách “nhân văn” để giúp những người mang nặng “bầu tâm sự”. Không nằm trong “tứ khoái” như người Việt mình quan niệm nhưng tiểu tiện vốn là một phần “không thể tách rời” của đại tiện.
         Thế cho nên, trút được những gánh nặng trong lòng “một cách hợp pháp” cũng là một trong những điều mang lại sự thoải mái cho một chuyến du lịch đến “kinh đô ánh sáng” Paris. Vì lý do đó, tôi hoàn toàn ủng hộ những điểm đậm chất “nhân văn” như “uritrottoir” của người Pháp.

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiuG_3HaA00YryFT_5xGDdmI2lknbtZElaZKWykI4n9Y_upBig8BLKSsZ33udMb7smoJQma_e3SVAR2RT6s78fsBPse9Msw59b0tFN5JB6urdH-3ctCn8ESvKSEFd7cCi7DpbcI99uT0yg/s640/U+2.jpg
                 
                     Nét “sảng khoái” của một du khách khi tìm được chỗ giải tỏa bầu tâm sự
   
Nhưng (lại có chữ “Nhưng” thật oái oăm), những người tranh đấu cho quyền bình đẳng giữa nam và nữ lại có lý do để phản đối. Họ không chống lại “uritrottoir” trên đường phố nhưng cứ nhìn vào bảng hướng dẫn chỉ thấy toàn nơi tiểu tiện cho quý ông, chẳng lẽ phái yếu không có nhu cầu này sao?
        Đó là vấn đề “nóng bỏng” mà các nhà quản lý cần quan tâm nếu không sẽ bị mang tiếng là…“trọng nam khinh nữ”. Đã là con người thì mọi nhu cầu của sự bài tiết sẽ không phân biệt “quý ông” hay “quý bà”. Hãy mau mau giải quyết vấn đề này cho phụ nữ. Chỉ trừ trường hợp thế giới này không có sự hiện diện của… những nụ hoa biết nói!
      Người Pháp vốn “gallant”, nhất là đối với phụ nữ. Thế cho nên, “không chóng thì chầy” thế nào họ cũng có cách giải quyết thỏa đáng để đem lại “quyền bình đẳng” cho giới “liễu yếu đào tơ”.

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjEevJDcPn12rY6sgGuC82BIANHFidScGGUP32f3uKqIMxlFWS1zIdd9gdQHCkah6JgeXlqRJKzYWY-B7gwxX_b18vLe_kAXq-mwT1dT2LNAP9klZmwLIPdb7oAZMSckPaIJVABknXq3q0/s640/U+3.jpg

Rõ ràng là “uritrottoir” này chỉ dành riêng cho quý ông!


      Để chấm dứt bài viết này, xin có điều lưu ý các du khách (thuộc loại “Hai Lúa” như tôi) khi đến Paris. Hình dưới đây là ảnh của một “uritrottoir” chứ không phải là “lavabo” để rửa mặt. Điều này sẽ không thừa vì nó trông… không có gì giống “hố giải” ở bên nhà.

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiPw4ecjfnfb4TVIBpbjtiurg37YezwXzrIkcM_ByyP9cHvjcTThixcoZQ2pspBwdb4359-eKn5WGVtUm6dSZmghtKmNfh8kYgBdiWFLqzfznb7SUlDet8_ZzNjoU2SYwXJY-5jXvE_DuU/s640/U+4.jpg

                     Nguyễn Ngọc Chính's 

                                          


HOA HỌC TRÒ-Trời đất dành riêng tuổi học trò.Một loài hoa đỏ rất nên thơ...

HOA HỌC TRÒ-Trời đất dành riêng tuổi học trò.Một loài hoa đỏ rất nên thơ...
Mỗi năm hoa nở mùa thi đến.Chạnh nhớ trường xưa nhớ bạn bè .Nguyenuthang ..