19 thg 1, 2019

NGƯỜI HỌC TRÒ ĐẠP XÍCH LÔ




        Kết thúc đợt công tác ở Hà Nội, tôi trở về trên chuyến tàu Thống Nhất, đến ga Nha Trang lúc 12 giờ đêm. Chị phát thanh viên đón chào hành khách bằng cái giọng trầm khàn vọng vào đêm sâu làm cho cả con tàu bừng tỉnh giấc. Niềm háo hức của người đi xa, về với nơi thân thuộc gắn bó khiến bước chân tôi nhanh nhẹn lạ thường. Nhoáng một cái tôi đã ở ngoài phố. Thật yên tĩnh: vườn hoa với những chiếc ghế đá trầm ngâm; con đường thoáng đãng, mải miết chạy dài về phía biển. Tôi gọi xích lô để được về thật nhanh với ngôi nhà ấm cúng, nơi có những đứa con kháu khỉnh, mà những ngày xa lòng tôi nôn nao nhớ. Một người đạp chiếc xích lô tiến lại. Dưới ánh điện nhập nhoà, tôi thấy đó là một thanh niên dáng dong dỏng, mặc chiếc áo sẫm màu vá nhiều miếng to, chiếc mũ lá rộng vành sụp xuống mặt. Cậu ta còn quá trẻ - tôi  đoán vậy
- Về phố Cửu Long bao nhiêu em?
Tôi hỏi giá, vì nghe nói giá xe ban đêm gấp đôi ban ngày, vả lại túi tôi đã cạn sau chuyến đi dài.
- Dạ mười ngàn .
Chàng trai đáp một cách từ tốn và rất nhỏ. Tôi nghĩ, không phải đi bộ quãng đường hai cây số, mà chỉ mất chừng ấy tiền thì không nên đắn đo. Nhưng tôi có quyền mặc cả cơ mà:
- Năm ngàn nhé!
- Dạ.
Tiếng “dạ” có vẻ nhỏ hơn. Tôi lên xe, thầm nghĩ chàng trai này dễ chịu thật, loại người chăm chỉ đây, chắc hoàn cảnh khó khăn nên mới phải làm lụng đêm hôm vất vả thế này.
        Thành phố ngủ say. Không có tiếng động nào ngoài tiếng xích xe nhịp đều đều theo đôi chân mải miết của chàng trai. Những vòm cây, những mái nhà tôi đã bao lần đi qua, dừng lại, ngắm nhìn, vậy mà trong đêm, tất cả trở nên lạ lẫm. Tất cả đột ngột hiện ra rồi lặng lẽ lùi vào vắng vẻ.
Tôi yêu sự yên tĩnh này bằng một cảm xúc mới mẻ như lần đầu tiên tôi nhận ra cái thơ mộng của phố xá lúc đêm khuya. Tôi hít sâu vào lồng ngực, hưởng lấy chút không khí trong lành ẩm ướt hơi sương. Chưa kịp nghĩ ngợi gì thì xe đã dừng lại trước cảnh cổng sắt sơn xanh ẩn giữa bờ hoa giấy. Tôi trả tiền, chàng trai không nhận, chỉ vội vã quay xe, rồi nói, vẫn cái giọng rất nhỏ:
- Cô về nghỉ ạ, em đi.
Bây giờ tôi mới ngẩn nhìn chàng trai:
- Phương!
      Tôi thốt lên ngạc nhiên, ngỡ ngàng nhận ra cậu học trò lớp 12A mà tôi đang chủ nhiệm. Không nói được gì thêm, tôi đứng trân trân giữa đường nhìn theo bóng Phương lẫn vào phố vắng. Một cảm giác xấu hổ làm tôi đau nhói. Tôi trách mình sao vô tình đến thế? Sao tôi không nhận ra Phương. Phải vì em mặc chiếc áo vá nhiều miếng to? Tôi lại còn mặc cả tiền bạc nữa chứ. Điều này có vẻ mâu thuẫn với những những gì hay ho mà tôi say sưa rao giảng trên lớp. Những ý nghĩ xót xa dày vò khiến tôi đứng ngoài phố một lúc lâu mới gọi người nhà mở cửa. Đêm ấy tôi trằn trọc cho đến khi đài phát thanh thành phố truyền đi bản nhạc quen thuộc đầu tiên trong ngày.
                                                                        * * *
       Tôi đến lớp với tâm trạng buồn khó tả. Câu chuyện hôm qua giúp tôi hiểu rằng không thể đánh giá học sinh một cách hời hợt, nông cạn. Năm mươi học sinh ngồi đây là năm mươi thế giới bí ẩn. Tâm hồn các em như cầu vồng bảy sắc mà ta bất chợt nhìn thấy nhờ những tia sáng mặt trời.
Phương vẫn ngồi kia, góc cuối lớp, nét mặt không gì đổi khác, mà sao bây giờ tôi mới nhìn kỹ, cái mũi cao thẳng trên khuôn mặt khôi ngô, đôi mắt luôn ngời lên ánh nhìn thông minh và ngay thật. Bao giờ Phương cũng chỉnh tề với mái tóc gọn gàng, áo sơ mi tém trong chiếc quần xanh ngay ngắn. Cái dáng cao và nước da trắng làm nên vẻ thư sinh, khiến tôi không nhận ra em trong “vai” chàng trai đạp xích lô đêm qua.
      Tôi nhớ lại những cuộc họp hội đồng giáo dục, nhiều ý kiến phản ánh tình hình học sinh. Để tiếp tục cắp sách đến trường đối với các em không đơn giản chút nào. Có em phải bán trứng luộc trên tàu, bán hành rong ngoài bờ biển, gánh nước thuê, đạp xích lô… Tôi cho rằng đó là những thực tế không tránh khỏi của miền Nam sau giải phóng, nhưng lại đinh ninh rằng lớp tôi không có những trường hợp như vậy, bởi vì ánh mắt các em bình thản, vô tư lắm. Hoá ra lâu nay tôi toàn nhận xét học sinh theo cảm tính. Tôi có biết đâu, đằng sau tiếng cười hồn nhiên của các em là một cuộc sống đầy vất vả, lo toan.
       Tôi không thể làm ngơ trước một học trò như Phương được. Tôi phải tìm hiểu hoàn cảnh, tâm tư của em, ý nghĩ đó thúc bách tôi mạnh mẽ. Giờ nghỉ, tôi gọi Phương ra hành lang.
- Hôm qua cô có lỗi là không nhận ra em. Cám ơn em đã đưa cô về nhà, nhưng tại sao em lại có vẻ tránh cô thế nhỉ?
- Thưa cô, Em thực sự không muốn cô phải bận lòng nhiều vì chúng em…
- Sao em phải đạp xích lô ban đêm?
- Dạ, em thuê chiếc xích lô này. Chủ xe đi ban ngày, ban đêm họ nghỉ, cho thuê.
- Đêm nào cũng vậy, còn thời gian nào mà nghỉ ngơi?
- Thường lệ cứ 7 giờ tối, em đi các phố đón khách, sau đó lên ga chờ khách xuống tàu. Em về nhà lúc 2 giờ sáng ngủ đến 5 giờ dậy, đi học.
- Ngủ ít vậy mà cô  không thấy em ngủ gật?
- Dạ, em quen rồi.
- Cô còn mắc nợ em đấy, chủ nhật cô đến nhà thăm em được chứ?
Phương “dạ” một tiếng rồi đi vào lớp, hoà trong đám học sinh đang gõ bàn hát ầm ĩ. Tôi nghĩ, em không thể sống vô tư.
                                                                        * * *
          Phương ở trong hẻm một khu phố lao động. Căn nhà chật chội, với những đồ vật sơ sài sắp đặt không được hợp lý lắm. Tất cả muốn nói rằng cái “hậu phương” của em chẳng có gì là vững chắc. Phương kéo ghế, mời tôi ngồi, cử chỉ chững chạc, lễ độ và tự nhiên, không có sự khúm núm mà tôi thường gặp ở một số học sinh. Vừa rót nước ra những chiếc ly thủy tinh, em vừa kể:
“Bố em là lính, mất tích trước 1975. Mẹ em cũng mới mất cách đây hai năm. Bệnh hen suyễn đã hành hạ bà suốt cuộc đời. Cho đến giờ em vẫn không thể nào quên hình ảnh mẹ khô gầy, hố mắt trũng sâu, đêm đêm không ngủ được, mẹ phải dựa lưng vào vách, há miệng ra thở những hơi thở khò khè, nặng nhọc. Căn bệnh hiểm nghèo, nên mọi sự chữa chạy đều vô hiệu. Mỗi lần lên cơn khó thở, mẹ co rúm người, vật vã khổ sở. Mẹ bảo chỉ mong chết. Em ước mình là bác sĩ để cứu mẹ. Mẹ mất, cuộc sống chúng em càng khó khăn. Hai đứa em nhỏ cũng đang tuổi ăn học. Mấy lần em tính bỏ học, đi làm kiếm tiền nuôi các em, nhưng xa lớp, xa các bạn, nhớ quá, không chịu nổi. Mới lại em ước mơ trở thành bác sĩ nên  phải cố gắng cô ạ…”
Bây giờ thì tôi hiểu vì sao Phương học giỏi. Mỗi sự vươn lên để chiến thắng hoàn cảnh, đều có một động lực bên trong. Từ đó, mỗi khi giảng bài, tôi thường nhìn vào mắt em, ở đó niềm hy vọng đang cháy lên và tôi như được tiếp thêm sức mạnh.
                                                                        * * *
      Bẵng đi một thời gian dài, dễ đến bảy, tám năm, tôi đã là bà giáo thâm niên trong nghề. Bao nhiêu lớp học sinh đi qua cuộc đời, bao nhiêu gương mặt lưu lại trong tâm trí, có những điều bị xoá nhoà, lãng quên, có những niềm vui, nỗi buồn khắc sâu thành kỷ niệm. Tôi bắt đầu ngấm mệt, bắt đầu cảm nhận những bất cập và cả nỗi buồn của nghề dạy học.
          Một buổi sáng, sau khi dạy xong bốn tiết văn, tôi bước ra khỏi lớp bỗng thấy đầu choáng váng mắt nhoà đi, cổ họng đau cứng như có vật gì to lắm chẹn lại, ngực tức tựa hồ ai đem đặt vào đó một tảng đá. Tôi ho rũ và khạc ra một cục máu đỏ bầm to bằng đầu ngón tay. Không tin ở mắt mình, tôi nhìn kỹ lại, thì đúng là một cục máu. Tôi bàng hoàng kinh sợ, nghĩ đó là dấu hiệu của bệnh “lao” và rùng mình nhớ đến những đồng nghiệp của tôi đã chết vì lao phổi. Hai mươi năm cầm phấn, viết và nói, tôi đã hít không biết bao nhiêu vi trùng. Những hạt bụi trắng, li ti mà những người làm thơ, làm nhạc đã tha thiết ngợi ca. Tuổi trẻ vốn tin vào những gì đẹp đẽ. Tôi cũng một thời thi vị hoá bụi phấn. Cứ để  mặc cho phấn nhuộm trắng bàn tay như một bông hoa huệ; Cứ để phấn bám đầy quần áo, rắc mịn màng lên tóc, bay vào mũi, vào miệng, đó mới thật sự yêu nghề, xả thân vì đạo. Cứ gào lên mà giảng, chẳng hề băn khoăn về hai lá phổi. Mấy lần thấy đau cuống họng, ngậm vài viên ômai ngòn ngọt, dìu dịu lại nói rất say sưa. Có lúc mệt lử tự dặn mình đừng hăng quá, phí sức, nói nhỏ lại, ít đi, chậm rãi hơn, nhưng gặp chỗ tâm đắc, hứng lên, lại thao thao bất tuyệt. Chợt nhớ mình quá đà thì cổ họng đã sưng tấy lên rồi.
Lần này không thể xem thường, tôi phải đến bệnh viện. Phòng khám khá đông. Tôi lấy cuốn sách “Giáo dục con người chân chính” của Xu-khôm-lin-xki ra đọc, chờ đến phiên mình.
- Chào cô ạ - Một người mặc áo bơ - lu trắng, mang kính cận, nhìn tôi, cười:
- Thưa cô, cô khám bệnh ạ, cô có nhận ra em không?
Trong giây lát, những gương mặt học trò lần lượt hiện lên trong trí nhớ.
- A, Phương! – Tôi khẽ reo lên - Thế ra bây giờ em không tránh cô như dạo trước nữa.
- Dạ. Sau khi tốt nghiệp đại học Y khoa, em về làm việc bệnh viện này. Thưa cô, mời cô vào phòng khám.
         Hôm ấy, chính Phương đã khám bệnh cho tôi, đôi mắt em nheo lại, đăm chiêu dõi theo từng nhịp thở của tôi qua chiếc ống nghe. Sự bình tĩnh và thành thạo của Phương làm cho tôi hoàn toàn tin cậy. Tôi đâu còn là cô giáo của em như ngày nào trang nghiêm trên bục giảng. Tôi là bệnh nhân, còn em là thầy thuốc. Phương đưa tôi đến phòng khám tai mũi họng, khoa X quang chụp phổi. Cử chỉ của Phương khẩn trương, dứt khoát, tôi chỉ biết phục tùng như một cái máy. Sau đó, tôi đến ghế đá vườn hoa giữa bệnh viện ngồi chờ kết quả xét nghiệm. Một chiếc lá xanh non khẽ chạm vào tay tôi như một cử chỉ dịu dàng. Chẳng có cơn gió nào giật đi chiếc lá như trong truyện của O. Henry. Vây quanh tôi là muôn nghìn con mắt lá, tràn trề hy vọng. Ngồi ở vườn hoa tôi có thể nhìn toàn cảnh bệnh viện. Một chiếc cáng đưa một bệnh nhân vừa chết xuống Nhà vĩnh biệt, những tiếng khóc dữ dội đi theo. Một anh thanh niên ngồi ở ghế đá bên cạnh nở một nụ cười sung sướng khi có người đến báo tin vợ anh vừa sinh con trai đầu lòng. Ở đây sự sống và cái chết diễn ra trong khoảnh khắc. Nếu có khi nào ta đứng trong khoảnh khắc ấy sẽ cảm nhận sâu sắc hơn hạnh phúc và khổ đau. Những người thầy thuốc là những chiến sĩ gan góc, họ đang chiến đấu âm thầm, giành lại sự sống, niềm hạnh phúc cho con người, mà sao bây giờ tôi mới thấm thía điều này. Phải chăng, chỉ lúc nào ta là bệnh nhân, bị nỗi đau thể xác dày vò, ta mới suy nghĩ về công lao của người thầy thuốc?
          Chị bạn tôi là bác sĩ phàn nàn rằng “nghề Y khổ sở lắm. Mổ bụng người, cắt cả khúc ruột thừa, mà tiền bồi dưỡng không bằng tiền trả cho anh thợ ngồi ở đầu đường vá cái ruột xe”. Ồ, thế thì nghề dạy học của tôi có hơn gì? Tiền bồi dưỡng cho một giờ dạy học ngoài tiêu chuẩn, gọi là giờ phụ trội, chỉ mua được một quả chanh. những chuyện như thế thật vô cùng, làm sao có thể ghi hết bằng vài trang truyện? Có điều là tôi, chị và tất cả mọi người vẫn sống, vẫn làm việc. Chúng ta là những trí thức không thể lạc quan theo kiểu A-Q nhưng chắc chắn còn có một sức mạnh vô hình nào quyết định sự sống của ta. Bát cơm, manh áo, chẳng đơn giản chút nào, nó làm ta chóng mặt. Nhưng đáng sợ hơn khi trái tim ngủ yên, bộ óc ngủ yên…
       Có những lúc tôi tưởng mình sắp ngã xuống giữa bục gíảng cao và vững chãi như cái điểm tựa kia. Nhưng rồi lòng tự trọng đã buộc tôi phải đứng lên với một tư thế đàng hoàng. Mỗi giờ dạy thất bại khiến tôi đau đớn hơn cả nỗi đau thể xác. Mỗi một giờ dạy thành công thì niềm hạnh phúc ùa đến ngập tràn, như được hồi sinh. có khác gì niềm vui của người thầy thuốc giành lại sự sống cho người bệnh từ tay thần chết…
      Có lẽ tôi sẽ còn nghĩ ngợi miên man nếu Phương chưa trở lại. Em cầm trong tay tấm phim to bằng trang giấy học sinh. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy một phần cơ thể của mình trên hình ảnh, hồi hộp, lo âu. Chỉ một lời nói của Phương lúc này là quyết định phần đời còn lại của tôi. Nếu tôi bị lao phổi có nghĩa là tôi phải vĩnh viễn rời xa bục giảng.
Phương giơ tấm phim lên, chỉ vào từng vùng sáng tối giải thích:
- Thưa cô, kết quả xét nghiệm cho thấy tình trạng sức khỏe của cô hiện thời không đáng lo ngại. Không có dấu hiệu bệnh nguy hiểm. Cô chỉ bị yếu phổi. Hiện tượng ho ra máu là do viêm họng, xung huyết. Cô cần được nghỉ ngơi ít ngày và sử dụng thuốc theo chỉ dẫn, nếu thấy trong người còn mệt cô trở lại đây.
Tôi run run đón lấy tấm phim từ tay Phương, khẽ nói “cám ơn em” mà nỗi xúc động như muốn vỡ òa.
        Phương tiễn tôi ra cổng bệnh viện. Quãng đường ngắn không cho phép cô trò nhắc nhiều về kỷ niệm, nhưng hình ảnh cậu học trò mặc chiếc áo vá nhiều miếng to, đạp xích lô và căn nhà chật chội trong hẻm hiển hiện trong tâm trí tôi. Sực nhớ điều gì tôi hỏi:
- Hai em của Phương thế nào?
- Dạ, tốt nghiệp đại học hết cả rồi cô ạ. Một đứa Bách khoa, một đứa kinh tế.
- Ôi trời ! Giỏi quá. Làm thế nào mà nuôi nhau ăn học?
- Dạ, cũng tự lao động kiếm sống thôi ạ. Chật vật, gian nan lắm, nhưng rồi cũng qua.
- Em làm cô bất ngờ quá đấy Phương ạ. Sự thành đạt của các em là bài học làm người.  
- Em vẫn nhớ, khi giảng bài, cô thường nói: Hạnh phúc chỉ có thể đạt được bằng nghị lực vươn lên không ngừng.
Tôi tin Phương thành thật, vì em nói điều đó sau những trải nghiệm của chính cuộc đời mình
           Chia tay Phương, tôi ra khỏi bệnh viện trong trạng thái nhẹ nhõm như chưa từng đau ốm. Phần vì Phương đã cho tôi biết tôi không bị lao phổi, nhưng lý do quan trọng hơn khiến tôi trở nên khỏe khoắn là vì tôi vừa được chứng kiến “thành quả” của mình. Người thầy giáo thường mang tâm sự buồn vì nghề dạy học vất vả, âm thầm nhưng chẳng bao giờ được nhìn thấy “sản phẩm”. Thì đây, sản phẩm của nghề dạy học là những con người, những thầy thuốc, kỹ sư, nghệ sĩ, nhà kinh tế, nhà lãnh đạo…Tôi sung sướng nhận ra, với tôi, không có chỗ đứng nào tốt đẹp hơn chỗ đứng trên bục giảng.

Lê Khánh Mai

8 thg 1, 2019

LẦN ĐẦU XEM THIÊN TÁNG


           Con người sống trên đời, dù giàu sang hay nghèo đói, dù già hay trẻ, dù khỏe mạnh hay ốm đau, khi đã đến lúc hết thọ mệnh thì mới chợt nhận ra, cả đời này không mang theo được điều gì…


alt
Đàn kền kền vỗ cánh thăng thiên, gió thổi, cát bay,
 bụi mịt mờ, thân xác thịt hòa tan vào hư vô. 
                                                  (Ảnh: Onedio)
Đời người dài hay ngắn cũng chỉ có trăm năm. Có người nói “chết là hết”, lại có người cho rằng chết là sự khởi đầu cho một cuộc sống mới. Với người dân Tây Tạng, cái chết đơn giản là linh hồn đã rời khỏi thể xác, những gì còn lại nơi thế gian chỉ là một thân xác trống rỗng, vô hồn.
Người dân Tây Tạng coi chim kền kền là một linh vật thiêng liêng, họ tôn kính gọi chúng là “Thánh đại bàng”. Bởi vậy thay vì chôn cất người chết trong lòng đất, họ sẽ đưa thi thể lên núi làm mồi cho kền kền. Tập tục này được gọi là “thiên táng”, hay “điểu táng”.
Có người cho rằng thiên táng là tập tục rùng rợn và đáng sợ. Nhưng kỳ thực, đằng sau đó có rất nhiều ý nghĩa sâu xa, khiến người ta thêm chiêm nghiệm về kiếp người, kiếp nhân sinh.

Lần đầu tiên xem thiên táng, không có sợ hãi, chỉ có nhìn thấu một kiếp người

Ngày hôm ấy, nhìn các vị thầy thiên táng cầm cây chùy nện xuống, đầu óc tôi bỗng hoàn toàn trống rỗng, trong đầu não không còn lại điều gì.
Lần đầu tiên chứng kiến quá trình ấy, thấy xác người nằm đó giữa đất đá núi đồi, giữa phong ba nhật nguyệt, phó mặc tất cả cho bầy kền kền háu đói, không hiểu sao nước mắt tôi cứ không ngừng tuôn rơi.

Đây chính là kiếp người. Dẫu họ là ai, giàu có hay nghèo khổ, cao sang hay hèn mọn, dẫu một đời đã trải qua chuyện gì, những điều tốt đẹp, những mộng ảo hư vinh, những nỗi buồn đau khổ, cũng không kể thân phận, giới tính, hay tuổi tác, thì đến lúc nhắm mắt xuôi tay, tất cả đều cùng chung một kết cục: Đàn kền kền vỗ cánh thăng thiên, gió thổi, cát bay, bụi mịt mờ, thân xác thịt hòa tan vào hư vô.

alt
Chim kền kền lại được coi là một linh vật thiêng liêng,
 được người dân Tây Tạng tôn kính gọi là “Thánh đại bàng”.
                                                                    (Ảnh: Dailymail)
Không phải tất cả những ai xem thiên táng đều có thể chịu đựng được khi chứng kiến cảnh từng bộ phận của thi thể trước mặt trở thành miếng mồi ngon cho bầy kền kền hoang dại. Tấm thân xác mà ta yêu quý, gương mặt kiều diễm ta đã từng say đắm, chấp trước cả một đời này, tranh tranh đấu đấu, giận giận hờn hờn, đến cuối cùng sẽ chẳng còn lại gì.
Điều ấy cũng giống như đứa trẻ thơ chưa từng nhìn thấy hổ cho rằng con hổ đáng yêu như một chú mèo con. Nhưng khi thật sự nhìn thấy hổ rồi, bao nhiêu ảo tưởng lập tức vụt tan biến.
Chỉ đến khi xem thiên táng, tôi mới nhận ra rằng: Một đời người mà chúng ta đã thấy, từ đàn ông cho đến phụ nữ, từ giàu sang cho đến nghèo hèn, từ em bé sơ sinh cho đến bậc lão niên tóc bạc da mồi, kết cục đều là như nhau.
Bạn yêu say đắm một chàng trai hoặc một cô gái, khi nhìn thấy cảnh tượng này sẽ thấy, tình yêu kia thật nhạt nhẽo và đáng cười biết bao. Bởi vì không kể họ là đẹp hay xấu, thân phận tôn quý hay bần tiện, cuối cùng đều phải trút bỏ hết đặt ở đó.

Đời người chẳng qua chỉ như vậy mà thôi, bao nhiêu hoài bão, bao nhiêu ước vọng, bao nhiêu đau khổ, bao nhiêu truy cầu… đều như gió cát bay đi

Chứng kiến khoảnh khắc tan biến của một kiếp người, tôi không có cảm giác, không thấy có điều gì đáng sợ, cũng không có gì đáng phải ghét bỏ. Trước mắt tôi, hết thảy đều là những tấm thân trần trụi, nên chẳng có gì đáng để ảo tưởng. Hết thảy đều trực tiếp đặt ở trước mắt như vậy, đây chính là kết quả của một kiếp sống này.
Rời khỏi bãi thiên táng về đến Phật học viện, nhìn thấy con người ở đó, không kể nam giới hay phụ nữ, xinh đẹp hay xấu xí, tất cả đều như nhau trong mắt tôi. Những lúc nhìn người mà không có phân biệt nam nữ, cũng không phân biệt già trẻ, sẽ cảm thấy thân người thật sự giống như cỗ máy vậy.

Sau khi lộ trình thiên táng kết thúc, mối quan hệ của tôi với chồng đã thay đổi

Tôi và chồng kết hôn đã 10 năm rồi, vậy mà tôi chưa từng làm tròn trách nhiệm của một người vợ, trên mọi phương diện đều luôn xảy ra mâu thuẫn với anh ấy.
Anh là người hiền hoà, điềm tĩnh, luôn quan tâm và chăm sóc cho tôi. Vậy mà tôi đã không trân trọng điều đó, lúc nào cũng ích kỷ, đòi hỏi, chỉ để ý đến bản thân mà không bao giờ nghĩ đến cảm nhận của anh ấy.
Có lần tâm trạng không thoải mái, tôi đã cãi vã với anh và rời khỏi nhà suốt một khoảng thời gian. Thậm chí sau khi đã gây ra vô số sai lầm, tôi cũng không chính thức nói lời xin lỗi anh. Nếu như đổi lại là tôi, với tính cách trước đây của mình, tôi sẽ kiên quyết đòi ly hôn để kết thúc mọi chuyện.
Khi ở Tây Tạng, tôi đã có lần điện thoại cho chồng để xin lỗi anh, nhưng lời chưa lên đến miệng mà cổ họng đã nấc lên nghẹn ngào.alt
Khi xem thiên táng chúng ta mới nhận ra rằng:
 “Một đời người mà chúng ta thấy kết cục cuối cùng đều sẽ như nhau”.
                                                                                               (Ảnh: Wikipedia)
Trước đây anh luôn nói với tôi rằng: “Em là người học Phật, nhưng thực ra anh gần Phật hơn em”, bây giờ tôi mới thật sự hiểu rằng anh đã đúng.
Thật ra, tu Phật không nhất định là phải đi vào trong núi sâu rừng già, cũng không nhất định phải ngày ngày trì chú niệm kinh. Xét đến cùng thì chỉ có một trạng thái “thanh tịnh”, mang theo chánh tri kiến trong từng lời nói và hành động thì mới là tu Phật thật sự.
Những lúc đối diện với các tình huống ngoại cảnh khác nhau, nếu có thể bảo trì được trạng thái hòa ái từ bi, giữ vững sự thanh tịnh trong tâm, không bị hoàn cảnh bên ngoài tác động, thì đó chính là tu hành.
Dùng lời của một vị sư huynh thì chính là: Vui vẻ với nghiệp cũ, không tạo thêm nghiệp mới, đây là điều chúng ta cần làm.

Tất cả đều nằm ở chuyển biến quan niệm

Lần này quay trở về nhà, tôi đã có đủ dũng khí đối diện với chồng để nói lời xin lỗi. Tôi học Phật đã biết bao nhiêu năm, vậy mà giờ đây Phật đường mới trở thành Phật đường thật sự.
Tối hôm đó, chồng tôi nói, chúng ta đã ở bên nhau lâu như vậy rồi, nhưng đây là lần đầu tiên anh cảm thấy tính cách của tôi thật sự thay đổi. Có lẽ đó là bởi cuối cùng tôi đã nghiêm túc nhìn lại bản thân mình.

Giống như lời một vị thượng sư từng nói:
 “Nếu như chuyện thế gian bạn cũng không thể xử lý tốt, thì nói gì đến con đường giải thoát đây?”.
Có một vị sư huynh từng khuyên tôi rằng: 
“Là một Phật tử, thì cho dù chồng bạn có thật sự ngoại tình đi chăng nữa, cũng đừng nên nghĩ đến chuyện ly hôn. Bạn cũng không cần phải khóc lóc, không cần phải làm điều ầm ĩ, mà hãy bình thản chờ đợi đến khi duyên phận tự nhiên kết thúc. Nếu như bạn cố chấp làm chuyện gì đó, thì rất có thể điều ấy sẽ tạo nên nhân quả mới, rất dễ lại tạo thêm nghiệp nữa”.

Ngàn lời khuyên nhủ, cuối cùng vẫn là câu nói đó: Vui vẻ với nghiệp cũ, chớ tạo thêm nghiệp mới, mọi chuyện là giải thoát, giải thoát trong kiếp này

Ý nghĩa câu trên vốn không phải là “một người có hai bộ mặt”, mà là nhân quả luân hồi: Tôi không bi luỵ vì bạn, tôi cũng không hận bạn, tôi càng không oán trách bạn.
Chúng ta đến thế gian là cô độc một mình, khi chết cũng là một mình rời đi, cửa ải sinh tử, đều là tự thân một mình chúng ta.
Không phải là vợ hay chồng của chúng ta không đúng, cũng không phải là người nhà hay bạn bè của chúng ta không đúng. Thế gian này vốn không có đúng và sai, mà chỉ có nhân và quả.
Là bản thân chúng ta đã sai, bởi tâm chúng ta không thanh tịnh, bởi chúng ta không có được trí huệ, đã bị những vọng niệm điên đảo che lấp mất bản tính thuần thiện ban sơ.
Có người nói rằng, ai có phúc báo được thiên táng sẽ có thể kết duyên với bầu trời. Còn tôi thì nghĩ, người đã khuất cần trút bỏ thân xác phàm tục, còn người đang sống thì hãy trút bỏ những dính mắc truy cầu nơi người thường, có như vậy mới có thể kết duyên với bầu trời…
Thiện Sinh

6 thg 1, 2019

CÓ KIẾP SAU KHÔNG ? - Bài viết thật hay nên đọc

Trong hình ảnh có thể có: văn bản
Bạn hỏi mình : 
_Có kiếp trước hay không? Sao mỗi con người sanh ra lại khác nhau đến thế? Có kẻ đẹp kẻ xấu. Có người khôn người ngu. Có đứa sang đứa hèn.
Nhưng bạn ơi, xấu - đẹp, khôn - ngu, sang - hèn ... là do bạn nhìn nó như vậy.Chứ bản thân mỗi người đều là mỗi tuyệt tác đấy thôi.
Máu ai cũng đỏ. Nước mắt ai cũng trong. Trái tim ai cũng đập.
Sự phân biệt đến do bạn nhìn như vậy.
Bạn lại hỏi mình :
_ Có kiếp sau hay không?
Mình xin hỏi lại : Bạn cần kiếp sau để làm gì?
_Để thấy người sống thiện được đền đáp,người tội lỗi bị dầu sôi, người tu đạo được giải thoát............
Nhưng bạn ơi, đâu cần tới kiếp sau.
Nhân quả nhãn tiền.
Chỉ do bạn không thấy.
Bạn có bao giờ nhìn sâu vào cuộc sống.
Người có lòng Từ, khuôn mặt sẽ dịu nhẹ bao dung, vòng tay sẽ ân cần rộng mở.
Kẻ thủ ác, trong tim chứa đầy lửa dữ. Tự đốt mình, đâu cần địa ngục xa xôi. Đôi mắt láo liên, hằn những đường gân máu. Luôn cau mày, luôn nhức nhối thân tâm.
Ai xức nước hoa, người sẽ thoang thoảng hương thơm.
Trái tim ai đẹp sẽ lung linh như vầng trăng ấy.
Và bạn ơi, phút giây này hạnh phúc.
Được mỉm cười, được chiêm ngắm đổi thay.
Tìm cầu chi nữa quá khứ vị lai.
Chẳng nơi nào đẹp như bây giờ hiện tại.
Cành sen trắng đang rưng rưng trong nắng.
Bụt mỉm cười lấp lánh đoá Vô Ưu.
" Đừng bao giờ giữ lại một cái gì mà chờ cơ hội đặc biệt cả. Mỗi ngày sống đã là một cơ hội đặc biệt rồi!"
Tôi suy đi nghĩ lại câu nói này, và nó đã thay đổi cuộc đời tôi.
Hiện nay tôi đọc sách nhiều hơn trước và bớt dọn dẹp nhà cửa.
Tôi ngồi trước mái hiên mà ngắm cảnh chứ không buồn để ý đến cỏ dại mọc trong vườn.
Tôi dành nhiều thì giờ cho gia đình và bạn hữu hơn là cho công việc.
Tôi hiểu rằng cuộc đời là những cảm nghiệm mình cần phải nếm.
Từ ngày ấy, tôi không còn cất giữ một cái gì nữa.
Tôi đem bộ ly pha lê ra sử dụng mỗi ngày; tôi mặc áo mới để đi siêu thị, nếu mình bỗng thấy thích.
Tôi không cần dành nước hoa hảo hạng cho những ngày đại lễ, tôi xức nước hoa khi nào mình thấy thích.
Những cụm từ như “một ngày gần đây” và “hôm nào” đang bị loại khỏi vốn từ vựng của tôi
Điều gì đáng bỏ công, thì tôi muốn xem, muốn nghe, muốn làm ngay bây giờ.
Tôi không biết chắc là vợ của bạn tôi hẳn sẽ làm gì nếu cô ấy biết trước rằng mai đây mình không còn sống nữa (một ngày mai mà tất cả chúng ta xem thường)
Tôi nghĩ rằng cô ấy hẳn sẽ mời mọi người trong gia đình, mời bạn bè thân thích đến.
Có thể cô sẽ điện cho vài người bạn cũ và làm hòa hay xin lỗi về một chuyện bất hòa trước đây. Tôi đoán rằng cô ấy sẽ đi ăn các món Tàu (vì cô rất thích ăn đồ Tàu!)
Chính những chuyện vặt vãnh mà tôi chưa làm khiến cho tôi áy náy, nếu tôi biết rằng thì giờ tôi còn rất có hạn.
Tôi sẽ rất áy náy vì không đi thăm một vài người bạn mình cần phải gặp mà cứ hẹn lần hồi.
Áy náy vì không nói thường hơn với những người thân của mình rằng mình yêu thương họ.
Áy náy vì chưa viết những lá thư mà mình dự định ‘hôm nào’ sẽ viết.
Giờ đây, tôi không chần chờ gì nữa, tôi không hẹn lại và không cất giữ điều gì có thể đem lại niềm vui và nụ cười cho cuộc sống chúng tôi.
Tôi tự nhủ rằng mỗi ngày là một ngày đặc biệt. Mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút đều đặc biệt cả.
................................................................................................
Nếu bạn nhận được từ ai bài viết này, ấy là vì có một ai muốn điều hay cho bạn, và vì bạn cũng có quanh mình những người bạn quý yêu.
Nếu bạn quá bận đến độ không thể dành ra vài phút gửi đến cho ai khác và tự nhủ: “ mai mốt tôi sẽ gửi” thì mai mốt đó có thể là một ngày thật xa hoặc là bạn không bao giờ gửi được.
......................................................................................................................................................................................
Bình luận

28 thg 12, 2018

CHƠI BÀI TỔ TÔM VÀ ĐÁNH CHẮN

 CHƠI BÀI TỔ TÔM     

                  Làm trai biết đánh Tổ Tôm 
          Uống chè mạn hảo, xem nôm Thuý Kiều   


Chơi bài tổ tôm một thú chơi tao nhã

Chơi bài Tổ tôm là thú chơi đã có từ lâu đời của người Việt Nam. Lối chơi này được du nhập từ Trung Hoa vào ta rồi dần dần trở nên Việt Nam hóa, được người xứ ta yêu mến bởi đây là một trò chơi trí tuệ, tao nhã, lại rất bài bản và không có nhiều yếu tố may rủi như một số trò chơi khác. Bởi thế, nó được dân gian coi như thú chơi tập thể, kể cả việc dùng người thay cho con bài hoặc quân cờ. Và vì vậy, chơi Tổ tôm đã góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân ta, nó khác hoàn toàn với lối chơi cờ bạc đỏ đen của những kẻ xấu đã và đang làm vẩn đục xã hội.
Lối chơi Tổ tôm phong phú và hấp dẫn giúp rèn luyện trí óc và sức bền tinh thần, có cao thấp rõ ràng và sau cùng, thú chơi Tổ tôm đã được đi vào văn chương cùng ngôn ngữ dân tộc. Nếu cờ Tướng có bài thơ Đánh Cờ Người của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, thì Tổ Tôm có loạt bài Phú Tổ Tôm (Văn Đàn Bảo giám) với các tác giả Nguyễn Văn Vĩnh, Tú Xương, Nguyễn Công Trứ… Những cụm từ “Gàn Bát Sách”, “Phỗng tay trên”, “Một ly Ông Cụ", “Lính Cửu Vạn”… của đời thường đã được lấy ra từ ngôn ngữ của Tổ Tôm

Xuất xứ của bài Tổ tôm
Tổ tôm được đi vào nhiều văn thơ ca dao, tục ngữ Việt Nam và được xem là môn giải trí giân dan được yêu thích nhất. Người Việt xưa thường nhìn vào lối chơi bài tổ tôm của một người và đánh giá tác phong quân tử, do trong luật chơi bài thể hiện rõ nét được chiến lược của và đề cao trí thông minh của người chơi, do đó đa số người chơi tổ tôm là nam giới. Bài tổ tôm còn được gọi là Tụ tam tức là dùng để chỉ Văn, Sách, Vạn trong chơi bài. Bài tổ tôm được người Việt chơi từ rất nhiều năm trước và đến ngày nay thì cũng còn rất nhiều trai làng yêu thích trò đánh bài này và thường được chơi trong những dịp Lễ, Tết. Cũng có tài liệu nói rằng Tổ Tôm xuất phát từ Nhật Bản do các hình vẽ đều là hình vẽ theo kiểu của Nhật, theo lối tranh mộc bản (mokuhan) đơn giản và tất cả các nhân vật đều mặc "Kimono" thời Edo (trước khi Nhật hoàng Minh Trị lên ngôi và trị vì 1868-1912), trong số này có 18 hình đàn ông (có 8 người bó chân), 4 hình phụ nữ và 4 hình trẻ em. Các hình cá chép, trái đào, thành, thuyền cũng là những hình ảnh rất Nhật.Tuy nhiên đây chỉ là sự phỏng đoán mà chưa có bất kỳ tài liệu nào chứng minh nguồn gốc xuất xứ của trò chơi này là từ Nhật Bản

Hướng dẫn chơi bài tổ tôm

Bộ bài tổ tôm gồm có 120 lá bài, những lá bài được làm từ bìa cứng có mặt sau giống hệt nhau để tránh người chơi phân biệt bài của nhau. Tổng cộng quân bài có 40 quân mỗi loại Vạn, Văn và Sách, mỗi lá bài đều được viết bằng chữ Nho (không phải chữ Tàu đâu nhé bạn), kiểu chữ Nho hiện nay không còn thịnh hành nên người chơi có thể học theo người xưa cách ghi nhớ là “Vạn vuông, Văn chéo và Sách thì loằng ngoằng” nhé, theo câu này thì bạn có thể dễ dàng hình dung, nói chung mỗi quân bài được viết Vạn (萬), Văn (文), Sách (索) như vậy đây này,
Cách chơi, luật chơi tổ tôm dành cho người mới - Hình 2

Luật chơi Bài Tổ tôm


Trong khi chơi Tổ tôm, những người có học, hay chữ còn thả thơ, lẩy Kiều... khi đánh 1 quân bài. Tỷ như khi đánh quân Ngũ sách (có vẽ hình 1 chiếc thuyền buồm ) thì đọc:
Thuyền tình vừa ghé tới nơi
Thì đà trâm gẫy, bình rơi mất rồi

Hay khi đánh quân bài Nhị vạn (có vẽ hình 1 cành đào) thì đọc:
Dấn thân đến bước lạc loài
Nhị đào thà bẻ cho người tình chung

Người chơi còn tâm đắc kể cho nhau nghe giai thoại về Cao Bá Quát đánh tổ tôm với vua như sau:
Chuyện kể rằng vì mến tài văn chương của Thánh Quát nên vua Tự Đức hay cho gọi Quát vào cung hầu tổ tôm, nói chuyện văn thơ. Một bữa, khi quân chi chi vừa dậy; vua vỗ đùi hô to:"Chi nẩy!".Các quan trong hội tổ tôm đều kinh hãi nhận ra vua hô nhầm. (Theo luật Tổ Tôm :-Ù chi nẩy chỉ xảy ra khi duy nhất bài chỉ chờ đúng 1 tiếng chi chi thôi. Nhưng lần này, bài của vua còn chờ cả tiếng Ngũ sách nữa. Đúng ra, vua chỉ được hô :"Có lèo" thôi). Mọi người biết vậy nhưng không ai dám bắt lỗi vua. Duy chỉ có Cao Bá Quát vốn tính khảng khái quyết chỉ ra lỗi bắt vua phải:"Chèo đò"là lỗi ù nhỏ hô to (Một lỗi nặng trong luật Tổ Tôm là bị xóa hết điểm đã được từ đầu hội và cả ván ù tiếp theo nữa mới được trả đò. Ví như lỗi thẻ đỏ trong bóng đá). 
        Tất nhiên, trước sự bình đẳng trong bài bạc, vua phải chấp hành nhưng trong bụng không vui.Ít lâu sau, Quát làm chủ khảo bị phạm trường quy tại Quy Nhơn đã để cho 1 thí sinh giỏi nhưng bài bị phạm húy được ưu ái chấm đỗ. Lỗi ấy lẽ ra chỉ bị tội đồ (nọc ra đánh rồi đày đi biệt xứ). Nhưng Cao Bá Quát bị tống ngục rồi xử trảm. Ngồi trong ngục, Quát dò lại nguyên nhân chính dẫn đến mình bị tăng án quá nặng là bài Tổ Tôm ngày nào hầu vua và ghi lại như sau:

Vạn tam đáo cửu, song lục thất
Sách bát hoàn tam ngũ chí không
Văn tam tứ tứ dư lục thất
Độc cụ vô thang, khởi binh đao

Trừ 3 từ cuối là nguyên nhân việc chém chết mình còn cả bài thơ là bài Tổ Tôm của vua hôm đó:
- Hàng vạn có từ tam vạn đến cửu vạn, trong đó có 2 quân lục vạn và thất vạn
- Hàng sách có từ bát sách đến tam sách nhưng không có ngũ sách
- Hàng văn có tam văn, 2 quân tứ văn và thừa ra lục thất văn
- Hàng yêu có 1 quân ông cụ, không có thang thang
Thế chẳng phải là Tổ Tôm quá độc đoán và phong kiến sao? Các thông tin trên tôi sưu tầm được từ Đại tá Đặng Ngọc Lâm-Hiệu trưởng Trường Văn hóa Quân khu II khi tôi còn tại ngũ làm công tác giảng dạy ở đó. Số là những năm 80, Ban Giám hiệu trường VHQKII có Trung tá Hoàng Trung Hiếu - Hiệu phó nghỉ hưu làm thiếu mất 1 chân trong hội Tổ Tôm của họ, thế là tôi được huấn luyện để thế vào chân ấy. Nhằm gây hứng thú cho tôi học luật, thủ trưởng bèn kể những cái hay, cái thú của Tổ Tôm. Nó rất thú vị và chặt chẽ kể như các vị quan tâm xem luật của nó sau đây.

Giới thiệu quân bài Tổ Tôm

Kết quả hình ảnh cho chÆ¡i tổ tôm là gì Một cỗ quân bài Tổ Tôm gồm có 120 quân bài. Nhưng thực ra chỉ gồm 30 loại vì mỗi loại có 4 quân bài giống nhau.Các quân bài được ghi tên bằng chữ Hán, viết cách điệu theo lối thảo (Cách viết thêm râu, thêm nét trông như rễ búi cỏ). Tên 1 quân bài được cấu thành bởi 2 chữ ghép lại: gồm hoa và số.
- Trước hết nói về hoa:gồm có 3 hoa là Văn, Vạn, Sách
- Về số gồm 9 số từ nhất, nhị, tam... đến cửu.
Hai thành tố trên ghép lại thành 27 loại quân bài từ nhất văn, nhị văn, tam văn... đến bát sách, cửu sách.
Ngoài ra còn có 3 loại quân bài đặc biết gọi là yêu: Đó là: 
-Thang thang: có hình vẽ người đàn bà cho con bú
- Ông cụ :có hình người già chống gậy
- Chi chi:có hình người cầm 2 quả chùy.
Tên gọi các quân bài Tổ Tôm từ trái qua phải:
- hàng thứ nhất: Ông Cụ, Thang Thang, Chi Chi (hàng yêu); Nhất Vạn, Nhất Sách, Nhất Văn; Nhị Vạn, Nhị Sách, Nhị Văn; Tam Vạn, Tam Sách, Tam Văn.
- hàng thứ nhì: Tứ Vạn, Tứ Sách, Tứ Văn; Ngũ Vạn, Ngũ Sách, Ngũ Văn; Lục Vạn, Lục Sách, Lục Văn; Thất Vạn, Thất Sách, Thất Văn.
- hàng thứ ba: Bát Vạn, Bách Sách, Bát Văn; Cửu Vạn, Cửu Sách, Cửu Văn.
- Theo tiếng Hán Việt thì Nhất = Một, Nhị = Hai, Tam = Ba,...Cửu = Chín. Những cây Yêu như Ông Cụ, Thang Thang, Chi Chi được xem như tương đương với các cây Nhất.

Các khái niệm của bài Tổ tôm

1-Phu:
 là 1 bộ quân bài thường tập hợp từ 3 quân bài trở lên được sắp xếp theo 3 quy tắc sau đây:
_Phu dọc: gồm các quân bài cùng hoa nhưng có số liên tiếp.
Ví dụ như:
- Nhất sách, nhị sách, tam sách....
- Tứ văn, ngũ văn, lục văn, thất văn...
- Ngũ vạn, lục vạn, thất vạn, bát vạn, cửu vạn..
_Phu ngang (còn gọi là phu bí):Gồm các quân bài cùng số nhưng khác hoa.
VD:
- Nhị văn, nhị vạn, nhị sách
- Tứ văn, tứ vạn, tứ vạn, tứ sách..
- Lục văn, lục vạn, lục sách, lục sách...
_ Các quân yêu cũng là phu
2-Khàn: 
Gồm 3 quân bài giống nhau cùng loại nhận được khi chia bài
3-Thiên khai: 
gồm 4 quân bài cùng loại được khi chia bài
4-Lưng:
 là phu đặc biệt được quy định như sau:
-Có đủ 3 hoa nhưng tổng số hàng văn cao hơn so với số cuả hàng vạn sách bằng 10
- Cửu văn, nhất vạn, nhất sách
- Bát văn, nhị vạn, nhị sách
- Thất văn, tam vạn,tam sách (còn được gọi là tôm)
-Nhất + nhị + tam văn
-Cửu vạn, bát sách, chi chi (còn được gọi là lèo)
-Cửu vạn, cửu sách, thang thang
-Cửu sách, thang thang, ông lão
-Khàn
-Thiên khai
5. Cạ: 
Là 1 bộ thiếu 1 quân nữa mới thành phu (Quân thiếu ấy gọi là chờ). Tỷ dụ như:
- Nhất sách, tam sách (chờ nhị sách)
- Tứ vạn, lục vạn, thất vạn (chờ ngũ vạn)
- Cửu sách, thang thang (chờ cửu vạn,hoặc chờ ông cụ)
- Ngũ văn, lục văn, bát văn, cửu văn (chờ thất văn-Trường hợp chờ thành phu dọc 5 quân tương tự như thế này gọi là chờ xuyên 5 gian)
- Thất sách, thất sách (trường hợp chờ phỗng tương tự như thế này hoặc chờ 1 quân bài cuối cùng gọi là bạch thủ)
6.Bài chờ
:là bài có toàn bộ các quân đã vào phu gần hết chỉ còn 1 cạ cuối cùng để hoàn thành và có đủ 3 lưng
7.Bài thành:
 là bài có toàn bộ các quân bài đã vào phu và có đủ 3 lưng chỉ còn chờ quân sắp ra nằm trong các phu (gọi là chạm thành)
8.Bài ù:
 là bài hội của 2 điều kiện cần và đủ sau đây:
-Điều kiện cần: Toàn bộ các quân bài đã vào phu và có từ 3 lưng trở lên
-Điều kiện đủ: Quân bài vừa lên thì bài thành hoặc chạm thành như đã nói ở mục 6.7
9.Tôm: 
Như đã nói ở tiết 4.1
10.Lèo:
 Như đã nói ở tiết 4.3
11.Thông:
 là ván ù liên tiếp từ lần thứ 2 trở đi
12.Thập điều 
(còn gọi là thập hồng): Bài ù chỉ có 10 quân đỏ
13.Bạch định
-Bài ù chỉ toàn quân trắng
14.Kính cụ
-Bài ù chỉ có quân ông cụ là đỏ còn lại là quân trắng
15-Kính tứ cố:
 Bài ù chỉ có 4 quân ông cụ là đỏ còn lại là quân trắng
16.Chi nẩy:
 Bài ù khi chi chi ở nọc mới lên. Thêm điều kiện bài chỉ chờ 1 tiếng như đã nói ở mục Nhập môn.
CÁC QUY TẮC KHI CHƠI BÀI Tổ tôm
1. Số người chơi:
Một hội Tổ Tôm nhất thiết phải có 5 người chơi. Nếu thiếu sẽ không thành. Trường hợp bất đắc dĩ chỉ có 4 người chơi thì chỉ chơi tạm (gọi là bí tứ). Khi đó phải bỏ 1 phần bài sẽ mất hay.
2. Chia bài:
Vào hội, mọi người tôn trọng người cao tuổi nhất trong hội được mời rút 2 quân bài để tính tổng rồi chia đồng dư 10 nhằm chọn người chia bài (Tỷ dụ cụ rút được quân thất vạn và quân ngũ văn thì có tổng 12 chia 10 dư 2; sẽ đếm từ tay phải cụ (vì chơi tổ tôm theo thứ tự vòng tròn đến người thứ 2 sẽ được chia bài)
Bài được chia thành 6 phần theo vòng tròn và được úp sấp. Chia xong, người chia bốc 1 phần bất kỳ, rút ra 2 quân để tính phần bài cho mỗi người theo thứ tự. Sau đó phần bài đó được úp lên đĩa nọc.
3. Xếp bài trên tay:
Tùy cách xếp cho tiện việc đánh và theo dõi (thường xếp theo hình nan quạt. Quân yêu được xếp thụt xuống tâm, 2 quân giống nhau chồng và rút cao hơn cho dễ nhìn để "phỗng". Các quân đã và sắp thành phu xếp cạnh nhau) nhưng nhất thiết phải tuân theo quy tắc sau:
a-Khàn phải úp sấp xuống chiếu cho đến khi có quân thứ 4 ra mới dậy khàn. Trường hợp tính thấy lợi khi khàn kéo theo được 2 phu thì được để trên tay ,nhưng phải hô: "Có 1 khàn bất thực" và xin cho 1 chiếc chén úp sấp trước mặt để đánh dấu. Nếu có quân trong khàn ra phải hô: "Dậy khàn"và lật ngửa chén. Khi ù phải hô: "Bất thực 3 con (quân gì) ăn cả (nếu đã đánh đi thì hô:"Ăn 2 đánh 1"trả chén làng!". Nếu không sẽ bị phạt lỗi thiếu quân "Khê khàn".
b-Thiên khai: Phải úp sấp xuống chiếu nhưng khi thấy có người bắt đầu đánh quân bài đầu tiên sẽ hô "Thiên khai 4 quân (gì) đồng thời lật ngửa quân bài dưới chiếu lên.
c-Khi ăn quân có cùng loại thì phải hạ quân bài trên tay xuống chiếu kẻo phạm lỗi:"Treo tranh trái vỉ"
4. Xếp bài dưới chiếu:
-Khi mới bắt đầu chơi, phần chiếu trước mặt gồm có các khàn, thiên khai (nếu có như đã nói ở trên). Có thể úp các quân yêu xuống nếu thấy nhớ được.
-Khi ăn quân phải hạ các quân trên tay xuống theo phu. Trường hợp có quân trùng với quân được ăn phải xếp lên trên hoặc xuống dưới cùng kẻo phạm lỗi "Kẹp cổ"
5. Đánh bài:
-Trước khi đánh bài, việc đầu tiên phải làm đó là:"-Tiền điểm binh, hậu điểm bối" có nghĩa là đếm số quân bài xem có đủ 20 quân không (kẻo khi ù thừa hoặc thiếu quân sẽ bị phạt rất nặng) rồi mới đánh.
-Khi sắp ù phải xem có quân nào dư (bất thành phu) không ? Đã có đủ 3 lưng chưa? để tránh lỗi chèo đò.
-Đánh quân bài nào thấy có lợi (quân bài dư hoặc tính người dưới cửa không ăn được hoặc người khác không ù được....) cho người liền kề bên tay phải.
-Khi quân bài của người bên trái đánh cho nếu không ăn được thì hô: "-Xin 1 quân" để người phụ trách nọc rút cho quân khác. Nếu ăn được quân mới có quyền đánh còn không thì sẽ mất lượt.
6.Trường hợp ưu tiên (cướp cái):
-Phỗng: Khi thấy quân bài trùng với 2 quân bài trên tay, phải hô:"Phỗng" và được ăn không theo cửa (như trường hợp “chíu” trong đánh Chắn). Nếu trùng với khàn bất thực, phải hô: "-Phỗng tái kiến, trả chén làng" đồng thời hạ quân trên tay, ăn quân và lật ngửa chén.
Dậy khàn: Khi thấy quân bài thứ tư trùng với 3 quân bài đang úp khàn của mình phải hô:"Dậy khàn" đồng thời lật ngửa các quân bài úp khàn dưới chiếu lên kẻo mắc lỗi khê khàn.
Ù: Khi thấy quân bài vừa ra bất cứ là do người khác đánh hay là bốc dưới nọc lên ở cửa nào mà thỏa mãn điều kiện ở tiểu mục 8 thì phải hô:"Ù" và hạ bài.
7.Quy tắc hô ù:
-Chỉ được hô "Ù"khi các quân bài đều hạ hết xuống chiếu và đồng thời các quân khàn úp dưới chiếu đã được ngửa lật lên hết.(tránh bị lỗi thiếu quân). Khi bài ở tình trạng 6.3. thì chỉ được hô"-Xin làng cho xem quân....hoặc "Nhờ"
-Bài ù kèm theo cước sắc cũng hô kèm:
- Thông: có ván trước
- Có tôm, có lèo
- Bạch thủ (quân gì); xuyên 5 gian; thập hồng; bạch định...
- Kính cụ và tính tứ cố thì vừa hô vừa đưa 2 tay quân ông cụ ra giữa chiếu cho cả hội xem
- Chi nẩy vừa hô vừa vỗ đùi
NHỮNG ĐIỀU KIÊNG KỴ
Phong tục mỗi nơi có kiêng kỵ khác nhau,nhưng tôi thấy ở 2 địa phương Phú Thọ và Tuyên Quang có mấy điều kiêng kỵ giống nhau sau đây:
1. Hội tổ tôm trong đám cưới:
Gia chủ sẽ rất vui khi đầu hội có ù "Thập điều" vì cho là điềm may mắn cho đôi trẻ. Nhưng rất kiêng ù "Bạch định", nếu bạn thấy bài như thế phải đánh xén phu đi để ăn quân đỏ hoặc bỏ ù
2. Hội tổ tôm trong đám tang:
Kiêng ù "Kính tứ cố" và "Kính cụ". Nếu gặp phải xử lý, như kiêng ù "Bạch định" nói ở mục 1 trên đây.
KIỂM TRA VÁN BÀI
Tuân theo nguyên tắc"Tả hữu biên hành sự"Nghĩa là khi cso người ù thì trách nhiệm kiểm tả và chia bài ván sau là của 2 người ngồi 2 bên người vừa ù.Nội dung kiểm tra theo các tiêu chí sau:
1. Kiểm số quân: Đếm lại xem bài có thừa hoặc thiếu quân không (Đề phòng người chơi vô tình hay cố ý nhầm lẫn thừa hay thiếu bài. Nếu thiếu bị phạm lỗi "Chèo đò"
2. Điều kiện cần và đủ để ù
-Có quân bài nào bất thành phu không?
-Đủ số lưng theo quy định không?
3. Có bỏ ù không:
-Soát lại các quân bài mới ra gần đây có đủ điều kiện để ù không (Nhất là trường hợp bài chạm thành)
4. Kiểm tả quy tắc hô:
+Hô đã đúng lúc chưa? (Khi hạ hết bài xuống chiếu, lật hết các quân khàn, lấy quân chạm thành về....)
+Hô đúng cách chưa? Đã trả chén bất thực ,ăn mấy con? Đánh mấy con trong khàn hoặc bất thực thiên khai?
+Hô đúng cước sắc không? (tránh ù nhỏ hô to)
PHẠM LỖI
1. Chèo đò: là lỗi nặng nhất (Như thẻ đỏ) phải hủy bỏ toàn bộ điểm đã giành được từ đầu hội và ván đang ù. Ngoài ra ván ù tiếp theo cũng không được tính điểm (gọi là trả đò);không được tính là ván ù thông. Hình phạt bổ sung còn vẽ thêm 1 hình con thuyền cạnh tên người phạm lỗi để cảnh cáo (chỉ đến khi trả được đò mới xóa). Các vi phạm sau đậy sẽ bị phạt lỗi "Chèo đò"
-Thừa thiếu quân như đã nói ở tiết 1,6
-Bất thành phu, thiếu lưng
-Ù nhỏ, hô to
2-Đeo kính: là lỗi kỹ thuật nhỏ, không được tính điểm ván thắng hiện tại và không được hô thông ở ván ù tiếp theo. Bị vẽ hình 1 cái kính bên cạnh tên người phạm lỗi để nhắc nhở lần sau nhìn cho rõ.Lỗi này áp dụng cho các vi phạm sau:
-Treo tranh trái vỉ như đã nói ở tiết 3.3
-Kẹp cổ như đã nói ở mục 4
-Bỏ ù như đã nói ở tiết 6.3
TÍNH ĐIỂM THẮNG
Người có bài ù được coi là người thắng duy nhất trong ván bài và được tính điểm theo nhiều cách tùy mỗi nơi mỗi khác.Ví dụ như suông 2 dịch 1; suông 4 dịch 2....
Cách ghi điểm cũng có thể do thư ký cuộc chơi chép vào giấy hoặc có thể dùng đũa, hạt ngô, hạt lạc.....để nhớ điểm đều được. Thông thường quy định điểm thắng như sau:
.1-Ù suông (hay còn gọi là ù thường) không có cước sắc gì : 2 điểm
.2-Ù thông: có ván trước +1
.3-Có tôm +1
.4-Bạch thủ +1
.5-Xuyên 5 gian +1
.6-Có lèo +2
.7-Thập điều (Thập hồng) +3
.8-Kính cụ +6
.9-Bạch định +8
10-Kính tứ cố +10
Điểm 1 hội theo quy tắc suông 2 dịch 1 có tổng điểm bằng 25
Nếu theo quy tắc suông 4 dịch 2 thì tổng điểm là 50
Khi thấy trong tổng đạt >24 hoặc 48 thì tuyên bố kết thúc hội. Kiểm số điểm trong hội, ai là người có số điểm cao nhất là người thắng.

                                     ĐÁNH CHẮN 
Hình ảnh có liên quan
 

CHẮN : một lối chơi  ăn theo bài Tổ Tôm 
Chơi Tổ Tôm khá là khó, và cách biến hóa cũng nhiều nên thường được nam giới và người già chơi, thanh niên và phụ nữ thời xưa ít chơi. Cũng vì khó, nhưng thú vị, nên từ cách chơi Tổ Tôm đã sinh ra một cách chơi khác dễ hơn là "Chắn" dành cho thanh niên và phụ nữ.
Có hai cách chơi đánh chắn, trong dân gian gọi là Bí tứ : chơi chắn 4 người và Bí ngũ : chơi chắn 5 người. Mục đích của trò chơi này là làm tròn bài thông qua chắn và cạ cùng với việc ăn bài theo giá trị của các hàng quân mà bài của mỗi người có thể tiến tới ù.
Bộ bài Tổ Tôm sẽ bị bỏ bớt đi hàng Nhất và hàng Yêu (quân Thang Thang và Lão). Như vậy, bộ bài bây giờ chỉ còn 100 quân, gồm các quân có số Nhị, Tam, Tứ, Ngũ, Lục, Thất, Bát, Cửu (mỗi số đều có 3 hàng Vạn, Văn, Sách, mỗi hàng 4 quân) và Chi Chi (chính là hàng Nhất Văn, có 4 quân). Trong 100 quân có 20 lá bài đỏ (các quân Bát Sách, Bát Vạn, Cửu Sách, Cửu Vạn và Chi Chi) và 80 lá bài trắng (các quân bài còn lại).
Chắn : là hai lá bài giống hệt nhau cả về hàng lẫn số. Ví dụ : hai lá bài lục Vạn tạo thành 1 chắn lục Vạn, hai lá bài thất Sách tạo thành 1 chắn thất Sách.
Cạ : là hai lá bài giống nhau về số nhưng khác hàng. Ví dụ : hai lá bài tam Văn và tam Sách tạo thành cạ tam Văn-Sách.
Ba đầu : là ba lá bài cùng số nhưng khác hàng. Ví dụ : tam Văn, tam Sách, tam Vạn được gọi là ba đầu tam.
Cửa trì: là cửa ở bên tay phải người chơi. Đây là cửa người chơi được ưu tiên khi ăn quân và ù.
Tríu: Khi có một người nào đó đánh một quân, mà trên tay người chơi cùng đã có 3 quân cùng tên, cùng số thì người này có quyền lấy lá bài đó về và đánh trả lại một bài khác vào cửa đó. Trong trường hợp này quyền ưu tiên ăn quân ở cửa trì không áp dụng.
Thiên khai: trên bài có 4 quân giống nhau.
Ăn bòn: từ một chắn trên bài, tách ra, ăn thêm được hai chắn để dưới bài. Trường hợp, ăn thêm một chắn mà ù thì gọi là ù bòn.
Lá què : là những lá bài không thể xếp lại với nhau thành chắn hoặc cạ.
Tôm: Là một nhóm quân gồm thất văn, tam sách, tam vạn
Lèo: là một nhóm quân gồm cửu Vạn, bát Sách, Chi Chi
Ù bạch thủ: khi đã có 5 chắn, và ăn thêm được 1 chắn nữa để ù. Với lá bài chờ ù là Chi Chi, thì chỉ được chờ bạch thủ. Có nghĩa là khi ù, tính cả chắn ù, là 6 chắn và còn lại là 4 cạ.
Bạch định : là bài không có một quân đỏ nào.
Tám đỏ: khi ù, bài có 8 quân màu đỏ.
Thập thành : là khi ù, bài ù có 10 chắn.
Tôm : Là một nhóm quân gồm thất văn, tam sách, tam vạn.
Ù thông: khi ù ván thứ hai liên tiếp.
Hoa rơi cửa Phật : là trường hợp khi bài dưới chiếu có một chắn ngũ Vạn hoặc cạ ngũ trong có ngũ Vạn, người chơi lại bốc lên được lá bài nhị Vạn (hình cánh hoa đào) đúng ở cửa trì.
Hiện nay ở một vài địa phương phía Bắc vẫn còn chơi môn bài này.
Chơi đánh chắn, phải đủ bốn người (Mấy người máu me thiếu người vẫn chơi bí tam (Ba nguời) hay bí nhị (Hai người) có điều như thế chẳng có gì là hay nữa
Chỗ ngồi
Chơi chắn thường ngồi trên mặt phẳng , người chơi xếp bằng, thường ngồi trên chiếu . ở giữa có cái đĩa nông đặt quân Nọc cho dễ bốc. Hai người ngồi có vị trí đối mặt nhau gọi là chéo cánh .
Chéo cánh có ý nghĩa chung là không phải chia bài khi một trong hai người thắng “ Ù “Cửa ở bên tay phải người chơi. Đây là cửa người chơi được ưu tiên khi ăn quân và ù gọi là “ Cửa chì “ ngoại trừ khi quân ăn được bị người cửa khác “ Tríu “ đọc trệch là chíu hay chiếu cũng được.
Chia bài
Sau khi tráo bài , bộ bài được chia làm 5 phần bằng nhau. Một trong bốn người chơi chọn lấy một phần và nhặt mỗi phần trong 4 phần còn lại mỗi phần 1 lá bài gộp lại dùng để làm bài “ Nọc “
Phần nọc này để trong một cái đĩa , tâm điểm so với vị trí 4 người chơi.Lần chia bài đầu tiên ai chia cũng được nhưng có một thứ luật bất thành văn là người ít tuổi sẽ chia (để cho nhanh thường hai người cùng chia.) Sau ván chơi đầu tiên hai nguời kế bên người thắng “ Ù “ phải chia bài
Bắt cái
Bốn phần bài để vuông vắn ,người bắt cái lấy một quân bất kỳ trong phần nọc cho vào một trong 4 phần còn lại để bắt cái. Lá bài bắt cái lật lên có được đếm theo thứ tự theo kim đồng hồ tương ứng với số thứ tự trên lá bài.
Người có cái là người rơi vào số cuối cùng bài cái được chuyển cho người đó và các bài còn lại cũng phải thứ tự chuyển dịch theo chiều của bài cái. ( Thường không phải đếm vì đã sẵn công thức Nhất ngũ , cửu , chi . Nhị , lục tiến . Tứ , bát lùi . Tam thất chéo cánh )
Người bắt cái đầu tiên ai cũng được nhưng có một thứ luật bất thành văn là người lớn tuổi nhất sẽ là người bắt cái ván đầu tiên .Người có cái có 20 lá bài hơn 3 người cùng chơi 1 lá bài và là người ra bài trước.Lần bắt cái kế tiếp thuộc quyền người thắng “ Ù “
_______________________________________________________________
ĐỌC THÊM : 
Tổ Tôm Trong văn học Việt Nam
Trong văn học Việt Nam, trò chơi Tổ Tôm cũng được nhắc đến rất nhiều.
Phạm Duy Tốn với truyện ngắn "Sống chết mặc bay" trong chúng ta chắc nhiều người còn nhớ đoạn:
... Ngài quay vào hỏi thầy đề :
- Thầy bốc quân gì thế ?
- Dạ, bẩm con chưa bốc.
- Thì bốc đi chứ !
Thầy đề tay run cầm cập, thò vào đĩa nọc, rút một con bài, lật ngửa, xướng rằng :
- Chi chi !
Quan lớn vỗ tay xuống sập, kêu to :
- Ðây rồi !... Thế chứ lại !
Rồi ngài vội vàng xòe bài, miệng vừa cười vừa nói :
- Ù ! thông tôm, chi chi nẩy !... Ðiếu, mày ! ...
Tất nhiên trong khi đê vỡ, dân đen thì kêu khóc chạy loạn mà "quan phụ mẫu" vẫn còn mê say trong cơn Tổ Tôm thì coi dân như cỏ rác. Ở đây chỉ muốn nói lên cái thú vị của trò chơi.
Hay như Nguyễn Công Trứ. Lúc thiếu thời, Nguyễn Công Trứ đã từng được người đời liệt vào hàng các tay đổ bác có tiếng. Ông say mê bài bạc, trong khi thơ văn thì siêu quần bạt chúng. Trong cơn đen đỏ, ông thắng cũng nhiều mà thua chẳng ít. Một lần đi đánh tổ tôm bị thua rồi mang nợ. Chủ nợ là một ông già, đến đòi năm lần bảy lượt mà Nguyễn Công Trứ cũng vẫn không có tiền giả.
Sau ông lão đòi rát quá, Nguyễn Công Trứ đành phải đi lục lọi rương hòm xem có gì đáng giá để đem cầm đợ mà lấy tiền trang trải. Nhưng khốn thay, lục mãi mà vẫn chẳng khui ra được gì ngoài mấy quyển sách nát. Túng thế, Nguyễn Công Trứ mới đọc liều cho ông già một bài thơ để xin khất nợ. Thơ rằng:
Thân "bát văn" tôi đã xác vờ
Trong nhà còn biết "bán chi" giờ
Của trời cũng muốn "không thang" bắc
Lộc thánh còn mong "lục sách" chờ
Thiên tử "nhất văn" rồi chẳng thiếu
Nhân sinh "tam vạn" hãy còn thừa
Đã không "nhất sách" kêu chi nữa
"Ông lão" tha cho cũng được nhờ !

Nghe qua cả bài thấy thơ hay mà khéo quá, câu nào cũng có tên một quân bài Tổ Tôm, mà đồng thời lại nói lên được cái cảnh học trò kiết không tiền nên ông lão nghĩ thương tình và mến tài, bằng lòng cho Nguyễn Công Trứ khất nợ.
Nhà thơ "bình dân" Nguyễn Khuyến cũng đâu có thể bỏ qua trò chơi này trong văn thơ của ông:
Cũng chẳng giầu mà cũng chẳng sang
Chẳng gầy chẳng béo chỉ làng nhàng
Cờ đương giở cuộc không còn nước
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng
Mở miệng nói ra gàn bát sách
Mềm môi chén mãi tít cung thang
Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ

Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng

HOA HỌC TRÒ-Trời đất dành riêng tuổi học trò.Một loài hoa đỏ rất nên thơ...

HOA HỌC TRÒ-Trời đất dành riêng tuổi học trò.Một loài hoa đỏ rất nên thơ...
Mỗi năm hoa nở mùa thi đến.Chạnh nhớ trường xưa nhớ bạn bè .Nguyenuthang ..