24 thg 3, 2023

CHÙA "BA KHÔNG"

 

   



         Chùa “Ba không “ là tên quen gọi của chùa Tiêu Sơn ,một ngôi chùa nghìn năm ở Bắc Ninh ,đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử và nghệ thuật quốc gia vào ngày 25.1.1991.Chùa Tiêu Sơn cũng chính nơi thờ thiền sư Vạn Hạnh. Người là Quốc sư của của hai triều Tiền Lê và Lý. Đồng thời cũng là người có công lớn trong việc giáo dưỡng, truyền thụ tri thức và đưa vua Lý Công Uẩn lên ngôi, lập nên vương triều Lý.

***

         Đi theo con đường Hà Nội- Bắc Ninh, đến ki- lô mét 20, nhìn về phía bên trái, thấy có một núi đất mọc lên giữa đồng lúa mênh mông . Tại lưng chừng núi, giữa rừng cây sum suê, thấp thoáng mái chùa cổ kính. Đó là chùa Tiêu Sơn, tên chữ là Thiên Tâm tự, thuộc xã Tương Giang, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Chùa này đả từng được nhà Văn Khái Hưng dùng làm bối cảnh để viết truyện "Tiêu Sơn tráng sĩ" nổi tiếng. Đây là ngôi chùa thiêng hơn 1.000 năm tuổi, nay được mệnh danh là chùa " Ba không": Không đặt hòm công đức quyên tiền của khách thập phương. Không cho phép đốt vàng mã, giấy tiền . Không cúng thực phẩm chay hay mặn. Ai tới đây đều được sư bà trụ trì căn dặn: " Đi chùa thì phải tịnh tâm, không mê tín dị đoan, việc đốt vàng mã và rải giấy tiền không có trong đạo Phật".               

          Khi các phóng viên tới, sư bà trụ trì pháp danh Thích nữ Đàm Chính, 84 tuổi, lưng còng, vui vẻ mời vào.Theo lời kể của sư bà, cách đây gần 50 năm, tức khi ấy sư bà 34 tuổi, mới về trụ trì tại chùa. Lúc đó chùa rất hoang vu, đổ nát bởi sự tàn phá trong chiến tranh Việt - Pháp mặc dầu chùa rất rộng lớn, đã có từ hơn ngàn năm và được biết đến là nơi tu thiền của các bậc chân tu đời xưa.                

          Nói tới chùa Tiêu Sơn là nói đến thiền sư Vạn Hạnh, vị đại thiền sư đã có công nuôi dưỡng và dạy dỗ cậu bé " con hoang " Lý công Uẩn, sau này trỡ thành vua Lý Thái Tổ, vị vua anh minh đã đánh thắng giặc Tàu, khai sáng cơ nghiệp nhà Lý kéo dài hơn 200 năm (thường gọi là nhà Hậu Lý để phân biệt với nhà Tiền Lý của Nam Đế Lý Buôn).           

         Điều đặc biệt hơn nữa là chùa Tiêu Sơn hiện nay đang bảo quản và thờ phụng nhục thân tức pho tượng bằng xương bằng thịt của thiền sư Như Trí với dáng ngồi " kiết già" .

      

         Theo sách vở cho biết , cách đây gần 300 năm, khi thiền sư Như Trí viên tịch, nhục thân của ngài được ướp và đặt theo dáng ngồi thiền, rồi được các đệ tử thời ấy đặt vào một trong số 14 ngôi tháp rải rác trong " rừng Từ Sơn " thuộc khuôn viên nhà chùa.         Gần 300 năm kể từ khi nhục thân ngài được rước vào tháp,năm 1946, khi chiến tranh xảy ra, chùa bị đổ nát nhưng các tháp vẫn còn nguyên vẹn với những bậc đá dẫn lên tháp khá cao.           

         Dân chúng trong những năm ấy sợ " pho tượng " nhục thân thiền sư bị tổn hại nên xây bít tháp lại. Nay, sau gần 70 năm trôi qua, các bô lão còn sống chợt nhớ, bèn bàn tính với dân chúng rồi phá cửa tháp, rước nhục thân vị thiền sư ra. Như vậy, gần 300 năm từ ngày thiền sư viên tịch cộng với non 70 năm từ ngày tháp được xây bít, song nhục thân của vị thiền sư chỉ bị hư hại  rất ít, ví dụ hai cẳng tay ngài tay ngài bị gẫy và mắt bên trái có một lỗ hổng. Đặc biệt, xương ở cẳng tay chỗ gẫy vẫn trắng như xương bình thường và da thịt khô đét, cứng như gỗ những vẫn giữ được màu nâu chứ không biến thành màu đen như các xác ướp trong Kim Tự Tháp Ai Cập. Điều này chứng tỏ nghệ thuật ướp xác của tiền nhân ta thời xưa rất  cao , nếu không nói là hơn thì cũng không kém người Ai Cập với những xác ướp của họ.                  

             Tượng nhục thân thiền sư Như Trí đã được dân chúng mời GS Tiến sĩ Nguyễn Lân Cường và ê-kíp khảo cổ của ông đưa về Hà Nội phục chế lại cho hoàn hảo, nay đang được thờ trong lồng kính tại nhà thờ tổ của chùa Tiêu Sơn.                 

          Tại chùa Đậu thuộc huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây ( Hà Đông và Sơn Tây hợp lại, nay là Hà Nội) cũng có hai pho tượng nhục thân của hai vị thiền tăng Vũ khắc Trường và Vũ Khắc Minh từ thế kỷ thứ 17, tức cách đây khoảng  hơn 300 năm, cũng đã được ê-kíp GS Nguyễn Lân Cường phục chế hoàn hảo. Theo GS Cường, nhục thân của các vị thiền tăng và thiền sư xưa không hiểu được ướp cách nào mà vẫn còn tốt, cứng như xá lợi ( xương nhỏ của các vị sư tổ sau khi thiêu còn sót lại), đốt không cháy, ngâm nước không tan. Ngoài sự độc đáo về nguồn gốc và là bối cảnh cho tác phẩm Tiêu Sơn tráng sĩ nổi tiếng của nhà văn Khái Hưng, hiện nay chùa Tiêu Sơn còn được biết đến là ngôi chùa có một không hai.... Không có hòm công đức.             

          Nếu ở các đình, đền, miếu tại các địa phương khác, hòm công đức được bày la liệt thì ở đây tuyệt nhiên không có một hòm nào cả. Bởi vậy nên không có cảnh chen lấn lễ bái, bỏ tiền vào hòm xô bồ như thường thấy tại các di tích khác.          

Ngoài ra, chùa cũng không nhận lễ vật, không cho phép đốt vàng mã, tiền giấy hoặc rải tiền thật cho người ta nhặt. Nhà chùa cũng khuyên các tăng ni, Phật tử, trên mỗi bát Hương chỉ nên cắm một nén nhang và khi dâng lễ Phật thì chỉ cúng bằng hoa quả tinh khiết, không cúng thực phẩm chay hoặc mặn.         

         Hoan hỉ phát tâm khi cần tu bổ chùa khi biết chùa Tiêu Sơn không đặt hòm công đức, nhiều người cho rằng sư bà trụ trì " gàn dở ", không nhạy bén với kinh tế. Trước sự chê trách đó, sư bà cười móm mém nói với các phóng viên: " Gần 50 năm trước, khi về đây trụ trì tôi đã nguyện không lập hòm công Đức. Cuộc sống tu hành đâu cần nhiều vật chất. Tôi ở một mình, nếu có hòm công đức lại phải trông coi, nơm nớp lo lắng, đêm ngủ không yên. Biết  tôi không có tiền, không trộm nào muốn quấy quả nữa".                 

          Sư bà Thích nữ Đàm Chính cũng cho rằng chuyện đốt vàng mã, rải tiền thật ở cửa Phật để cầu xin phước đức là chuyện hoàn toàn không có trong đạo Phật. Nếu đến chùa dâng tiền, cầu xin tài lộc mà Phật ban cho thì chẳng hoá ra Phật nhận hối lộ hay sao? Hoàn toàn sai lầm khi nghĩ rằng hễ có lễ thì Phật phù hộ độ trì. Đến với đạo Phật là để học phương pháp sống an lành, hạnh phúc cho mình, cho gia đình mình và cho xã hội chứ không phải để cầu xin với những tham vọng tầm thường.

         Sư bà nói : " Điều đáng buồn là hiện nay vấn đề hòm công đức đã trở nên quá phổ biến, rất nặng nề. Chung quanh chuyện hòm công đức, chuyện ái, ố, hỉ, nộ được bàn tán khắp nơi hay  trên báo chí. Ban quản lý các chùa chiền, danh lam thắng cảnh cũng tranh nhau tận thu tiền bạc của khách thập phương. Ở nhiều nơi, khách vừa lo lễ bái vừa lo lấy tiền bỏ vào hòm công  đức. Mỗi lần rút ví là một cơ hội cho kẻ cắp lợi dụng, do đó chốn linh thiêng bị vẫn đục ngoài   ý muốn"

            Sư bà giải thích như vậy. Trước sự khang trang  rộng lớn của ngôi chùa với những bậc thang lát đá chắc chắn, sang trọng, nhiều khách thập phương tò mò tự hòi,không có hòm công đức  thì chùa lấy đâu ra tiền mỗi khi tu bổ, xây dựng?

         Sư bà cho biết: " Chùa không có hòm công đức nên chẳng có tiền. Khi cần tu bổ, xây dựng chỗ nọ chỗ kia, tôi nhờ người tính toán Dự trù kinh phí rồi bàn với ban quản tự, ban quản tự  kêu gọi khách thập phương giúp đỡ. Khi đã nhận đủ tiền rồi thì ban quản tự ngưng lại, không  quyên góp thêm nữa. Số tiền ấy được thấy minh bạch qua sổ sách và các chứng từ".

               Được biết, có một đại gia kinh doanh thủy sản ở tận Cà Mau, khi biết chuyện nhà chùa đang quyên góp để tu bổ và xây dựng thêm những bậc thang bằng đá,vị đại gia này đã bay ra Hà Nội rồi tới chùa xin đóng góp 500 triệu đồng. Nhưng điều bất ngờ là ban quản tự từ chối vì... chùa đã nhận đủ tiền nên không nhận thêm nữa. Sư bà nhẹ nhàng nói với với vị đại gia : " Con số  500 triệu đồng rất lớn, nếu con đem giúp các trại mồ côi hay các viện dưỡng lão thì lại càng   quý hơn nữa". Vị đại gia đã làm theo lời sư bà trước khi trở về Cà Mau.                                      

     ĐOÀN DỰ GHI CHÉP.

 Chùa Tiêu Sơn ở  Bắc Ninh.

21 thg 2, 2023

CHUYỆN ĂN CHUỐI BẺ ĐÔI

 

Bài đăng báo SGTT- Ngày 02.05.2007

***

          Chủ nhật tuần rồi khi đi dự tiệc cưới, tôi gặp một cảnh hơi chướng mắt.   Sự việc xảy ra khi nhà hàng đãi thực khách tráng miệng bằng món chuối già hương. Trong lúc mọi người đều bẻ đôi trái chuối khi ăn thì cô gái ngồi đối diện tôi cầm nguyên trái lột vỏ, nhâm nhi từng chút một, lâu lâu lại nhét trái chuối vào miệng, chóp má mút một cái và cười mỉm chọc quê người bạn trai ngồi bên.



         Không phải chỉ có tôi bực bội mà những khách chung bàn, ai cũng thấy cách ăn chuối của người con gái đó thiếu tế nhị, không đẹp mắt ở chốn đông người. Không phải tôi là người khó tính quá đến độ không thể chấp nhận phong cách ăn theo kiểu tự do, phóng khoáng của mấy cô “Sài Gòn teen” bây giờ. Nhưng là người Việt Nam, chúng ta đừng quên rằng ông bà ta từ xưa vốn rất ý tứ trong việc ăn uống ở chốn đông người nên mới khuyên dạy con cháu: "Ăn trông nồi, ngồi trông hướng". Thiết tưởng không cần phải giải thích nhiều về ý nghĩa câu nói vì đây là nguyên tắc căn bản trong cách ăn uống ai cũng biết. Trong một bàn tiệc, nếu thấy một đứa trẻ năm bảy tuổi gắp lấy gắp để, nhai nhồm nhoàm, uống ừng ực, chúng ta có thể dễ dàng tha thứ. Song với những lứa tuổi lớn hơn, nhất là những cô gái đang độ thanh xuân được nhiều con mắt ngắm nhìn thì người ta không thể chấp nhận cách ăn uống thiếu tinh tế như thế được! Không biết trong các bạn có ai đồng quan điểm với tôi rằng ăn chuối cần phải bẻ đôi chăng, nhưng từ thuở bé, tôi và các em tôi thường được mẹ nhắc nhở ăn chuối bẻ đôi là phép tắc ăn uống trước mặt người khác. Mẹ tôi bảo: “Ăn chuối không ý tứ nơi chỗ đông người sẽ bị đánh giá thấp về văn hoá". Sau này lớn lên học lớp 8, trong một bài văn giải thích, tôi được thầy giáo văn giảng giải thêm: “Nếu ăn chuối không bẻ đôi thì con trai là người thô tục và con gái là người vô duyên”. 

      Vẫn biết ăn uống là một nhu cầu quan trọng của con người. Nhưng ăn uống cũng biểu hiện văn hoá cần truyền dạy lại cho các thế hệ mai sau. Bởi nếu quên đi việc dạy trẻ các thói quen văn hoá đời thường thì tránh sao khỏi việc chúng sẽ có những vụng về, lúng túng trong cách ăn nói, ứng xử khi ra ngoài xã hội.

Nguyenuthang

.........................................................................................................................................                                                                               


ĐỂ TANG CHO SÁCH

     

     Bà tôi thường than thở, hết một nửa cơ nghiệp của nhà này đã tan tành theo sách. Một nửa cơ nghiệp nói cho to, cho xứng với nỗi đau tiếc của của bà, chứ thực ra chỉ vài trăm cuốn sách của ông tôi thôi. Có điều, đó không phải là những quyển sách bèo nhèo giấy rơm thô kệch, đang tràn ngập trong các hiệu sách, trong trường học và trong thư viện. Chưa nói tới nội dung, chỉ mới lật qua vài trang mờ nhoẹt vàng đục với những con chữ ốm o đói khát như những người bị sốt rét rừng là đã thấy chán lắm rồi.

         Sách của ông tôi, bạn chỉ ngắm không thôi cũng đã thấy thích. Những cuốn tự điển của Pháp, của Việt, thư pháp của Trung Hoa, những sách thuốc, sách khoa học, những bộ tiểu thuyết của các nhà văn danh tiếng, những sách học làm người, những sách triết…đứng sát bên nhau phơi cái gáy mạ vàng như cả một đội ngự lâm quân thông thái và oai vệ. Trang nghiêm nhưng không lạnh lẽo, bọn họ là thầy là bạn của ông tôi. Và vì vậy, bạn cũng như tôi chỉ được phép đứng nhìn mà thôi.

       Ông tôi là một người mê sách (cũng lại là cách nói vừa tấm tức vừa giận hờn của bà) mê hơn cả vợ con. Nếu bảo rằng “thư trung hữu nữ nhan như ngọc”, thì ông tôi tuy đã già nhưng lại có đến những mấy trăm người đẹp như các vua chúa ngày xưa, nên bà tôi “ghen” cũng phải.

        Ông mê sách như người mê đồ cổ. Nghe ở đâu có sách quý là ông tìm tới dù có phải tốn kém tàu xe và phải bỏ ra cả một mòn tiền lớn để “rước” người có nhan như ngọc đó về, ông cũng dám chơi một phen cho thõa chí. Như cuốn Tự vị của Paulus Của, nghe đâu như là ấn bản đầu tiên của một ông cụ nào đó bắc bực làm cao đến tận giời, ông tôi đã phải lặn lội vào tận xứ Thủ Dầu Một xa lắc xa lơ để mua cho bằng được. Công cuộc mua quyển sách đó, chẳng những khiến ông mất đến mấy chỉ vàng, mà còn ốm một trận thừa sống thiếu chết.

        Cuốn sách cũ đến nỗi như đã ngàn năm tuổi. Còn hơn một người chơi đồ cổ, ông tôi lại phải tốn thêm một món tiền và nhất là tốn rất nhiều thì giờ để nài nĩ và kiên nhẫn ngồi chờ anh thợ đóng sách đóng lại giùm. Lúc này quyển sách đối với ông như một con bệnh thập tử nhất sinh và anh thợ đóng sách cứ như một bác sĩ. Khi anh thợ tháo bung sách ra, ông đau nhói như thể gan ruột của mình cũng bị lôi ra như thế. Ông hồi hộp theo dõi từng mũi chỉ khâu, nín thở xem anh ta cắt xén, làm bìa. Cho đến khi sách được làm mới một cách khỏe mạnh, xinh đẹp, ông ôm quyển sách trước ngực như một người mẹ ôm đứa con bé bỏng vừa được bác sĩ cứu sống. Ông hết lời cảm ơn anh ta, đưa cho anh một tờ tiền lớn và hào phóng không nhận tiền thối lại. Đem quyển sách về nhà, ông lại mất cả buổi ngồi ngắm đến nỗi quên cả bữa cơm khiến bà tôi phải giục.

          Đó là với những sách cũ quý hiếm. Còn sách mới, ông lại “phá của” một cách không giống ai. Sách nào ông cũng phải mua đến những hai quyển, một để đọc và cho mượn, một để nguyên không đụng tới. Những quyển sách để nguyên ấy nằm im trong tủ kính, mỗi lần mở ra là thơm nồng mùi giấy mới và mực in. Đối với ông, đó là một mùi thơm huyền hoặc đầy quyến rủ và mê đắm như những người nghiện nghe thấy mùi thuốc phiện. Chẳng những chỉ mùi thơm trinh nguyên không thôi, quyển sách vẫn còn trinh trắng khi hãy còn những lề chưa rọc.

         Học cách người xưa, không để của cải cho con cháu mà để sách, nên giá như có phải vì thế mà tiêu hết cả cơ nghiệp, ông tôi cũng không tiếc. Chỉ có một điều khiến ông băn khoăn, ấy là trong đám con cháu thực sự chưa có một người nào đủ để ông tin tưởng. Gạt hết những đứa chỉ biết có nhà to xe đẹp, những đứa chỉ biết vung tiền trong các cuộc ăn chơi, suốt một đời chưa đụng tới một quyển sách nào, những đứa mà ông bảo là trong đầu toàn chứa những thứ vớ vẩn nếu không muốn nói là hôi thối ấy, còn lại chỉ vài đứa có để mắt tới sách, nhưng với một thái độ hờ hững, một đôi khi thô bỉ xúc phạm đến sách.

          Ông ghét nhứt ai đó đọc sách mà miệng cứ nhai nhồm nhoàm, vừa đọc vừa tán chuyện, bạ chỗ nào cũng đọc ngay cả trong nhà cầu, đang đọc mà có ai ới lên một tiếng là ném ngay cái xạch sau khi đã tàn nhẫn xếp lại một góc để làm dấu, rồi bỏ đi mà không cần biêt tới quyển sách có thể bị ướt, bị bẩn hay bị cháy. Ông cũng không chịu được cái cách lật sách thô bạo bằng cả bàn tay úp lên trang giấy hay thấm nước bọt trên đầu ngón tay. Đó là cách cư xử của kẻ phàm phu tục tử, của phường giá áo túi cơm. Lật sách mà như thế có khác gì sàm sỡ nếu không muốn nói là cưỡng bức. Phải lật như những nhà sư nâng nhẹ một trang kinh hay là như khẽ lay một người đẹp đang ngủ.

            Đối với ông, đọc sách là để được tiếp cận với những tâm hồn ngoại hạng, cho nên trước hết phải tắm rửa sạch sẽ, ăn mặc chỉnh tề, phải “dọn mình”như con chiên quỳ trước Chúa, như nhà sư đảnh lễ trước bàn thờ Phật. Chẳng những sạch ở phần xác mà còn sạch cả phần hồn. Nghĩa là không để những giận hờn phiền muộn hay những ý nghĩ ô trọc dính bám cho dù chỉ một tí trong đầu. Chỉ đọc trong lúc thanh tịnh giữa khuya hay khi gần sáng tinh mơ. Đọc với hương trầm cọng với mùi hương ngai ngái của giấy mực, hương của sương đêm loáng thoáng hay hương của nước mưa mát dịu. Đọc là mở hồn ra để hơi thở của sách ùa vào căng buồm lên cho con thuyền bé nhỏ của mình được dọc ngang trên biển học mông mênh.

          Đương nhiên là ông tôi khó tính nhất nhà. Cái viện sách bé nhỏ của ông là một nơi khả kính, thâm nghiêm như một ngôi đền không một ai ngay cả bà tôi dám động tới. Bảy mươi năm sống trên đời của ông thì hết một nửa là ở trong cái gian phòng đựng đầy sách với mùi hương và sắc màu của những tâm hồn kỳ vĩ. Dạo ấy, mặc dù được cưng chiều và rất có triển vọng được ông tin tưởng, tôi cũng chưa được một lần đọc một quyển sách nào trong tủ sách ấy. Ông bảo tôi chưa đủ tuổi và chưa học được cách nâng niu gìn giữ theo cách gần như tôn thờ, thì đọc chẳng ích lợi gì mà còn “giết” sách. Theo ông, đọc vì tò mò, đọc như “lua cơm”, đọc như ngốn ngấu thì cả đầu óc mình chỉ là một bãi hoang chứa đầy những xác chết của sách bị vất ngổn ngang mà thôi. Đọc là phải ngấm từng chữ từng câu, phải để nó bén rễ trong đầu mới có thể thành cây cho trái ngọt.

            Năm tháng qua đi, ông tôi âm thầm làm một cuộc chuyển giao lặng lẽ. Tiền bạc trong nhà cứ cạn dần nhưng sách của ông lại đầy lên, phải đóng thêm tủ kê thêm kệ. Cô chú tôi biết ý ông, nên mừng tuổi không bằng trà ngon rượu bổ, mà bằng những phong bì ít nhất cũng đủ cho ông mua được một hai quyển sách. Những lúc ấy ông vui như một đứa trẻ lên 5 được nhận tiền lì xì. Rồi ông đi ra tiệm sách, khệ nệ ôm về những chồng sách mà ông ao ước nhưng chưa đủ tiền mua. Ông ve vuốt từng cái bìa, ngắm nghía từng con chữ, đê mê những sách của Lá Bối, An Tiêm, mơ màng với những tác giả Saint Exsupéry, Bùi Giáng…Giá như ông sống đến một trăm tuổi và giá như ông còn có đủ tiền thì cái viện sách của ông sẽ kín đặc những sách. Ông sẽ ngồi giữa những bức tường dày cộm thơm tho đó như một anh lính già đang tử thủ trong một cái lô cốt văn hóa.

           Sau tháng tư năm ấy, cái tháng tư mà dù nằm dưới mộ sâu ông vẫn còn đau đớn, những cuốn sách của ông tưởng sẽ sống đến ngàn năm đã bị bức tử một cách oan nghiệt.

          Khi người ta đội lên đầu những quyển sách của ông, có những quyển già như một ông tiên đầu bạc, có những quyển xinh tươi như những thiếu nữ trẻ trung, những chiếc mũ có tên là “nọc độc”, là “đồi trụy”, là “phản động” thì hơn ai hết ông hiểu đó là một lời tuyên án tử hình.

        Ông suy nghĩ lung lắm, không phải để tìm cách chôn dấu hay tẩu tán. Mà suy nghĩ làm sao để chọn cho sách một cái chết xứng đáng với lòng tin yêu và kính trọng của ông.

Một đêm thức trắng.
Rồi hai đêm thức trắng.
      Ngày thường ông bình tĩnh là thế nhưng lúc này, ông bối rối run rẩy. Có lúc mặt ông đỏ bừng và mắt ông lóe lên những tia lửa căm hờn. Cả nhà chẳng ai dám hỏi nói gì với ông. Giống như một con sư tử già bị săn đuổi cùng đường, lâu lâu ông lại gầm lên một cách tuyệt vọng.

         Cuối cùng ông đã chọn cho mấy trăm cuốn sách một cái chết dũng cảm. Đó là chính ông tự mình đốt sách. Một quyết định cháy lòng.

        Tôi cũng được dự phần trong cuộc hỏa thiêu đau đớn ấy, bằng cách giúp ông bê hết sách ra sân. Dù đem đi đốt nhưng ông không cho phép tôi làm rơi rớt xuống đất, không được nặng tay, mà phải sẽ lén nhẹ êm như đang bồng một em bé say ngủ. Phải rồi, những cuốn sách của ông đang say ngủ. Đánh thức chúng dậy, ông sẽ không chịu nổi những tiếng khóc mà chỉ riêng ông mới nghe được mà thôi.

         Sách được xây thành một cái tháp quanh những thanh củi chẻ nhỏ. Ông không muốn đốt chúng bằng xăng hay dầu. Ông lại càng không muốn xé sách ra từng mảnh nhỏ để đốt. Xé ra là làm chúng đau. Và làm cho chúng đau trước khi chết là tội ác. Một người coi sách là sinh vật sống, để cả đời nâng niu bồng ẳm, vậy mà phải giết do chính bàn tay của mình, bạn phải biết là ông tôi đã đau khổ đến nhường nào.

         Đó là một đêm tháng năm lặng gió. Cây cối im ngủ. Những ngôi sao như tan đi trong khói trời mờ đục. Ông tôi cử hành lễ đốt sách cũng bi tráng và lẫm liệt như Huấn Cao cho chữ trong ngục. Ông mặc toàn đồ trắng, cắm một cây đuốc giữa trời, khấn khứa rì rầm rồi lạy bốn hướng mỗi nơi một lạy. Xong ông lấy cây đuốc đang cháy đặt vào giữa tháp. Dứt khoát và quyết liệt như cái cách các võ sĩ đạo đâm kiếm vào bụng.
         Lửa bắt rất nhanh, chỉ trong phút chốc đã bắn vọt lên đầu ngọn tháp.
Đã nghe mùi mực và mùi giấy.
Đã nghe tiếng vặn mình của các bìa sách.
Đã nghe những âm thanh líu ríu như run như rẩy của những trang sách méo mó cong vênh.
Lửa trào ra như từ miệng hỏa diệm sơn.
Lửa ôm choàng lấy sách, hôn dữ dội bằng đôi môi bỏng cháy.
Sau cùng, cái tháp bằng sách đỏ rực như một trái tim để lộn ngược.
          Ông tôi ngồi xếp bằng, cố giữ nét mặt trầm tĩnh một cách cao cả. Không một giọt nước mắt cho dù là vì khói cay xè. Ông như thượng tọa Thích Quảng Đức đang ngồi kiết già với ngọn lửa bao quanh. Có thể nói, chính ông cũng đang tự thiêu. Bất giác tôi cảm thấy muốn khóc vì lo sợ. Đến một lúc nào đó, biết đâu ông đứng bật dậy bước thẳng vào ngọn lửa.
Ông chết theo sách.
Đó là một cái chết đẹp, xứng đáng với một người yêu sách như ông.  

         Nhưng ông chưa muốn chết vì ông còn phải để tang cho sách như một đứa con chí hiếu. Ngay lúc lửa tàn, ông quỳ xuống lạy ba lạy. Rồi ông kiên nhẫn ngồi đợi cho tất cả biến thành tro nguội. Ông bảo tôi hốt tro vào bao, cất vào tủ rồi mới chịu đi vào nhà. Gần như suốt đêm ông không ngủ. Bà tôi than thở là nghe tiếng dép của ông kéo lê lệt sệt mãi tới tận sáng.

       Hôm sau, ông bảo tôi thuê thợ đóng nhiều chiếc hộp để đựng tro. Mỗi chiếc để một ngăn tủ. Ông khóa lại và dặn không được dùng vào việc gì khác ngoài việc gìn giữ những chiếc quách ấy. Hơn 30 năm sau, cái tủ đựng đầy những hộp tro vẫn đứng im đó như một nhà mồ. Ngày giỗ ông, chúng tôi cũng đem một bát nhang đến thắp trên đầu tủ. Có cảm giác như hồn ông và hồn sách cùng lảng đảng bay về.

       Vẫn chưa hết chuyện về ông tôi đâu. Một tháng trước ngày mất ông muốn tôi làm cho ông những tấm mộ bia bằng giấy. Ông đưa tôi một danh sách dài những quyển sách bị đốt, cứ mỗi tấm bia đề tên một quyển sách. Hơn mấy trăm cái bia như thế, phải mất cả tuần mới làm xong. Những mộ bia không có ngày sinh nhưng có chung một ngày tử. Chúng được xếp lên kệ thay cho hàng trăm cuốn sách đã chết tập thể.

     Cả viện sách của ông giờ đây biến thành một nghĩa trang.
Ông trịnh trọng chít khăn trắng, lên nhang đèn rồi cung kính khấn vái như trước bàn thờ tổ tiên. Trong những lời rì rầm, nhiều lúc bỗng vang lên như tiếng khóc, ta là người có tội, có tội. Theo như tôi hiểu đó là cái tội không bảo vệ được sách, tội với các tác giả, tội với những thợ sắp chữ ở nhà in và xa hơn nữa là có tội với giấy và mực.
Ông biết ơn họ bao nhiêu thì bây giờ ông ray rứt vì mình có tội bấy nhiêu.
        Từ đó ông ăn ít ngủ ít. Ông đem từng tấm bia đặt lên bàn, lặng lẽ ngồi ngắm hằng giờ như đang đọc sách. Mỗi tấm bia gợi nhớ đến màu bìa, co chữ, tranh vẽ và cả nội dung mà chỉ có ông mới thấy được, hiểu được. Ông như sống lại những năm dài trước đó với những niềm vui kín đáo khi tìm được sách quý, hay mua được những sách hay. Những lần như thế, ông tự thưởng cho mình khi thì một bình trà, lúc một chung rượu hay tách cà phê và những điếu thuốc thơm thay cho hương trầm.
         Rồi đến một lúc ông không ăn mà cũng chẳng ngủ. Người ông khô kiệt tái xám. Ba tôi và các chú đi cải tạo chưa về đương nhiên là khoét sâu vào hồn ông những nỗi buồn lo khôn nguôi. Nhưng dù vậy, tận cùng của đêm thì cũng phải sáng. Ông có thể đợi đến mười năm hay hai mươi năm. Chỉ có những quyển sách bị đốt là không đợi được. Ông nói với bà, biết trước như vầy tôi đã để hết tiền cho bà chứ mua sách làm chi. Bà tôi cay đắng, ai mà có con mắt sau lưng.
        Buổi chiều cuối cùng ngồi bóp chân cho ông, tôi nghe ông hỏi, cháu thấy ông thế nào? Tôi nói, dạ, ông nên ăn chút cháo, trông ông gầy lắm. Không phải, ông nói, da ông thế nào, đã ngã thành màu đất chưa? Không biết da màu đất là màu gì, tôi nói đại, chưa ông à. Ngã màu đất là sắp chết đấy cháu, ông nói. Ông đã có ý để lại sách cho cháu, nhưng ta tính làm sao được bằng trời tính. Cháu nhớ giữ giùm ông cái tủ và mấy cái kệ.
      Nghe ông nói, tôi thấy da ông quả thật rất giống với màu đất bạc phếch, lạnh lẽo ở nghĩa địa. Da ông là da của một người đã chết từ lâu nhưng chưa chôn. Hay là ông đã chết từ cái đêm hôm ấy. Hồn ông đã cùng với hồn sách nương theo khói bay lên tận trời cao. Cái miền đất ồn ào đầy ô trọc và thù hận này biết đến bao giờ mới lại có được những con người, những quyển sách biết yêu quý tương kính lẫn nhau như thế. Chính lúc này tôi mới thấy thấm thía nỗi đau mất sách của ông.
     Tôi vừa buông tay ra thì ông ngừng thở. Ông chết nhẹ nhàng như gấp lại một cuốn sách. Tính ra, ông đã để tang cho sách đúng một trăm ngày./



 

.

 

 

17 thg 2, 2023

HỌP MẶT ĐẦU XUÂN QUÝ MÃO

 


       

***

      Sáng ngày 16/2 nhóm cựu HSPBCPT tại Sài Gòn đã tổ chức họp mặt đầu xuân Quý Mão tại Thanh Thuỷ Coffee đường Lý Chính Thắng.So với buổi họp tất niên ,buổi họp hôm nay tăng hơn 1 người nhưng đến tăng 2 ,ăn trưa tại Hương Cau gần đó, thì bạn Ngọc Tài theo thông lệ đã cáo lui nên điểm danh bạn bè phút chót vẫn chỉ là con số 9.

     Buổi họp mặt hôm nay do 2 bạn Bá Bình và Phan Nghi chủ trì ,Quang Chiêu điều hợp chương trình. Phan Nghi mở lời chào mừng người sức khỏe, nhiều may mắn, gia đình hạnh phúc.Có ý kiến đề xuất dành một phút tưởng niệm Ông Đồ Già mới ra đi hôm 4 Tết .Anh bạn được mệnh danh là Tổng thư ký Liên Hiệp quốc lấy chiếc điện thoại di động phóng to hình ảnh Đông Ngạc Phạm Gia để giữa bàn rồi nhờ phục vụ bàn chụp tấm hình lưu niệm chung cho mọi người. Ai cũng nhất trí và đưa điện thoại nhờ bấm thêm cho mình.

      Buổi họp mặt đầu xuân diễn ra rộn ràng ,ấm cúng. Chúng tôi cùng ngồi bên nhau ôn lại những kỷ niệm xưa với xiết bao luyến lưu thương nhớ của thuở học trò .

       Lúc chia tay thì đã quá giấc trưa thường ngày ,tôi may mắn đón được bác tài xe ôm lớn tuổi hỏi niềm nở han trò chuyện trên đường về.Khi được tôi cho biết mình đi họp mặt bạn bè ,ông ta chia sẻ nói tôi thật hạnh phúc vì với cái tuổi U 80 + rồi còn có dịp họp mặt bạn bè và tự book xe về nhà như vầy cũng là chuyện hiếm.

 ….

      Đặt dấu chấm hết bài viết ở đây là tôi đã hoàn thành việc làm thông lệ của mình sau những lần họp mặt .Nhưng niềm thương nỗi nhớ ODG đi xa và con số bạn bè dự mỗi năm mỗi vắng cứ lởn vởn khiến tôi không khỏi xót xa ,bứt rứt…Tôi chạnh nhớ mấy vần thơ của Từ Ngọc Nam,bạn cùng khoá học chung 7 năm dưới mái trường Phan :

                     Hằng năm quy tụ chốn trường xưa

                     Phan Thiết luyến lưu tuổi học trò

                     Hội ngộ đầu xuân bao kỷ niệm

                     Vui buồn chia sẻ nỗi âu lo

                     Mỗi độ năm qua tuổi chất chồng

                     Cố về gặp lại thỏa lòng mong

                    Từng năm bạn cũ vơi dần mãi

                     Vời vợi tiếc thương nặng tấm lòng

                     Đến lúc chỉ còn một đứa thôi

                     Bạn bè ngày trước đi cả rồi

                     Nhớ ngày họp mặt đầu năm mới

                    Thắp nén hương trầm khóc bạn tôi

        Từ Ngọc Nam đọc cho bạn bè nghe vào một buổi họp mặt truyền thống mồng 4 Tết tại  Phan Thiết, ai nghe cũng động lòng.Nhưng tác giả bài thơ ra đi không đầy một năm sau. Nam đâu có dè “Ngày họp mặt đầu năm mới”  lại chính là thời gian bạn bè “ Thắp nén hương trầm khóc “cho mình .

        Với ông đồ già Phạm Gia Cẩn ,hình như có cái gì hao hao.Tôi nhớ chính Cẩn cũng từng viết:

                             Mỗi năm Tết có một lần

                             Gặp nhau bạn cũ dần dần thưa đi

                             Dẫu rằng gặp mặt biệt ly

                             Lẽ thường tạo hoá cười khì thế thôi

                             Nhưng sao ta vẫn cảm hoài…

        Nỗi cảm hoài của ông đồ Phạm Gia vơi đi được phần nào từ khi định cư tại Australia vì tại đây ODG rất thành công trong việc dạy và triễn lãm thư pháp .Mới 2 năm trước ,đúng mồng 2 Tết ông đồ già Cẩn đã chủ trì Ngày Hội thư pháp ở Canberra rất thành công.Tôi đã chúc mừng và động viên Cẩn bảo trọng sức khỏe, giữ vững niềm đam mê nghệ thuật để tiếp tục trải lòng qua nét bút góp phần tô đẹp văn hóa Việt.         

       Còn nhớ thời gian đó Sài Gòn đang dịch bệnh covid-19 hoành hành, người dân thành phố bấn loạn âu lo về sức khỏe,thấy cuộc đời mong manh không biết ra sao ngày mai... Cũng vì covid-19,năm 2022 ODG không về Việt Nam ăn Tết với con gái và họp mặt mồng 2 Tết tại Sài Gòn cùng bạn bè PBCPT như những năm trước .Tôi đã đùa chơi gửi Cẩn mấy câu nhái bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên :

 Mỗi năm mai vàng nở

Ông đồ Cẩn lại về

Thăm cô con gái nhỏ

  gặp bạn bè xưa

Bao nhiêu người tấm tắc

Thầm khen ông bạn già

Chẳng nề hà tuổi tác

Bay từ nước Úc xa

Về Việt Nam ăn Tết

Hẹn nhau đúng mồng hai

Họp mặt các bạn cũ

Hàn huyên chuyện lai rai

 

Trường xưa vẫn còn đấy

Thầy cô đã đi xa

Hàng cây già ủ rũ

Cổng trường cũng đổi thay

Năm nay ông đồ Cẩn

Bận việc báo không về

Bữa tiệc mồng hai Tết

Cũng đành gác lại thôi

Hay tin dạ xót xa

Thương nhớ người bạn già

Mong ông vui và khoẻ

Sang năm gặp lại nha !

……….



          Tết Quý Mão 2023,một lần nữa bạn bè PBCPT tại Sài Gòn họp mặt lại thiếu vắng ODG.Và chúng tôi những buổi họp mặt mai sau sẽ chẳng bao giờ hay tin của bạn Cẩn từ Canberra nữa. Có lẽ bài thơ dưới sẽ là di bút của ODG gửi cho tôi :

Bạn ở phương trời xa

Không biết Đào Mai đã nở chưa

Tôi ở mãi tận cùng trời nam

Chợt nhìn Đào Mai nở

Bỗng thấy nhớ quê nhà.

Biết bao giờ trở lại cố hương

Gặp người thân quen cũ

Tâm tình chuyện tháng năm

Cùng nhìn Đào Mai nở

Và cạn chén Quỳnh tương!

                                         ODG (Canberra 2022)

Chào buồn và...

Vĩnh biệt Ông Đồ Già !..
Mru Thang


15 thg 1, 2023

SÀI GÒN VÀ TÔI … MỘT THỜI ĐỂ NHỚ

 



Đèn Sài Gòn ngọn xanh, ngọn đỏ

Đèn chợ Mỹ ngọn tỏ, ngọn lu…

                               (Ca dao)

        Trước thềm xuân mới Quý Mão, xin mời bạn bè hồi tưởng lại hình ảnh Sài Gòn ở những năm tháng huy hoàng với cái tên “Hòn ngọc viễn đông”, cái hư danh vang bóng một thời đó nay đã mai một ,chìm vào quên lãng nhưng vẫn là Sài Gòn một thời để nhớ với những ai sinh ra và lớn lên tại thành phố này. Bài viết dài ,thật dài nhưng không dư thừa, tình tiết phong phú ,giọng văn truyền cảm gây xúc động sâu sắc với những người đồng trang lứa ,có thể khi viết bút ký này tác giả đã trên dưới 90 tuổi đời.

 TUỔI THƠ Ở QUẬN 4, SÀI GÒN

      Tuy tôi sinh ra ở tỉnh Bình Dương nhưng tôi sống phần lớn cuộc đời ở thành phố Sài Gòn, ngoài một thời gian ngắn đi dạy học ở Trà Vinh. Ngay trong 6 năm dạy học ở Biên Hòa, mỗi tuần tôi chỉ ở lại đó có một đêm. Sau này ra nước ngoài, chỉ sau 22 năm xa quê hương tôi lại trở về với Sài Gòn hàng năm, mỗi lần vài tháng. Tôi đã chứng kiến sự thay da đổi thịt của thành phố này qua bao thăng trầm của thế sự.

    Vì tình hình mất an ninh ở quê nhà trong những năm khởi đầu cuộc chiến tranh Việt Pháp, ba tôi đã đem vợ và đứa con đầu lòng là tôi từ giã ấp Bến Đồng Sổ, xã Lai Uyên, quận Bến Cát, tỉnh Thủ Dầu Một lên Sài Gòn sinh sống từ năm 1946. Ở đây má tôi đã mất đứa con thứ hai tức là em kế tôi vì bạo bệnh. Nó tuy thuộc dòng họ Huỳnh nhưng vì thời cuộc lúc đó phải lấy họ mẹ là họ Trần.

     Ban đầu, gia đình tôi mướn nhà ở Phú Nhuận. Ba tôi đi may cho bác ba tôi có tiệm may trên đường Matelot Manuel (Tôn Đản bây giờ) thuộc quận 6 (bây giờ là quận 4), ngay chỗ tiệm thuốc bắc của ông thầy Sói sau này. Tôi còn nhớ lúc đó tiệm của bác tôi là nhà sàn. Ba tôi phải đi bộ từ Phú Nhuận sang quận 6 để đi làm.

     Sau này, ba tôi có một ít tiền nên mua một căn nhà lá trong con hẻm gần mặt đường Matelot Manuel, đối diện chợ Cầu Cống. Quận 4 thời đó còn rất hoang vu. Đa số nhà cửa tập trung quanh chợ Xóm Chiếu, dọc theo đường Tôn Đản. Phía trong chợ Cầu Cống là đồng ruộng chạy tới đường Tôn Thất Thuyết. Từ đường Tôn Đản, người ta nhìn thấy đường Bến Vân Đôn xuyên qua cánh đồng bát ngát ở giữa. Những buổi trưa,tôi thường trốn giấc ngủ trưa bắt buộc đi vô một trong hai ngôi ruộng đó để bắt cá thia thia dù biết rằng lúc về sẽ bị ăn đòn.

     Tuổi thơ của tôi chỉ quanh quẩn ở trong quận 4: đi tắm sông ở Bến Súc, đá banh ở sân cát kho 11, bắt cá ngoài ruộng hay đi coi chớp bóng ở rạp Nam Tiến. Thỉnh thoảng ba má tôi dẫn tôi và thằng Quan (em kế sau đứa đã mất) đi qua Chợ Cũ ăn cơm thố. Có lần ba tôi dẫn tôi đi xem chớp bóng ở rạp Catinat, trong một con hẻm của đường Tự Do. Hôm đó rạp chiếu một phim nói tiếng Pháp mà không có phụ đề Việt ngữ, tôi chẳng hiểu gì cả. Khi hết phim, đèn bật sáng tôi nhìn quanh thấy khán giả đều là ông tây, bà đầm.

      Lớn lên chút nữa, tôi có những chuyến đi chơi xa: Sở Thú hay Vườn Tao Đàn. Tôi còn nhớ có một lần tôi theo ba má đi xem Kẹt Mết (Hội Chợ) ở vườn Tao Đàn, khi vừa vào cửa, một số nhân viên hội chợ chăn tôi lai và trao cho tôi một cái bong bóng và nhiều bọc bánh kẹo. Tôi ngạc nhiên và mừng rỡ.về những món quà bất ngờ. Sau này tôi mới biết hôm đó tôi là người khách thứ 1000 hay 10.000 gì đó của hội chợ nên được tặng quà kỷ niêm. Những năm tôi còn nhỏ của đầu thập niên 1950, Noel trong ký ức của tôi là những lồng đèn hình ngôi sao màu đỏ treo trước nhà những người theo đạo Thiên Chúa, cây thông thật cao với các bóng đèn nhỏ đủ màu lấp lánh và hang đá bằng giấy bồi trong đó có hình tượng Chúa Hài Đồng, Đức Mẹ Maria, các Thiên Thần, mục đồng và con chiên...ở nhà thờ Xóm Chiếu. Tôi theo nhóm bạn con nít từ xóm Hòa Bình, gần chợ Cầu Cống, Khánh Hội đi bộ xuống nhà thờ đó ở gần bến đò Long Kiễng để xem người  ta làm lễ. Lúc về nhà thì đã quá muộn và ba tôi chờ sẵn ở cửa để cho tôi một trận đòn nên thân vì tội đi chơi khuya. Thế mà, năm nào cũng vậy tôi vẫn trốn nhà đi xem lễ Noel dù biết rằng về sẽ bị đòn.

     Lúc độ 8, 9 tuổi mỗi lần Tết đến thì tôi được ba tôi may cho một bộ pyjama mới mà chiều 30 Tết đã được bận đi chạy chơi với các bạn trong xóm. Trong túi, rủng rỉnh một ít tiền lì xì sớm tôi chạy tìm những sòng bầu cua cá cọp để đặt cược.

    Ngoài ra, trong những ngày Tết, một thú vui khác là ở nhà đọc báo Xuân. Ngoài những bài viết bên trong về phong tục truyện ngắn, ký sự, thơ...về mùa Xuân thì hình bìa bên ngoài làm tôi chú ý nhất. Có tờ báo đănngoài bìa hình các nghệ sĩ cải lương, ca sĩ hay minh tinh điện ảnh như Thanh Nga, Thanh Thuý, Thẩm Thuý Hằng...Nhưng tôi thích nhất là trang bìa báo Xuân Tiếng Chuông của ông Đinh Văn Khai vì thường in tranh vẽ hình người đẹp của hoạ sĩ Lê Trung. Gương mặt toàn mỹ của người đẹp đó ám ảnh tâm hồn tôi từ tuổi ấu thơ.

THỜI HỌC SINH Ở SÀI GÒN  



      Sau khi đậu bằng tiểu học, ba má tôi gởi tôi học ở lyceum (tiếng Latin nghĩa là trường trung học) Nguyễn Văn Khuê trên đại lộ Nguyễn Thái Học, gần chợ Cầu Muối.

     Từ đệ thất tới đệ tứ, tôi đi bộ từ nhà đến trường theo lộ trình đường Đỗ Thành Nhơn, quẹo trái theo đường Bến Vân Đồn, lên cầu Ông Lãnh rồi xuống đại lộ Nguyễn Thái Học. Bận về tôi theo lộ trình ngược lại. Có rất nhiều học trò quận 4 đi học chung trường với tôi nên dọc đường chúng tôi trò chuyên vói nhau quên cả mỏi chân.

     Sau khi tôi đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp, ba má tôi thưởng cho tôi một chiếc xe đạp mới ráp Từ đó tôi khỏi phải lội bộ đến trường nữa. Tôi tiếp tục học lớp đệ tam và đệ nhị ở trường Nguyễn Văn Khuê đến khi thi Tú Tài 1.

     Sau khi đậu Tú Tài 1, tôi thường đi chơi với các bạn đồng lứa ở  khu tôi ở. Người bạn từ thuở ấu thơ là Nguyễn Văn Đối, ở hẻm nhỏ  có tiệm bán cơm ở gần nhà bảo sanh Cô Mụ Điếc, cha làm thợ hớt tóc sống với mẹ kế. Có một thời gian dài chúng tôi không chơi với nhau cho mãi đến khi học lớp dệ nhất. Một người bạn khác là Phạm Văn Cảnh,  con của bà chủ  bar Ánh Sáng, nhà trên đường Trình Minh Thế giữa ngả ba Tôn Đản và hẻm lò bánh mì. Cảnh học chung với tôi ở trường Nguyễn Văn Khuê và rất giỏi Pháp Văn có lẽ nhờ mẹ anh ta mở bar từ thời còn lính Pháp. Qua Đối tôi quen với Lương Trọng Bình, nhà ở trong hẻm đường Tôn Đản, đối diện nhà ông hộ Lắm (nay là hẻm tiệm vàng Đức Tín). Cũng qua Đối tôi quen thêm Nguyễn Công Thiểm, con trai lớn của nhà may Thiêm, trên đường Trình Minh Thế, lúc trước ở bên kia đường, sau dời qua phía bên này bên cạnh hãng Triệu Tiết. Một người bạn mới nữa là Đào Hữu Thọ, nhà cũng ở đường Trình Minh Thế gần Bến Súc đối diện nhà thuốc tây Khánh Hội ( mà gia đình tôi thường gọi là tiệm thuốc tây thầy Lang vì mặt ông bán thuốc bị lang trắng).

      Tôi đậu bằng Tú Tài 1 hạng bình thứ (assez-bien) nên khi nộp đơn vào học lớp đệ nhất trường công lập Chu Văn An thì tôi được nhận. Từ đó, khi đi học tôi mặc đồng phục quần xanh, áo trắng, trên ngực áo gắn phù hiệu tên trường.

     Ban đầu, tôi đi xe đạp đến trường và thường đi chung với một người bạn cùng lớp tên Phạm Trọng Ái, nhà ở đường Huỳnh Quang Tiên, quận 2 (đường Hồ Hảo Hớn, quận 1 bây giờ). Lộ trình chúng tôi, sau khi tôi ghé nhà anh Ái để đi chung là Võ Tánh, đại lộ Cộng Hoà, đường Thành Thái và cuối cùng là đường Hùng Vương. Trường Chu Văn An nằm bên hông nhà thờ Ngã Sáu.

      Một kỷ niệm đáng nhớ là khi chúng tôi đi trên đường Võ Tánh, thường gặp một cô nữ sinh trường nữ trung học Đức Trí (gần rạp hát Quốc Thanh), đi bộ đến trường. Cô có dáng đi rất đẹp và khi chúng tôi chạy qua khỏi cô, ngoái nhìn lại thì gương mặt cô cũng đẹp. Ái xúi tôi xuống xe “cua” cô ta. Sau vài lần do dự, một hôm tôi bạo gan, ngừng xe đi theo cô ngỏ lời làm quen. Nhưng cô ta không thèm trả lời và không nhìn tôi mà cứ đi thẳng. Tôi “quê” lắm nhưng chỉ có thằng bạn thân mình chứng kiến chứ không có ai khác nên cũng đỡ ngượng. Tôi chỉ là một anh học trò, quần xanh, áo trắng đi xe đạp chắc không phải là “típ” người mà người đẹp lưu ý. Tôi rủa thằng bạn mình đã xúi dại.



      Về sau, tôi không đi học bằng xe đạp nữa mà dùng xe buýt. Từ nhà tôi đi xe buýt từ ngả ba Tôn Đản và Trình Minh Thế đến công trường Diên Hồng (công trường Quách Thị Trang bây giờ). Chỗ này là bến xe buýt trung ương. Tất cả các tuyến xe buýt đều đi và đến tại đây. Tôi còn nhớ hệ thống xe buýt ở Sài Gòn ngày xưa gọi là Công Quản Chuyên Chở Công Cộng mà quản đốc là trung tá Trần Thiện Thành (anh hay em của đại tướng Trần Thiện Khiêm).

       Tôi đi tuyến đường chạy ngang trường Chu Văn An. Những lần đầu thì tôi xuống tại trạm bên kia đường qua khỏi trường một đoạn. Sau này, bắt chước các bạn học chung trường, khi xe chạy chầm chậm ngang trường thì chúng tôi nhảy xuống. Dĩ nhiên theo quán tính, chúng tôi phải chạy tới một đoạn nữa mới dừng lại để khỏi té. Thật là một hành động điên rồ của tuổi trẻ.

       Nhờ đi học trường Chu Văn An, tôi mới có dịp khám phá Chợ Lớn nói chung và quận 5 nói riêng. Tôi trông thấy trường Đại Học Y Khoa với cái nhà xác đầy chuyện đồn đải ghê rợn, bệnh viện lao Hồng Bàng, bệnh viện Chợ Rẫy cách đó không xa hay trường Trần Khai Nguyên của người Tàu phía sau lưng trường tôi trên đường Minh Mạng.

       Cuối năm học, tôi và các bạn cùng lớp Trần Văn Thám (sau này học kỷ sư công chánh), Nguyễn Cao Thuận (du học Canada, kỷ sư tiến sĩ điện) , Trương Tuấn Dzỉnh (du học Úc) và Phạm Đặng Long Cơ ( học y khoa, bây giờ là bác sĩ phụ khoa ở nam Cali) được nhận thưởng của tổng thống Ngô Đình Diệm. Tuy phần thưởng chỉ là những cuốn sách đại học do cơ quan Asia Foundation tặng cho bộ Giáo Dục nhưng đối với chúng tôi đó cũng là kết quả của một năm miệt màu trên ghế nhà trường. Hơn phân nửa số học sinh lớp tôi sau này được học bỗng du học ở ngoại quốc. Riêng tôi vì hoàn cảnh gia đình lúc đó khó khăn nên từ chối học bỗng Colombo đi du học Canada để ở lại học ở Việt Nam. Trớ trêu thay 25 năm sau tôi cũng tới Canada nhưng với tư cách là người tỵ nạn.

      Chương trình lớp đệ nhất B (12 C ngày nay) tức là ban toán rất nặng. Về toán chúng tôi phải học 7 môn: hình học, hình học giải tích, đại số, số học, lượng giác, cơ học và thiên văn. Khó nhất là môn số học. Nhưng chúng tôi được cái lợi là toán có hệ số 4. Vì đã giải hết những bài tập trong cuốn Lebossé, nên khi thi môn toán thời hạn 3 giờ thì tôi chỉ mất 1 giờ rưởi thì đã làm xong nên nộp bài ra về. Gay nhứt là môn triết gồm Đạo Đức Học và Luận Ly Học. Tôi còn nhớ đề thi triết năm đó là phán biệt cảm tình và tình cảm trong triết học.

ĐỜI SINH VIÊN Ở SÀI GÒN


      
Nhờ điểm toán, năm đó tôi lại đậu bằng tú tài 2 hạng bình thứ nữa. Tôi nộp đơn thi vào ba trường : Đại Học Sư Phạm ở đại lộ Cộng Hoà ( nay là đường Nguyễn Văn Cừ), nằm sau trường Đại Học Khoa Học ( nay là Đại Học Khoa Học Tự Nhiên) kế bên trường trung học Pétrus Ký ( nay là trường chuyên Lê Hồng Phong); Trung Tâm Quốc Gia Kỷ Thuật Phú Thọ (nay là Đại Học Bách Khoa) trên đại lộ Nguyễn Văn Thoại (nay là đường Lý Thường Kiệt) gần trường đua Phú Thọ và Học Viện Quốc Gia Hành Chánh (nay là Học Viện Hành Chính Quốc Gia!!!) trên đường Trần Quốc Toản (nay là đường 3 tháng 2) gần Việt Nam Quốc Tự.

        Tôi đậu chính thức vào ban toán trường Đại Học Sư Phạm (nằm trong top ten), đậu dự khuyết ngành kỷ sư điện trung tâm Kỷ thuật Phú Thọ và rớt Học Viện Quốc Gia Hành Chánh . Muốn vào Học Viện Quốc Gia Hành Chánh phải giỏi hai sinh ngữ Anh, Pháp nhứt là phải làm bài nghị luận triết học thật hay. Năm đó đề thi triết học vào trường này là “Phân tích quan điểm cứu cánh biện minh cho phương tiện”. Mấy môn đó không phải sở trường của tôi.

      Một thời gian sau, Trung Tâm Kỷ Thuật Phú Thọ gọi tôi nhập học nhưng tôi chọn học Đại Học Sư Phạm một phần vì tôi thích môn toán, phần khác vì vào đó mỗi tháng tôi lãnh 1.500 đồng học bỗng (trong khi lương tháng của một người lính là 900 đồng).

      Ba năm đại học của tôi trôi qua nhanh chóng và trơn tru, đến năm 1965 thì tôi tốt nghiệp.Trong thời gian đó có nhiều xáo trộn chính trị. Phong trào Phật Giáo nổi lên chống chế độ Ngô Đình Diệm với lý do chế độ này đàn áp Phật Giáo. Những cuộc biểu tình diễn ra liên tiếp tại Sài Gòn và sinh viên tham gia trong đó cũng nhiều. Sau cùng, ngày 1/11/1963 các tướng lãnh đứng lên lật đổ chính quyền và giết chết hai anh em ông Diệm.



      Mấy ông tướng này xuất thân từ thời còn quân đội Pháp ở Việt Nam nên ăn chơi lịch lãm. Họ cho phép mở lại vũ trường và cho tổ chức những dạ vũ ( soirée dansante, thường gọi là boom). Và cũng thành phần sinh viên tham gia đông nhứt. Cuối tuần nào cũng có nơi tổ chức boom, tuần này đại học văn khoa mở, tuần sau đại học dược khoa mở, người nào có nhà rộng thì mở bal de famille tại nhà. Mỗi lần như vậy ban tổ chức bán thiệp mời. Cuối tuần nào tôi cũng diện đồ veste, khi thì thắt cravate, khi thì thắt noeud tham dự không bỏ lỡ dịp nào. Nhưng tiền đâu đủ dự hết tất cả các boom, tôi và các bạn khi nào không tiền thì leo rào vào. Khi vào trong thì thiếu gì đào người khác dẫn vào chúng tôi mượn đỡ để nhảy.

      Những ngày lễ lớn như Noel, tết Tây, tết Ta, tuổi trẻ độc thân tôi như các người bạn cùng lứa đi tìm đối tượng. Đêm Noel năm nào chúng tôi cũng đến nhà thờ Đức Bà không phải để đi xem lễ mà để đi tìm những bóng hồng. Những ngày trước Tết tôi với những thằng bạn còn trong tuổi “độc thân vui tính”như câu ông bà thường nói “trẻ vui cảnh chợ, già vui cảnh chùa” thường đi đến chợ hoa Nguyễn Huệ hay chợ tết Bến Thành để tìm một chút gì ấm lòng.


      Đêm giao thừa, chúng tôi đi lên Lăng Ông Bà Chiều không phải để hái lộc mà để chiêm ngưỡng những nàng xuân đi xin xăm hay xem quẻ cầu duyên..

       Thường những ban nhạc Black Caps, The Rocking Stars, The Blue Stars...phụ trách những đêm dạ vũ lớn. Nếu không thì những bal de famille chơi nhạc máy.

      Bạn cùng xóm với tôi là anh Đào Hữu Thọ (kỷ sư thuỷ lâm, hiện ở Pháp) thường đi boom với tôi. Ngoài ra, anh Phạm Văn Phước còn có tên là Phước Voi vì anh cao lớn, to con hay là Phước Xích Lô vì nhà anh ở Nha Trang có cho thuê xích lô, là bạn cùng lớp với tôi ở Đại Học Sư Phạm cũng thường có mặt thường xuyên ở các đêm dạ vũ. Khi tôi sang Canada một thời gian thì nghe tin Phước mất ở Nha Trang.

      Thường, bal được khai mạc bằng một bản passodoble mà ban nhạc hay đánh bản Espana Cani. Khi nhạc trổi lên điệu slow thì piste đầy nghẹt các cặp nhảy vì ai cũng có thể nhảy bản này, chỉ cần ôm nhau và lúc lắc theo điệu nhạc. Nhìn một cặp nhảy slow người ta có thể đoán họ là hai kẻ yêu nhau hay hai người xa lạ. Khi ban nhạc chơi valse hay tango thì sàn nhảy thưa người vì hai điệu đó cần kỷ thuật cao hơn. Vui nhộn nhứt là điệu twist, cả sàn nhảy nhấp nhô theo điệu nhạc giựt.

      Năm 1992, sau khi bảo lãnh vợ con từ Việt Nam qua Montréal, vợ chồng tôi và một đứa em kết nghĩa sang nhà hàng Long Mỹ ở đường Jean Talon, đổi tên là nhà hàng Chim Sẻ giống tên cũ của quán nhậu của vợ chồng tôi trong những năm 1981-1983 ở quận 4, Sài Gòn.

        Một hôm có một người khách đến nhà hàng chúng tôi gọi món ăn và tự xưng là Trường Kỳ trong phong trào nhạc trẻ ở Sài Gòn trước năm 1975. Tôi đẫ biết tên anh trong thập niên 60 ở Sài Gòn và cũng biết anh cùng Nam Lộc, Tùng Giang, Elvis Phương...là những người hoạt động tích cực cho phong trào nhạc trẻ sau ngày chế độ của Tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Nhưng đây là lần đầu tôi gặp mặt anh, một người thấp bé, mang kính cận thật dày và để râu mép. Trước 75, ở Sài Gòn Trường Kỳ cộng tác với tuần báo Kịch Ảnh của Quốc Phong và một sô báo khác, phụ trách về nhạc trẻ. Khi sang định cư ở nước ngoài anh cũng tiếp tục viết về âm nhạc cho báo chí Việt ngữ ở hải ngoại và đài VOA. Anh còn xuất bản một số tuyển tập của anh về âm nhạc tên là Tuyển Tập Nghệ Sĩ. Anh mất ở Toronto năm 2009.

RẠP HÁT VÀ PHIM ẢNH Ở SÀI GÒN

     Sài Gòn trong những năm tôi còn theo học ở trường Đại Học Sư Phạm mở cửa rộng rãi với bên ngoài, nhứt là với nước Pháp vì ngày xưa, thời Pháp thuộc, miền Nam được gọi là Cochinchine, trực trị bởi chính phủ Pháp. Tuy nay miền Nam đẫ được độc lập hoàn toàn nhưng ảnh hưởng của nước Pháp vẫn còn thấy rõ về mọi mặt.

       Về giáo dục, dù ở miền Nam đã có một chương trình học bằng tiếng Việt ở bậc tiểu học và trung học nhưng những gia đình giàu có vẫn muốn gởi con mình đi học trường Tây. Do đó số trường dạy theo chương trình Pháp vẫn tồn tại ở Sài Gòn ; trung học có Jean Jacques Rousseau, Marie Curie, Saint Paul, Saint-Exupéry , La San Taberd, Regina Pacis, Regina Mundi,  Couvent des Oiseaux, Pasteur, Phan Văn Huê.., tiểu học có Colette, Aurore. Michelet, Charles De Gaule...Ở bậc đại học, số giáo sư còn thiếu và thuật ngữ tiếng Việt chưa đầy đủ (ta chỉ có cuốn Danh Từ Khoa Học của giáo sư Hoàng Xuân Hãn) nên phải nhờ Pháp chi viện giáo sư và phải sử dụng tiếng Pháo trong giáo trình ngay trong bài giảng của giáo sư người Việt.

       Về mặt xã hội, lối sống của người Sài Gòn phảng phất lối sống ở kinh đô ánh sang Paris. Ai có trình độ tiếng Pháp, người lớn đọc báo Le Monde, Paris Match..., người trẻ đọc Salut Les Copains ...Phim ảnh đa số là của Pháp vói những tài tử Fernandel., Alain Delon, Jean Marais, Louis De Funès, Brigitte Bardot, Catherỉne Deneuve, Mylène de Mongeot...Sau này dù phim Mỹ tràn vào, người ta vẫn thuê phim Mỹ lồng tiếng Pháp và phụ đề Việt ngữ.

      Mức sống dân Sài Gòn lên cao, trình độ thưởng thức nghệ thuật thứ bảy cũng theo đó đi lên. Các rạp chớp bóng (sau này gọi là rạp xi nê) mọc lên khắp nơi. Những rạp lớn thì có: Đại Nam, Casino Sài Gòn, Eden, Kim Châu, Văn Hoa..., những rạp nhỏ thì có Vĩnh Lợi, Lê Lợi, Moderne, Nam Việt, Long Thuận, Long Phụng, Cao Đồng Hưng...Sau này bà Ưng Thi, chủ rạp Đại Nam mở thêm rạp tối tân nhứt ở Việt Nam là rạp Rex ở góc đường Lê Lợi và Nguyễn Huệ kế Toà Đô Chính (Ủy Ban Nhân Dân bây giờ). Rạp Rex có thêm hai rạp nhỏ bên hông là Mini Rex A và B, bên dưới phía đường Lê Lợi còn có quán café Rex, bên trong cửa kính, máy lạnh và ghế bành sang trọng. Đây cũng là rạp hát đầu tiên có trang bị thang cuốn.



      Rạp hát nào cũng có máy lạnh. Rạp hát lớn thì giá vé cao và hát theo xuất, khán giả vào xem đúng giờ mở màn và hết xuất phải ra về để rạp chiếu xuất khác cho tốp khán giả sau. Rạp hát lớn thì chiếu phim mới, còn rạp hát nhỏ thì chiếu phim cũ và chiếu thường trực, nghĩa là khán giả vào xem lúc nào cũng được và muốn khi nào ra về thì tùy ý. Có nhiều người tránh nóng buổi trưa vào rạp xi nê thường trực để ngủ trưa.

       Hai rạp Vĩnh Lợi và Lê Lợi được giới học sinh và sinh viên Sài Gòn chiếu cố nhứt. Rạp Vĩnh Lợi ở kế nhà thương Sài Gòn và nhà hàng Thanh Bạch. Tôi có hai kỷ niệm đáng nhớ về rạp Vĩnh Lợi. Một hôm tôi vào rạp Vĩnh Lợi để xem một phim cũ mà hay. Khi tôi đang xem phim thì có hai cô gái vào ngồi chung một ghế trống bên cạnh tôi, Hai cô chắc là nữ sinh trường Pháp nên tôi nghe họ trao đổi với nhau bằng tiếng Pháp. Để tỏ ra mình galant với hai người đẹp đồng thời để chứng minh biết tiếng Pháp, tôi cố gắng xổ ra câu: “J'ai le plaisir de vous  céder ma place” (Tôi rất hân hạnh nhường chỗ cho các cô), rồi lật đật đứng lên đi tìm chỗ ngồi khác chỉ kịp nghe tiếng nói merci của hai cô. Một lần khác, Khi tôi đang ngồi trong rạp Vĩnh Lợi say sưa theo dõi phim trên màn ảnh, chợt một bàn tay ai đó đặt lên đùi tôi, Tôi nhìn lên thấy một anh chàng ngội ghế cạnh tôi đang thò tay qua. Tôi hoảng hốt đứng dậy bỏ đi chỗ khác ngồi. Rạp Vĩnh Lợi nổi tiếng có nhiều khán giả bê đê.

      Còn ở rạp Lê lợi ở trên đường Lê Thánh Tôn, gần chợ Bến Thành, tôi nhớ có một lần đi xem phim Dracula do tài tử Christopher Lee đóng, Đang trong cảnh một thiếu nữ nằm ngủ trong phòng, màn gió cửa sổ bay phất phới và bá tước Dracila hiện ra ở khung cửa sổ nở nụ cười nhe hai cái nanh trong miệng đỏ màu máu, thì trong rạp có một tiếng rú lên. Các nữ khan giả trong rạp đồng loạt la lên sợ hải. Tôi biết anh chàng vừa rú lên là một học sinh ở một trường tây thường quậy phá các cô nữ khán giả yếu bóng vía mà thích xem phim ma.

      Ai mới quen đào thì thường dẫn váo Mini Rex A hay B, ghế ngồi sang trọng thật êm, ngay cả toilet cũng sạch bóng và lúc nào cũng có một bà xẩm ngồi ngoài cửa mà người khán giả lịch sự nào cúng không quên dúi vào tay bà một ít tiền lẻ. Còn ai có đào ruột thì dẫn lên lầu 2 rạp Eden, kín đáo, ấm cúng để tha hồ tâm sự.

      Trong thời kỳ này, Sài Gòn có 3 tờ tuần báo chuyên về âm nhạc, thoại kịch và điện ảnh là Kịch Ảnh, Điện Ảnh và Màn Ảnh không kể những trang đặc biệt nói về các bộ môn đó trong các tờ nhật báo. Phim nào mới trình chiếu được ký giả điện ảnh đi xem trước và tường thuật lại một cách chi tiết cốt truyện. Những phim kinh điển của nghệ thuật thứ bảy như Cuốn Theo Chiều Gió, Cleopatre, Ben Hur, Le Jour Le Plus Long, Le Pont De La Rivière Kwai,  Doctor Zivago, The Godfather...với nhữnh tên tuổi Clark Gable,  Vivien Leigh, Liz Taylor, Richard Burton, Charlton Heston, Henry Fonda, William Holden, Omar Sharif, Robert De Niro…và nhiều nhiều nữa không bao giờ mờ nhạt trong ký ức người Sài Gòn trước năm 1975.

NHỮNG BƯỚC LANG THANG TRÊN ĐƯỜNG PHỐ SÀI GÒN

       Trong 4 năm 1965-1969, dù đi dạy ở Trà Vinh cách Sài Gòn 200 cây số và gần trọn ngày ngồi xe đò nhưng trong thời gian đầu, cuối tuần nào tôi cũng đáp xe đò vế Sài Gòn. Dù mất hết hai ngày đi và về và chỉ có ngày thứ bảy trọn vẹn ở Sài Gòn, nhưng tôi vẫn hài lòng về quyết định này.

      Về tới Sài Gòn, nếu còn sớm tôi ghé ngay đại lộ Lê Lợi  vào một quán nước như Phạm Thị Trước hay quán kem như Mai Hương (nay là quán kem Bạch Đằng ở góc Lê Lợi và Pasteur) hoặc Pôle Nord (ở mặt tiền thương xá Tax) ngồi để ngắm các giai nhân của Hòn Ngọc Viễn Đông đang xuôi ngược trên đại lộ sầm uất nhứt trong thành phố Sài Gòn như đại lộ Champs D’Élysée của Paris hay đường Sainte- Catherine của Montréal. Chỉ cần ngồi ở đây, người ta có thể khám phá bạn của mình có đào hay chưa vì ai có đào cũng dẫn đi défiler ngang đây.

         Trong khoảng thời gian này, nếu nhằm lúc đang quen bạn gái thì cũng như mọi người, ngày thứ bảy tôi sẽ dành trọn cho người đẹp: dẫn nàng đi rước đèn ở phố Bonard (phố Lê Lợi), rồi đi xi-nê và cuối cùng là đi ăn kem hay ăn nhà hàng theo yêu cầu của giai nhân; còn nhằm lúc “mồ côi đào” thì  đành ngồi uống nước ngắm thiên hạ cho đỡ buồn.



      Vì thường ngồi ở các quán trên đại lộ Lê Lợi nên tôi quen với một vài anh chàng “mồ côi đào” làm những ngành nghề khác nhau. Ngồi ngắm thiên hạ chán, chúng tôi thả bộ đến thương xá Tam Đa còn gọi là Crystal Palace (Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế bị cháy năm 2002) để chiêm ngưỡng những giai nhân bán các gian hàng mỹ phẩm, hay băng nhạc ở đó. Đôi khi chúng tôi đến nhà hàng La Pagode hay quán kem Brodard ở đường Tự Do (Đồng Khởi bây giờ) để thay đổi không gian. Nếu muốn nghe nhạc có hình (thời đó chưa phát minh vidéo) thì chúng tôi vào Saigon Departo cũng ở đường Tự Do, nơi có đặt một máy scopitone mà người ta có thể chọn một bản nhạc trên bàn phím và mua jeton bỏ vào cái khe để nghe và thấy ca sĩ hát bản đó.Tôi thích nghe bản nhạc phim Le Jour Le Plus Long do ca sĩ Dalida mặc quân phục hát trong máy đó.

      Cuộc vui nào cũng phải tàn. Sáng chủ nhật tôi lên xe đò trở xuống Trà Vinh. Những đêm ở lại Trà Vinh, sau khi soạn bài vỡ để ngày hôm sau dạy và trước khi đi ngủ tôi mở máy hát đĩa để nghe nhạc. Những tiếng hát ngọt ngào của Phương Dung, Hoàng Oanh..trên những đĩa nhựa 45 vòng làm thấm thía nỗi buồn kẻ sống xa nhà nhất là xa thành phố thân yêu Sài Gòn, nơi tôi sống từ nhỏ. Đặc biệt bản Nhớ Thành Đô của Hoàng Thi Thơ diễn tả đúng tâm trạng của tôi lúc đó:

“Tôi xa đô thành một đêm trăng mông mênh

“Tuy ra đi rồi mà vẫn nhớ, vẫn thương

“Hình bóng ấy, người em thơ đang từng giờ đợi chờ..”

      Bốn năm đợi chờ cũng chóng qua. Năm 1969, tôi được đổi về dạy ở trường Ngô Quyền, Biên Hòa chỉ cách Sài Gòn có 30 km. Ban giám đốc nhà trường thông cảm cho hoàn cảnh những thầy cô từ Sài Gòn lên dạy ở Biên Hòa nên sắp xếp cho tôi mỗi tuần dạy từ sang thứ hai đến chiều thứ ba là đủ giờ bắt buộc. Tôi chỉ ở lại Biên Hòa đêm thứ hai, những ngày còn lại tôi ở Sài Gòn.

 TRƯỜNG TƯ SÀI GÒN

     Sau hiệp định Genève, hơn 1 triệu người từ miền Bắc di cư vào Nam làm xã hội ở đây có nhiều thay đổi.

     Về mặt giáo dục, một số trường học trung học nổi tiếng ở Hà Nội như Chu Văn An ( hậu thân của trường Bưởi), Nguyễn Trãi...và một số phân khoa đại học ở Hà Nội cũng theo làn sóng người di cư chuyển vào Sài Gòn. Vì chưa chuẩn bị kịp cơ sở nên lúc đầu trường Chu Văn An , Đại Học Khoa Học và Đại Học Sư Phạm phải mượn một phần cơ sở rộng lớn của trường trung học Pétrus Ký để làm nơi giảng dạy. Sau này, trường Chu Văn An mới có trường sở riêng ở quận 5, Chợ Lớn. Trường Nguyễn Trãi cũng tạm trú ở trường tiểu học Lê Văn Duyệt ở đường Phan Đình Phùng (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu, quận 3),mãi đến giữa thập niên 60 mới dời về quận 4.

     Theo chân các trường học, các giáo sư và học sinh, sinh viên miền Bắc vào Sài Gòn làm đông đảo hơn lực lượng người dạy và học ở đây. Số lượng các trường cấp học phổ thông (tiểu học và trung học) tăng lên. Nhưng số trường công lập không đủ đáp ứng nhu cầu của số học sinh quá đông nên các trường tư mọc ra như nấm. Do đó, việc mở trường tư ban đầu do các nhà giáo có điều kiện tài chánh rộng rải nghĩ ra như các giáo sư Nguyễn Văn Khuê, Vương Gia Cần, Nguyễn Văn Phú (trường Hưng Đạo ở đường Cống Quỳnh), Trần Bích Lan (trường Văn Học ở đường Phan Thanh Giản)...Nhưng về sau, trường tư cũng là một hình thức kinh doanh của những nhà tư sản. Họ chỉ cần sở hữu hay thuê một căn nhà lớn nhiều phòng hay nhiều tầng để làm trường rồi mướn một người có bằng cử nhân làm hiệu trưởng để xin giấy phép của Bộ Giáo Dục mở trường trung học tư thục. Công việc còn lại là quảng cáo và mời giáo sư giảng dạy. Người ta thuê người vẻ các banderole giăng trên cao ngang đường hay những bảng thiếc đặt dọc đường đề tên trường, ngày khai giảng, danh sách giáo sư...Người ở Sài Gòn trước 1975 ai cũng biết những bảng quảng cáo các lớp luyện thi toán lý hoá của giáo sư Huỳnh Ngọc Tiếu được đặt đầy rẫy trên các đường phố. Sau 1975, tôi nghe nói bên Cali, giáo sư Tiếu cũng mở các lớp dạy thêm cho học sinh.

      Phải nói thật lòng, trong thành phần giáo chức ngày xưa, đa phần là người Bắc di cư. Họ là thành phần trí thức ưu tú ở Hà Nội vào miền Nam để có môi trường sinh hoạt thích hợp hơn. Nói rộng hơn, sau năm 1954, nền văn hoá miền Nam bùng phát với sự tham gia của những người đến từ miền Bắc, đặc biệt là từ Hà Nội. Trong mọi lãnh vực văn hoá: văn chương, âm nhạc, điện ảnh, báo chí...và giáo dục người Bắc di cư cũng chiếm số đông. Trong suốt thời gian học trung học và đại học của tôi, các thầy tôi đa số là người miền Bắc di cư.

     Như đã nói trên, tuy dạy trường công ở Biên Hoà nhưng tôi chỉ ở đó có hai ngày đầu tuần. Những ngày còn lại trong tuần, ở Sài Gòn tôi được bạn bè giới thiệu vào dạy một số trường tư. Tôi dạy trường Tân Văn ở đường Trần Quý Cáp (Võ Văn Tần bây giờ) gần chợ Đũi và Tân Việt ở đường Yên Đổ gần công trường Dân Chủ mà giám đốc là anh Nguyễn Lung. Anh Lung cũng là giáo sư toán, trước mở các cours luyện thi, sau mướn hiệu trưởng để mở hai trường đó. Nghe nói người đứng tên hiệu trưởng trường Tân Văn là luật sư Lê Đại Toàn, anh của tài tử Lê Quỳnh. Thỉnh thoảng vào buổi sáng, anh Lung thường lấy xe Peugeot 403 chở chúng tôi đi ăn cơm tấm Trần Quý Cáp. Nguyễn Lung có một người vợ thật đẹp là bạn của nữ minh tinh Thẩm Thúy Hằng. Sau này sau khi định cư ở Pháp, anh Lung và vợ đã thôi nhau.



     Trường Tân Văn có cơ sở là một ngôi biệt thự, cạnh trường Anh văn Nguyễn Ngọc Linh, có tường bao bọc chung quanh. Trong sân trường có một cây cổ thụ mà tàng cây che bóng mát cho phía dưới suốt ngày.Cả hai trường Tân Văn và Tân Viêt đều có mở những lớp học ban đêm cho người lớn học để thi Tú Tài, đa số học viên là công chức và quân nhân. Sau này tôi thuê phòng học ở trường Thượng Hiền của thầy tư Kiệt để mở các lớp luyện thi Tú Tài.

     Trong những năm cuối cùng trước ngày 30/4/75, tôi có dạy các trường tư khác như Đức Chính ở đường Bùi Viện, Saint Thomas ở nhà thờ Ba Chuông, Trương Minh Giảng, một trường ở gần chợ Bà Chiểu mà tôi quên tên và lớp đêm ở trường nữ trung học đô thị Cô Giang (trường Thälmann bây giờ) trên đường Trần Hưng Đạo. Chính ở đây tôi đã gặp người bạn đời của tôi.

CÁC PHÒNG TRÀ SÀI GÒN

“Sài Gòn ta gởi cho em

Quán cơm Anh Vũ, phố đèn Tự Do

Nhớ em! Ôi, thuở học trò

Này đường Nguyễn Trãi, con đò Thủ Thiêm”

(Khuyết danh)

      Như đã nói ở phần trước, theo làn sóng di cư từ miền Bắc vào Nam, những văn nhân, nghệ sĩ của Hà Thành đã tìm đến Sài Gòn, nơi đất lành chim đậu.Nhạc sĩ Anh Bằng đã cho thấy điều đó qua câu ca “Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu” trong bài hát Nỗi Lòng Người Đi. Số lượng đông đảo người làm văn nghệ đến từ miền Bắc làm cho xã hội miền Nam khởi sắc hơn và nhất là thành phố Sài Gòn càng xứng đáng với danh xưng Hòn Ngọc Viễn Đông.

      Những tác phẩm văn chương, những nhạc phẩm , những cuốn phim và những tuồng cải lương kinh điển của Sài Gòn trước 1975 vẫn sống mãi trong tâm hồn người Sài Gòn dù cho vật đổi sao dời. Đây là thời gian rực rỡ nhứt của văn học, nghệ thuật Sài Gòn. Thơ Nguyên Sa “Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc, áo nàng xanh anh mến lá sân trường”, nhạc Phạm Duy “Ta ngắt đi một cùm hoa thạch thảo, em nhớ cho mùa thu đã chết rồi”, minh tinh Thẩm Thuý Hằng, cô đào Thanh Nga.là những biểu tượng không phai mờ theo thời gian của thành phố Sài Gòn.



      Ánh đèn màu của Sài Gòn cũng không bao giờ tắt trong đêm cả trong thời gian chiến tranh leo thang khốc liệt. Vũ trường có đóng cửa thì người ta thay thế bằng phòng trà.Một trong những phòng trà đầu tiên ở Sài Gòn là Anh Vũ ở số 43 đường Bùi Viện (phố Tây bây giờ). Ở đó, ban ngày là quán cơm bình dân cho học sinh, sinh viên và người lao động, ban đêm là phòng trà ca nhạc. Phòng trà Anh Vũ mở cửa năm 1960 và tồn tại chỉ có vài năm thì bị đóng cửa vì tình hình an ninh, nhưng đó là bệ phóng của những ca sĩ tên tuổi sau này của Sài Gòn: Thanh Thuý, Bạch Yến, Minh Hiếu, Lệ Thanh, Duy Khánh, Việt Ấn, Cao Thái, Duy Trác...

       Cũng trong thời gian đó, một vụ án nổi tiếng xảy ra ở vũ trường Kim Sơn ở đường Tự Do: vũ nữ Cẩm Nhung bị vợ trung tá Thức cho người tạt acide vì ghen. Từ một cô vũ nữ xinh đẹp, Cẩm Nhung trở thành một người có một bộ mặt bị huỷ hoại tàn khốc. Trước đó ở Sài Gòn cũng có một vụ án vì ghen tương khác làm tốn bao nhiêu giấy mực trên các trang báo: vụ án cô Quờn đốt chồng...

     Theo dòng thời gian, thời chế độ Tổng thống Ngô Đình Diệm vũ trường bị đóng cửa thì sau khi ông bị lật đổ, các ông tướng cho mở lại vũ trường nhưng đến năm 1968, sau biến cố tết Mậu Thân , vũ trường lại bị đóng cửa và phải chuyển sang hình thức phòng trà,

       Chúng ta phải kể tên những phòng trà nổi tiếng thời kỳ này là: Queen Bee với ban nhạc Shot Gun của Ngọc Chánh ở building Eden, Đêm Màu Hồng với ban hợp ca Thăng Long ở đại lộ Nguyễn Huệ, Tự Do với các ca sĩ Khánh Ly, Lệ Thu ở đường Tự Do, Maxim’s ở gần khách sạn Majestic và Ritz của Jo Marcel ở đại lộ Trần Hưng Dạo.

Tôi thường đến phòng trà Queen Bee nghe nhạc vì ở đây chỗ ngồi thoải mái và âm thanh rất hay.

ĂN UỐNG Ở SÀI GÒN

       Một nghề chuyên nghiệp  của người Bắc di cư là nấu phở. Người miền Nam trước đó chỉ biết đến hủ tíu: hủ tíu của người Hoa, hủ tíu Mỹ Tho, hủ tíu Vĩnh Long hay hủ tíu Nam Vang…Sau năm 1954, cùng với sự hiện diện của những người đến từ miền Bắc, những tiệm phở của họ đem đến cho Sài Gòn một hương vị mới: phở Tàu Bay ở đường Lý Thái Tổ, Phở Hòa ở đương Pasteur, Phở Bắc đường Võ Tánh (nay là đường Nguyễn Trãi), phở Cao Vân đường Mạc Đĩnh Chi…Sau này theo chân người Việt định cư ở nước ngoài những thương hiệu nói trên cũng được thấy ở các thành phố lớn của Mỹ, Canada, Pháp, Úc.



      Nhắc đến ẩm thực Sài Gòn, nếu muốn ăn phở ngon thì phải đến tiệm của người miền Bắc, muốn ăn hủ tíu hay hủ tíu mì thì phải vào tiệm nước người Tàu. Người Hoa ở Hải Phòng di cư vào Sài Gòn mang theo món mì La Cai và mì vịt tiềm ở tiệm Hải Ký Mì Gia đường Nguyễn Tri Phương (đường Lacaze thời Pháp thuộc vì vậy mới từ mì La Cai). Nhưng người Sài Gòn vẫn không quên tiệm hủ tiếu Thanh Xuân ở đường Tôn Tất Thiệp gần chùa Chà Và.

        Là một người từng lang thang ở phố Lê Lợi vào cuối tuần tôi không quên được hai món ăn sáng khoái khẩu ở nhà hàng Thanh Bạch kế nhà thương Sài Gòn: pâté chaud và bánh mì bò kho hay bún suông ở nhà hàng Thanh Thế đường Nguyễn Trung Trực. Sau này không còn nhà hàng Thanh Thế thì tôi ăn  bún suông chỗ sạp cô Mai trong chợ Sài Gòn

      Còn nhiều món ăn ngon khác mà người Sài Gòn không quên như bánh mì Bưu Điện, bánh mì Tòa Đô Chánh, bánh mì Nguyễn Ngọ (trên đại lộ Trần Hưng Đạo), bánh xèo Đinh Công Tráng, bánh cuốn Tây Hồ ở Đa Kao, cháo vịt Thanh Đa, bò bảy món Ánh Hồng ở Phú Nhuận, bánh bao ông Cả Cần ở ngả sáu Chợ Lớn...

TRUYỀN THANH VÀ TRUYỀN HÌNH Ở SÀI GÒN

      Năm 1939, chính phủ Pháp cho thành lập đài phát thanh Radio Saigon như là tiếng nói của nước Pháp tại Viễn Đông phục vụ cho nước Pháp trong thời kỳ thế chiến thứ 2 dưới sự điều khiển của ông Jacques LeBourgeois.

       Ngày 9/3/1945 đài này im tiếng sau khi Nhật đảo chánh Pháp và đài này chỉ hoạt động trở lại tháng 12 năm 1945 sau khi Pháp theo chân quân đội Đồng Minh trở lại Sài Gòn. Đến năm 1950 , đài này đổi tên là đài phát thanh Pháp Á (Radio France-Asie). Ngày 27/2/1956 đài Pháp Á được giao lại cho chánh quyên của ông Ngô Đình Diệm và từ dó người ta có đài phát thanh Sài Gòn.

      Cho đến năm 1975, tôi thích nhất là giọng nói của hai xướng ngôn viên Lệ Hồng và Văn Thiệt trên đài Sài Gòn. Đài Pháp Á và đài Sài Gòn đối với các nhạc sĩ, ca sĩ, kịch sĩ, nghệ sĩ cải lương...là một môi trường giúp họ phát triển tài năng vì đã mang tiếng nhạc, lời ca, tiếng nói của họ đến người dân miền Nam.



       Tôi còn nhớ ngoài những mục tin tức, bình luận, ca nhạc kịch, ngâm thơ...có những chương trình đặc biệt mà khi đến giờ phát thanh ai cũng mong chờ. Chiều thứ ba dù đang ở sở làm hay ở nhà người ta mở radio để nghe xổ số và bài hát mở đầu cho buổi xổ số do nghệ sĩ Trần Văn Trạch trình bày mà tới nay người dân cố cựu của Sài Gòn vẫn còn nhớ những câu như:

“Kiến thiết quốc gia

Giúp đồng bào ta

Xây đắp muôn người

Ðược nên cửa nhà”

      Tối thứ bảy, người mê cải lương được nghe trực tiếp truyền thanh một tuồng mới của một đoàn cải lương nổi tiếng của Sài Gòn. Khi nào có một trận đá banh quốc tế thì người ghiền môn túc cầu sẽ được ký giả Huyền Vũ tường thuật trục tiêp qua làn sóng điện. Lối diễn tả trận đấu của Huyền Vũ rất sôi nổi đến nay chưa ai có thể qua được. Tôi còn nhớ câu nói để diễn tả tỷ số 0-0 của hai hội banh, Huyền Vũ thường sử dụng câu:’Màn lưới đôi bên vẫn còn trinh bạch”. Lúc còn nhỏ, nhà tôi không có radio, tôi phải ngối ngoài sân nhà hàng xóm với đám con nít để chăm chú nghe tường thuật trận đá banh. Nhờ Huyền Vũ tôi quen tên những hội banh như Ngôi Sao Gia Định, AJS (sau là hội Cảnh Sát Quốc Gia), Quan Thuế, Tổng Tham Mưu…và những cầu thủ: Kane, Don, Myo, Tam Lang, Rạng, Ngôn, Tư…Thời đó, nền bóng tròn của Hồng Kông là nổi trội nhứt ở Á Châu nhứt là đội Nam Hoa với cầu vương Lý Huệ Đường, Hội banh Việt Nam thường thua các hội Hồng Kông mỗi khi chạm trán với họ. Nhưng có lần hội tuyển Việt Nam phá lệ thắng hội Nam Hoa. Hôm đó dân Sài Gòn mừng vui như ngày hội, nhưng người ta không xuống đường chạy xe gắn máy ồn ào như những “fan bóng đá” ngày nay (đi bão!)

        Ngày 7./2/1966, buổi phát hình đầu tiên của đài truyền hình Sài Gon lúc 19 giò tối do một phi cơ C121 của Mỹ bay trên không phận Sài Gòn phát ra. Về sau, ngày 25 tháng 10 năm 1966, trụ sở trên mặt đất đươc thiết lập tại số 9 đường Hồng Thập Tự. Lúc đầu truyền hình Sài Gòn chỉ phát hình một giờ mỗi ngày, về sau lên tới 6 giờ một ngày và nhiều hơn nếu là cuối tuần. Những năm sau đó người ta mở thêm các đài truyền hình Cần Thơ, Huế, Quy Nhơn và Nha Trang.

     Đài Sài Gòn phát trên băng tần số 9, Cần thơ tần số 7 và đài Mỹ AFVN (Armed Forces Vietnam Network) tần số 11. Những chương trình của đài Mỹ lấy từ chính quốc rất phong phú. Ba tôi đêm nào cũng thức khuya để xem đấu vật (wrestling). Tôi thích xem những phim cao bồi như Gunsmoke, Bonansa, Wild Wild West…Đứa em kế tôi thích phim chiến tranh như Combat hay Assault. Những đứa em nhỏ hơn thì xem phim hoạt họa như: Peanut, Flinstone…hay phiêu lưu Batman. Lại còn phim khoa học viễn tưởng như Lost in space, Startreck (người ta thường gọi là phim Lỗ Tai Lừa) hay gián điệp như Mission Impossible. Phim ma diễu thì có Adam Family..Tuy không hiểu hết nội dung vì phim nói tiếng Anh nhưng mọi người đều thích thú vì không cần đến rạp xi nê mà vẫn coi được phim.



       Tuy nhiên không phải nhà nào cũng có TV. Giá một máy truyền hình lúc đó bằng mấy tháng lương bình thường. Nếu nhà không có TV thì người ta xem ké bên nhà hàng xóm. Tôi nhớ lúc còn dạy ở Trà Vinh, đám thầy giáo chúng tôi tối nào cũng đến nhà bác sáu Chẩn, giám thị trường trung học Vĩnh Bình để xem TV. Sau này trở về Sài Gòn tôi mua cho gia đình một máy truyền hình hiệu Denon 16 inch. Màn ảnh nằm trong một cái thùng gỗ có cửa. Sau năm 1975, trong thời gian khó khăn, nhà không có TV mỗi lần có tranh cúp Mondial, tôi phải sang nhà người học trò bên cạnh xem ké trận đấu.

 CÁC ĐẠI NHẠC HỘI Ở SÀI GÒN

       Miền Nam trong khoảng 1956-1960 rất là yên bình. Năm 1957, nhân lễ Quốc Khánh chính quyền VNCH có tổ chức một hội chợ bên Thị Nghè. Ngỏ đi từ sở thú qua Thị Nghè có một cây cầu đúc, đêm khai mạc hội chợ người ta chen lấn, xô đẩy nhau trên cầu để vào hội chợ khiến 17 người chết và nhiều người bị thương vì dẫm đạp nhau và rơi xuống sông. Hội chợ vẫn tiếp tục mở cửa và mấy hôm sau má tôi dẫn anh em tôi đi chơi hội chợ thì thấy trên cầu chỉ còn lưa thưa người vào hội chợ, có lẽ người ta  e sợ tai nan có thể xảy ra nữa. Sau khi hội chợ chấm dứt thì khu hội chợ biến thành giải trí trường Thị Nghè, nơi có nhà hàng, trò chơi và trình diễn ca cỗ  do nghệ sĩ Lệ Liễu tổ chức

     Sau đó dù chiến tranh leo thang, tôi vẫn sống thời tuổi trẻ của mình trong hạnh phúc và hy vọng tương lai. Thời kỳ sinh viên, ngoài việc học tôi cùng các bạn đắm mình trong những cuộc vui chơi. Những ngày cuối tuần ban đêm chúng tôi đi bal, ban ngày đi dạo phố Bô Na (Bonard). Đôi khi chúng tôi đi xem đại nhạc hội.

       Thời đó, đại nhạc hội là một chương trình tạp kỷ bao gồm những tiết mục ca nhạc kịch, ảo thuật, xiếc, cải lương… Ban đầu ông bầu tổ chức là quái kiệt Trần Văn Trạch. Sau này là Duy Ngọc tại rạp Đại Nam và Tùng Lâm tại rạp Olympic.Ông bầu Duy Ngọc, sau năm 1975 vẫn hoạt động trong làng ca nhạc đến khi mất năm 2016. Đại nhạc hội của ông đã quy tụ những nghệ sĩ tên tuổi hàng đầu nhiều thế hệ như tam ca AVT  (Lữ Liên, Tuấn Đăng, Vân Sơn); các nghệ sĩ cải lương Thành Được Út Bạch Lan, Thanh Nga, Bạch Tuyết, Hùng Cường; các ngôi sao ca nhạc Giao Linh, Thanh Tuyền, Mai Lệ Huyền…; các nghệ sĩ kịch: Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, Túy Hồng. Người làm MC cho các buổi đại nhạc hội, thời đó gọi là hoạt náo viên nổi tiếng là Trần Văn Trạch, Ngọc Phu, Tùng Lâm..



        Người ta còn nhớ thời đó có những lò đào tạo ca sĩ  mà về sau trở nên nổi tiếng trên vòm trời ca nhạc. Lò Nguyễn Đức có một lô ca sĩ họ Phương gồm Phương Hồng Loan, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Quế, Phương Hồng Ngọc (Cẩm Hồng) hay trước đó là Hoàng Oanh, Thanh Lan và có cả nghệ sĩ hài như Thanh Hoài, Trần Tỷ. Lò Tùng Tâm giới thiệu Trang Thanh Lan, Trang Mỹ Dung, Trang Kim Yến rồi Chế Linh, Giang Tử. Lớp nhạc Bảo Thu có Thanh Mai, Thanh Tâm sau này Kim Loan; Hoàng Thi Thơ có Sơn Ca, Bùi Thiện, Họa Mi;  Nguyễn Văn Đông đào tạo Giao Linh, Thanh Tuyền  …

 BÁO CHÍ SÀI GÒN

        Miền Nam đi tiên phong trong lãnh vực báo chí. Tất cả những tờ báo đầu tiên của Việt Nam đều xuất xứ từ đây. Tờ Gia Định Báo ra đời ở Sài Gòn năm 1865 chỉ 3 năm sau khi Pháp chiếm 3 tỉnh miền đông Nam Kỳ (1862).

     Có thể nói, trước 1975 Sài Gòn là nơi mà báo chí phát triển và phong phú. Trừ một vài tờ báo là cơ quan thông tin và tuyên truyền của chánh quyền và quân đội, đa phần báo chí là của tư nhân . Những người làm báo kỳ cựu ở Sài Gòn trước 1975 phải kể như các ông Nam Đình (Nguyễn Kỳ Nam) với tờ Thần Chung, Trần Tấn Quốc với tờ Tiếng Dội, Đinh Văn Khai với tờ Tiếng Chuông, bà Bút Trà với tờ Sài Gòn Mới...



Trước thềm xuân mới năm Quý Mão, xin mời bạn bè cùng Mru tôi hồi tưởng lại hình ảnh Sài Gòn ở những năm tháng còn huy hoàng với cái tên “Hòn ngọc viễn đông”, cái hư danh vang bóng một thời đó nay đã mai một ,chìm vào quên lãng nhưng vẫn là Sài Gòn một thời để nhớ với những ai sinh ra và lớn lên tại thành phố này. Bài viết hơi dài,thật dài nhưng không dư thừa với thế hệ sinh sau 1975, tình tiết phong phú ,giọng văn truyền cảm gây xúc động sâu sắc với những người đồng trang lứa ,có thể khi viết bút ký này tác giả đã trên dưới 90 tuổi đời.

      Người Sài Gòn, không chỉ là người trí thức mà kể cả những người lao động đều có thói quen đọc báo mà người bình dân gọi là xem “nhựt trình”. Hình ảnh một ông công chức đeo kính trắng ngồi tréo chân trong một quán nước vừa ăn sáng, uống cà phê vừa đọc báo và một anh xích lô ngồi trên nệm xe xem nhựt trình trong khi chờ đợi khách là những gì người ta bắt gặp đây đó trong thành phố Sài Gòn.

       Báo chí thời đó cung cấp đủ tiết mục khác nhau cho người đọc tuỳ theo sở thích của họ. Tin tức cho người theo dỏi thời cuộc, thể thao cho ai mê đá banh, bóng bàn, quần vợt, đua xe đạp..., kịch trường cho người thích cải lương, điện ảnh cho ai ham xem phim, nhứt là tiểu thuyết hay truyện dài đăng từng ngày (feuilleton) cho người mê đọc truyện.

       Các ký giả được phân chía theo chuyên môn của họ: Kiên Giang, Nguyễn Phương, Trần Tấn Quốc ( cha đẻ giải Thanh Tâm của ngành cải lương) phụ trách trang kịch trường, Thiệu Võ, Huyền Vũ trang thể thao, Quốc Phong trang điện ảnh...Những danh xưng của các nghệ sĩ, ca sĩ, vận động viên thể thao được các ký giả đặt tên như “vua xàng xê” Minh Chí, “cải lương chi bảo” Bạch Tuyết, “TV chi bảo” Phương Hồng Quế, “nhạn trắng Gò Công” Phương Dung, “nữ hoàng sầu muộn” Giao Linh, “phượng hoàng” Lê Thành Các, thủ môn “lưỡng thủ vạn năng” Phạm Văn Rạng...

       Nhưng thường một tờ báo ăn khách nhờ những tiểu thuyết, truyện dài từng kỳ. Tác giả đầu tiên viết tiểu thuyết feuilleton trên báo là Phú Đức với truyện trinh thám rất nổi tiếng Châu Về Hiệp Phố đăng nhiều kỳ trên báo Trung Lập và Công Luận từ năm 1926, về sau được đăng lại trên báo Thần Chung và Đuốc Nhà Nam trong những năm 60, 70. Hồi còn nhỏ tôi mê các nhân vật Hoàng Ngọc Ẩn, Lệ Thuỷ, Lục Tặc trong bộ truyện này. Những tác giả sau này như bà Tùng Long, Dương Hà, Ngọc Linh, Hoài Điệp Tử...cũng rất ăn khách với nhứng tiểu thuyết tình cảm xã hội đăng hàng ngày trên các nhựt báo ở Sài Gòn.

        Với làn sóng di cư của đồng bào miền Bắc vào Nam, làng báo Sài Gòn được tăng cường những nhân tố mới làm phong phú thêm món ăn hàng ngày của dân Sài Gòn. Nhiều tờ báo mới do người Bắc di cư chủ trương như Tự Do mà chủ nhiệm là Phạm Việt Tuyền, Chính Luận của bác sĩ Đặng Văn Sung và đình đám nhứt là tờ báo Sống của Chu Tử sau khi bị đình bản trở thành là Sóng Thần. Chu Tử là tác giả nhiều tiểu thuyết tình cảm ăn khách với tuổi trẻ Sài Gòn lúc đó nhứt là cuốn Yêu mô tả chuyện tình của cháu Diễm và chú Đạt, bạn của cha Diễm. Chu Tử tử nạn ngày 30/4/75 khi tìm đường rời Việt Nam.



       Phải kể thêm những tiểu thuyết đăng báo ăn khách khác vào thời kỳ nửa đầu thập niên 70 của Lê Xuyên với Chú Tư Cầu, Duyên Anh với Điệu Ru Nước Mắt, Nguyễn Thuỵ Long với Loan Mắt Nhung, Trần Đức Lai với Cậu Chó...

      Một hiện tượng nổi bật trong làng báo Sài Gòn của những năm 60, 70 là phong trào xem truyện võ hiệp của Kim Dung. Các báo tranh nhau đặt mua báo Hồng Kông sớm nhứt để có bài mới của truyên Kim Dung đăng trên báo Hồng Kông đem dịch và đăng báo của mình hầu ra trước báo khác để câu đọc giả. Những dịch giả Từ Khánh Phụng, Hàn Giang Nhạn nhờ cơn sốt truyện Kim Dung mà kiếm bộn bạc.

SINH HOẠT VĂN CHƯƠNG Ở SÀI GÒN

       Văn chương miền Nam trước 1975 xét về khía canh văn phong có thể chia làm hai trường phái: văn chương trau chuốt của các tác giả gốc miền Trung và miền Bắc, văn chương miệt vườn của các nhà văn gốc miền Nam.

      Trước 1954, nghĩa là trước làn sóng di cư của người miền Bắc vào Nam sau hiệp đinh Genève chia đôi đất nước, người ta đọc những tác phẩm của Phú Đức về trinh thám, Nam Đình về xã hội, Hồ Biểu Chánh về phong tục, Hồ Hữu Tường vừa trào lộng, vừa chính trị giả tưởng... Trong số các tác giả ấy có thể nói Hồ Biểu Chánh là người có gia tài văn chương đồ sộ nhứt. Má tôi là độc giả trung thành của nhà văn này dù bà học chưa hết bậc tiểu học vì những cốt truyện trong các tiểu thuyết của ông gần với những cảnh đời thường, tâm lý các nhân vật trong truyện giống như các hạng người trong xã hội đương thời và nhứt là lời văn bình dị như lối kể chuyện hay nói chuyện của người miền Nam.

        Khi những nhà văn từ Hà Nội vào Sài Gòn và nhứt là khi lớp học sinh, sinh viên gốc miền Bắc ra trường (dù tốt nghiệp hay không) nhập vào lớp đàn anh đã thành danh tạo nên một lực lượng hùng hậu các người viết văn gốc Bắc gần như thống trị môi trường văn nghệ Sài Gòn. Những Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Sỹ Tế, Mai Thảo, Nguyễn Vỹ...và tiếp nối là Viên Linh, Thanh Tâm Tuyền, Thế Uyên, Dương Nghiễm Mậu, Nhật Tiến, Duyên Anh, Nguyễn Thuỵ Long...xuất hiện thường xuyên trên các tạp chí văn học ở Sài Gòn hay có các tác phẩm in thành sách.

     Các nhà văn miền Nam tuy có mặt trên văn đàn khiêm nhường hơn nhưng cũng rất ăn khách: Sơn Nam với những câu chuyện về các địa phương miền Nam như xứ Cạnh Đền, xóm Bàu Láng..., Bình Nguyên Lộc mà tác phẩm nổi tiếng nhứt là Đò Dọc, Lê Xuyên với Chú Tư Cầu, Ngọc Linh với Đôi Mắt Người Xưa...

         Các nhà văn gốc miền Trung cũng góp phần cho sinh hoạt văn chương Sài Gòn thêm náo nhiệt. Cũng nên kể ra một số khuôn mặt tiêu biểu như Võ Phiến, Võ Hồng, Trần Hoài Thư...

       Một hiện tượng đáng nhắc tới là các nhà văn nữ trong thời kỳ này cũng từng làm mưa làm gió trên văn đàn. Nhà văn gốc Bắc có Trùng Dương, miền Nam có Nguyễn Thị Thuỵ Vũ nhưng ba nhà văn nữ đình đám nhứt đều là gốc Huế : Nhã Ca, Tuý Hồng và Nguyễn Thị Hoàng. Đặc biệt, tác phẩm Vòng Tay Học Trò của Nguyễn Thị Hoàng trong những năm cuối của thập niên 60 đã gây bão tố trong làng văn chương và cả ngoài xã hội khi bà đã đưa chuyện tình của bà, một cô giáo (Trâm) với người học trò (Minh).



       Cũng trong thời kỳ này, các tạp chí, nguyệt san, tuần báo về văn nghệ như Bách Khoa, Văn, Văn Học, Khởi Hành...đưa những tác phẩm văn chương của các tác giả đến với người đọc. Tôi cũng có một số bài viết đăng trong Bách Khoa, Khởi Hành và một số nhựt báo ở Sài Gòn.

 TÔI TRỞ LẠI SÀI GÒN

     Cuốn phim đời Sài Gòn Và Tôi bị gián đoạn hơn hai năm sau ngày 30/4/1975 lúc tôi đi học tập cải tạo vì là giáo chức biệt phái. Mùa tựu trường niên khoá 1977-1978 tôi được cho dạy học lại tại trường Nguyễn Trãi quận 4, vốn là quận nhà của tôi cũng như bà xã tôi.

      Nhưng về sau, nghề dạy học dù có mở lớp dạy thêm ở nhà cũng không giúp tôi nuôi sống gia đình một vợ hai con nên chúng tôi nghĩ ra việc mở quán nhậu vì vợ tôi có khiếu nấu nướng. Lúc đó, Việt Nam đang ở trong thời kỳ "bao cấp" nên số nhà hàng, quán ăn rất ít vì vậy ban đầu chúng tôi cũng tạm sống thoải mái. Nhưng sau này, vì thấy quán chúng tôi đắt khách người ta kiếm chuyện hoặc tăng thuế quá mức khi chúng tôi mở quán tư nhân hay chấm dứt hợp đồng khi chúng tôi hợp tác mở cửa hàng ăn uống dưới hình thức hợp tác xã, vì vậy chúng tôi đành phải đi ra nước ngoài.


       

       Nhưng sau 22 năm xa xứ, năm 2008 tôi về hưu , hàng năm vào dịp tết tôi về Việt Nam để tìm lại hương vị mùa xuân ở quê nhà. Ngày trước tôi là người “thường trú”, bây giờ tôi là khách “tạm trú” của thành phố Sài Gòn dù đây là nơi tôi đã sống cả nửa đời người.

      Bộ mặt Sài Gòn đã thay đổi. Thành phố lên cao hơn với những cao ốc chung cư đông hơn với làn sóng người đến từ miền Bắc, miền Trung và miền Tây và ồn ào hơn với khối xe gắn máy dày đặc trên các nẻo đường. Tôi không tìm thấy lại một Sài Gòn thân yêu, duyên dáng, lịch sự và văn minh của ngày xưa.

       Tuy nhiên, mục dích tôi trở về Sài Gòn, ngoài việc ăn tết còn để sống lại trong những thân tình của gia đình, bạn bè xưa và học trò cũ. Đó là những gì hạnh phúc và ấm áp trong buổi hoàng hôn của cuộc đời tôi.

 Montréal, ngày 5/4/2021

GS. Huỳnh Công Ân

HOA HỌC TRÒ-Trời đất dành riêng tuổi học trò.Một loài hoa đỏ rất nên thơ...

HOA HỌC TRÒ-Trời đất dành riêng tuổi học trò.Một loài hoa đỏ rất nên thơ...
Mỗi năm hoa nở mùa thi đến.Chạnh nhớ trường xưa nhớ bạn bè .Nguyenuthang ..