28 thg 7, 2023

TÔI LÀ THẦY TƯỚNG SỐ

 

***

Người già, mấy ai bảy, tám chục tuổi còn thích xem tướng số. Đã đi quá nửa đời người, số mệnh thế nào, bản thân họ rõ nhất. Người như thế nào mới phải tìm đến bói toán? Đương nhiên, đều là những người thấy vận số mình đen đủi, thường gặp tai bay vạ gió, hoặc người đang bị ức chế, áy náy trong lòng do làm những việc trái với lương tâm.
Nắm được điểm này, các thầy bói cũng dễ bề “tác nghiệp”. Nếu người trẻ tuổi hoặc trung niên đến xem, chỉ việc nói: “số anh Tiền vận không được tốt lắm, mệnh phạm Tai sát (xung khắc), phải ngoài 35 hoặc 40 tuổi mới khởi Đại vận, đến khi về già Hậu vận tốt ,sống an nhàn tự tại.Bói thế ai mà chẳng thích. Qua Status dưới đây ,Mru tôi xin giới thiệu với những ai tò mò muốn tìm hiểu về tướng số một trích đoạn trong “ Tôi là thầy tướng số “ , tác phẩm khá nổi tiếng trong văn học Trung quốc, của tác giả Dịch Chi do Hương Nhiên dịch thuật. Bối cảnh câu chuyện là xã hội Trung quốc cận đại nhưng đọc và suy ngẫm bạn sẽ thấy có khác chi xã hội Việt Nam …
***
Trên đời này làm gì có ma quỷ, tôi biết chứ, rõ ràng Tổ Gia đã mất cách đây 46 năm, nhưng quả thật vừa rồi chính mắt tôi đã trông thấy ông! Giật mình, suýt ngã ngửa ra sau, khi đứng vững lại không thấy bóng đen trước mặt đâu nữa! Tôi sợ toát mồ hôi, mí mắt trái giật mạnh, một dự cảm không lành chạy dọc sống lưng.
Sách vở bày bán khắp hè phố vẫn nói: “Giật mắt trái sẽ gặp tai ương, giật mắt phải là điềm được của”, nhưng theo kinh nghiệm của tôi, giật mắt nào cũng không phải chuyện hay.
Đến các thầy tướng số cũng dùng cách bói máy mắt rất kỳ lạ mà người xưa truyền lại này để đối chiếu với lời phán của mình khi đoán điềm cát hung. Đầu tiên, cần phải phân rõ bói mắt trái và bói mắt phải, trái là dương, phải là âm, sau đó phải xem giờ bị máy mắt vào giờ Tứ chính (Tý–Ngọ–Mão–Dậu) ; giờ Tứ thiên (Thân–Dần–Tỵ–Hợi) hay giờ Tứ mộ (Thìn–Tuất–Sửu–Mùi), còn có bài khẩu quyết thế này: “Thập nhị thời thần thập nhị cung, ngũ hành bát quái tàng kỳ trung, Tý Ngọ Mão Dậu đa ẩm thực, Thân Dần Tỵ Hợi tai họa chí.”.
Hồi còn trẻ, khi sống ở Đường khẩu, chúng tôi từng dùng trò tâm dịch đoán buộc cổ “lũ gà béo” (người dễ bị moi tiền) ngốc nghếch. Mọi hoạt động sinh lý bất bình thường như: máy mắt, giật cơ, ù tai, nóng tai, ngứa bàn tay… đều được đem ra để luận đoán cát hung. Thậm chí còn có vài “con gà béo” dễ lừa đến nỗi chỉ vì hắt hơi vài cái vào sáng sớm mà cũng chạy đến hỏi xem lành dữ thế nào. Đối với bọn “Nhất ca” như mắc bệnh tâm thần này, không lừa chúng thì thật không phải với chúng.
Tôi như người mất hồn quay vào phòng, đồng hồ đã chỉ 12 giờ đêm. Tiết Thanh minh vừa qua, lại đúng nửa đêm giờ Tý, lẽ nào tôi vừa gặp ma thật? Vợ tôi cũng tỉnh giấc theo, mang áo đến khoác lên người tôi, hỏi: “Sao ông còn chưa ngủ?”
“Tôi… vừa rồi hình như đã trông thấy Tổ Gia… đứng ngay ngoài cửa.” Tôi thất thần nói.
Vợ tôi nhìn ra khoảng không đen như mực ngoài cửa sổ, từ nhỏ bà ấy đã gan lỳ nên không sợ, chỉ cười nói: “Cái ông này, bị hoa mắt thì có, Tứ gia vừa mất, tại ông lại nghĩ đến phái Giang Tướng đấy thôi…”
Nghe vợ nói thế, tôi cũng nghĩ chắc là mình đã nhìn nhầm.
“Ngủ đi ông.” Vợ tôi ân cần nói.
Nửa đêm, trời nổi gió to, từng cơn gào rít ghê rợn bên ngoài. Nằm co người trong chăn, tôi mơ hồ dự cảm sắp có chuyện chẳng lành.
Tôi không sao ngủ được, nhìn gương mặt vợ đã chìm vào giấc ngủ say mà lòng chợt đầy chua xót. Người phụ nữ này đã cùng tôi đi quá nửa đời người, từ lúc còn là một cô nhóc cho đến cái tuổi trung niên này, không một lời oán than hay tỏ ý hối hận vì lấy tôi, vẫn luôn đi bên tôi, bầu bạn cùng tôi. Nay, tóc dần điểm bạc, chúng tôi đều đã già rồi, cuộc đời mà!
Tôi trở mình, đưa tay lùa vào mái tóc bà ấy, bất giác nhói lòng. Đột nhiên, tôi nghĩ đến cái chết. Con người ai chẳng phải một lần chết, Tổ Gia đi rồi, Tứ Bá đầu cũng đi rồi, tôi đã ngần này tuổi, 70 sống được bao năm, 80 sống được bao tháng, một ngày nào đó rồi cũng sẽ chết, sau khi chết sẽ đi về đâu, liệu kiếp sau còn gặp bà ấy, gặp phái Giang Tướng, gặp Tổ Gia, gặp các huynh đệ nữa hay không? Tôi ôm chặt vợ trong lòng, dòng suy nghĩ trôi mãi về những ngày tháng xa lắc.
Năm 1966, Cách mạng Văn hóa nổ ra, trong thị trấn nổi lên cuộc đấu tố, phê bình. Người đầu tiên phải hứng chịu chính là một ông giáo già – hiệu trưởng một trường trung học. Bọn tạo phản gọi ông là lão giáo thối, bắt ông phải thẳng thắn nhận tội, ông nói mình chẳng làm gì mà phải thẳng thắn nhận tội hết. Kết quả, ông bị một thằng nhãi ranh đi lên vả cho hai cái vào miệng, rồi túm tóc, nói: “Mày phải nhận tội trước mọi người.” Nó còn hỗn hào, láo toét dám cởi giày đánh vào mặt ông giáo già đến chảy cả máu.
Thằng đó có biệt danh là “Nhị Bản Tử” – bởi lúc bé từng học đánh trúc bản, tính cách lỳ lợm. Có lần, người trong thị trấn xì xào rằng, có ma trơi ở ngôi mộ sau núi, có người nhìn thấy cả con hồ li ôm quả cầu lửa chạy băng băng lúc chập tối, khiến các xã viên hợp tác xã không ai dám ra sau núi khi trời tối. Thế mà thằng này lại cuỗm được một quả lựu đạn từ chỗ đám dân quân, tối đến hắn ra sau núi, thấy đúng là có đám lửa màu xanh nho nhỏ bốc lên khỏi mộ thật, liền chửi: “Mẹ mày!” Rồi cứ thế ném thẳng quả lựu đạn vào nấm mộ. “Bùm” một tiếng, ánh lửa tóe ra xung quanh, hài cốt bắn tứ tung trên mặt đất.
Vào thời đó, kiến thức khoa học chưa được phổ cập, kỳ thực, thứ mà họ gọi là ma trơi kia chính là hiện tượng hợp chất phốt-pho trong xương người và sinh vật thoát ra từ những nấm mộ lâu ngày không được chăm nom, tu sửa, gặp không khí thì bốc cháy thành lửa màu xanh nhạt. Mọi người lại nhầm tưởng đó là lũ quỷ ma hiện lên quấy phá, hù dọa.
Sau đó, Nhị Bản Tử lại lôi chuyện ma quỷ nhằm vào cô con gái cả của ông giáo già, hắn hô hào mọi người phê bình đấu tố “giày rách”. Ông giáo già có ba người con gái và một con trai. Chồng của cô con gái cả chết sớm, về sau, cô lại gặp được một thanh niên trí thức, hai người đều yêu thương nhau, nhưng cô gái lại bị chụp cho cái tội danh “giày rách”. Ai mang tội danh này sẽ bị đưa đi diễu phố, phải quàng lên cổ đôi giày rách, trước ngực còn đeo một tấm biển to viết hai chữ: “Giày rách”.
Cô gái này bị đưa đi diễu phố suốt hai ngày liền, cô chẳng còn mặt mũi nào trước những cái nhìn chòng chọc của hàng trăm con mắt trên phố. Sau khi trở về nhà, cô tắm rửa, gột sạch nước bọt và những thứ bẩn thỉu, ô uế trên người rồi mặc bộ quần áo ngày xuất giá, nhân lúc cha mẹ đang ngủ, thắt cổ tự tử trong phòng. Khi người nhà phát hiện ra thì cô đã tắt thở.
Hai vợ chồng ông giáo già thương con, khóc đến chết đi sống lại. Trái tim con người đâu phải sắt đá, hay tin cô gái đã thắt cổ tự tử, người trong thị trấn đều lặng đi, chẳng còn ai nghe thằng Nhị Bản Tử nữa. Ủy ban Cách mạng cũng vội vàng tuyên bố, thanh minh: “Dùng văn đấu tố, không dùng vũ lực! Không được gây chết người!” Thế mà thằng Nhị Bản Tử chẳng hề cắn rứt lương tâm, vẫn già mồm: “Cách mạng phải triệt để! Loại giày rách này, đáng ra phải chết từ lâu rồi mới phải!”
Ông giáo già cả đời dạy dỗ bao nhiêu thế hệ học trò, nay lại rơi vào tình cảnh như thế này, thật khiến người ta thương xót! Ngày chôn cất con gái, trời đang nắng bỗng nhiên lại có sét, đám mây đen kịt ùn ùn từ phía Đông Nam kéo đến, ngay sau đó mưa như trút nước, trận mưa như những giọt nước mắt nức nở bi thương của cô gái từ trời cao đổ ào xuống, cũng là tiếng khóc tiễn đưa cô về cõi quạnh quẽ, thê lương.
Sự việc về sau càng được phủ lên một màu sắc vô cùng thần bí. Mấy công nhân lò gạch ở ngoại thành kể, khi tan ca đêm về, họ thường thấy có bóng người đu đưa trước mộ phần của cô gái, còn nghe có tiếng người khóc, suốt mấy ngày liền đều như vậy. Ban ngày, mấy xã viên to gan đã đến đó xem xét mà không phát hiện ra điều gì bất thường, nhưng cứ đêm đến, cảnh tượng ấy lại tiếp diễn.
Nhị Bản Tử nghe vậy thì phùng mang trợn má: “Ông mày đếch tin! Sống ông còn chẳng sợ, chết rồi làm gì được ông?”
Mấy hôm sau, vào một tối khi đang định đi nằm thì Nhị Bản Tử nghe thấy tiếng gõ cửa, liền hỏi: “Ai đấy?” Không có tiếng trả lời, nhưng tiếng gõ cửa vẫn vang lên.
Hắn ta bèn khoác áo vào rồi ra mở cửa, vừa thò đầu ra thì bỗng một thứ gì đó từ trên trời rơi xuống, quấn ngay vào cổ khiến hắn giật bắn người. Lấy đèn soi thì thấy đó là một đôi giày thêu hoa đỏ! Đó chẳng phải chính là đôi giày mà cô gái bị đem ra đấu tố đã đi khi còn sống đây sao? Hắn sợ xanh mặt, hốt hoảng kêu lên: “Ma!”
Ngày hôm sau, người trong thị trấn xôn xao bàn tán, việc đôi giày kia được chôn theo cô gái bao nhiêu người đều trông thấy, nay bỗng nhiên từ trên trời rơi xuống, chắc chắn là oan hồn cô về tìm Nhị Bản Tử rồi. Không ai hay biết rằng, mọi việc đều do một A Bảo hoàn lương đạo diễn.
Một tối, sau ngày cô gái chết một tuần, tôi đang định đi nằm, đột nhiên có tiếng gõ cửa khe khẽ. Muộn thế này rồi, là ai được nhỉ? Mở cửa ra, thấy ông giáo già nọ, tôi không khỏi giật mình. Bấy giờ, không ai trong thị trấn dám qua lại, tiếp xúc với người có tên trong sổ đen như ông, bởi sợ rước họa vào thân.
Ngó ra sau lưng ông lão, thấy không có ai, tôi liền mời ông vào nhà. Ông giáo già ngồi xuống ghế im lặng một lúc lâu, mãi sau mới lên tiếng: “Nghe nói, ngày trước anh từng xem bói cho người ta, liệu anh có…”
Tôi vừa nghe thấy thế đã sợ tái mặt: “Lão tiên sinh đừng nói liều như vậy! Đó đều là sai lầm của tuổi trẻ, tôi đã được cải tạo rồi! Bây giờ tôi quyết tâm đấu tranh trước thói mê tín dị đoan!” Tôi tưởng ông lão định tìm cách để tôi nói hớ rồi tố giác, hòng lập công chuộc tội.
Ông giáo già run run: “Anh đừng sợ, tôi không có ý gì đâu. Nếu đúng là anh biết xem tướng số, cầu xin anh hãy xem giúp liệu cả nhà tôi có thể qua nổi tao đoạn này không! Chứ tôi thật chẳng thiết sống nữa!” Ông lão nước mắt giàn giụa nói.
Tôi biết tinh thần ông lão đã rất suy sụp, sống chết thế nào đều ở câu trả lời của tôi. Kiến thức về tướng số, tôi học mót được từ Tổ Gia cũng chỉ qua loa đại khái. Nhưng còn nhớ, Tổ Gia từng nói: “Lòng người không thể chết, cõi lòng mà chết rồi thì không còn là người được nữa.”
Mãi lâu sau, tôi mới lên tiếng: “Lão tiên sinh, tôi tin lão. Nếu ngày mai lão bán đứng tôi, tôi cũng không oán trách! Tôi biết chút ít về Kinh Dịch, có thể xem sơ qua vận mệnh cho lão được.”
Ông lão cho tôi biết Bát tự ( giờ ,ngày,tháng,năm sinh) của mình, tôi nghĩ một lát rồi nói: “Mấy năm nay, lão gặp phải vận rất xấu, mệnh phạm vào Tai sát, Kiếp sát, nhưng qua được thì sẽ khá lên, về sau mọi việc đều hanh thông, con cái phất lên như diều gặp gió! Lão chắc chắn sẽ được an hưởng tuổi già!” Kỳ thực, đây chỉ là chiêu mà thôi, trước dùng để lừa người, giờ dùng để cứu người, tôi muốn đem lại một tia hy vọng để ông có thể kiên cường sống tiếp.
Ông lão ngẩng lên, nửa tin nửa ngờ: “Vẫn có ngày cất đầu lên được sao?”
Tôi quả quyết: “Có! Chắc chắn là có!”
Ông giáo già như trút được gánh nặng nói: “Tôi không dám mong có ngày phất lên, chỉ cần vứt đi được chiếc mũ ‘kẻ đại phản nghịch’ đang bị chụp trên đầu, tôi chết cũng nhắm mắt!”
Chúng tôi đang nói chuyện, bỗng từ bên ngoài vọng vào tiếng đập cửa rầm rầm. Tôi giật mình đứng bật dậy, ông giáo già cũng sợ run người.
Tôi nhẹ nhàng đi tới, áp người vào cánh cửa, hỏi khẽ: “Ai vậy?”
Không có tiếng trả lời, tôi mở cửa nhìn ra, lập tức một người nhanh chân chạy vụt vào. Thì ra là cô con gái út nhà ông giáo già – Trương Doanh Doanh.
Ông lão tức giận hỏi: “Sao con lại đến đây? Không phải ta đã bảo cứ đợi ở nhà hay sao? Chẳng ra dáng một đứa con gái chút nào!”
Trong thị trấn, Trương Doanh Doanh nổi tiếng tính tình đanh đá, cá tính mạnh mẽ như con trai. Sau khi chị cả chết, cô dám cầm dao đến liều mạng với Nhị Bản Tử, người nhà phải ra sức ngăn lại.
Trương Doanh Doanh nói: “Con không yên tâm về cha!”
“Lưu tiên sinh nói rồi, cả nhà mình sẽ qua được kiếp nạn này, sẽ khấm khá lên, chỉ cần chịu đựng thêm một thời gian nữa thôi.” Ông lão nói.
Trương Doanh Doanh tỏ vẻ xem thường: “Cha, giờ là lúc nào rồi mà vẫn tin vào mấy thứ nhảm nhí đó! Cẩn thận người ta biết được, tội lại nặng thêm đấy!”
Tôi chỉ biết cười trừ, thầm nghĩ: “Sao cô hiểu được tâm tình của cha mình chứ!” Nhìn cô gái bướng bỉnh, thẳng tính này, tôi có đôi chút thiện cảm.
“Đừng nói năng liên thiên!” Ông lão nói.
“Con không liên thiên! Con nghĩ rồi! Cùng lắm là chết! Sớm muộn gì con cũng phải báo thù cho chị!” Trương Doanh Doanh nói.
Ông lão tức giận quát: “Cút về mau!”
Trương Doanh Doanh bật khóc: “Cứ nghĩ đến chị, con lại thấy đau lòng!”
Ông giáo già cũng rớt nước mắt.
Ngẫm nghĩ thế nào tôi lại nói: “Việc báo thù cô đừng nên nghĩ đến, chỉ càng làm cho sự việc xấu thêm thôi! Thực ra, mọi người trong thị trấn đều biết chị cô chết oan. Hay là thế này, tôi có cách trị cho tên khốn đó một trận. Nhưng hai người phải giữ bí mật tuyệt đối, nếu không tôi cũng tiêu đời!”
Nhị Bản Tử này cũng chẳng phải loại người không biết sợ trời khiếp đất là gì, lần này ông sẽ dọa cho mày sợ vỡ mật. Thuật Trát phi bao năm không dùng đến, giờ lại được tôi đem ra sử dụng. Đầu tiên, tôi dán người giấy, lấy thân cây cao lương chống lên, chỗ tiếp nối cắm ống tre dài hai đốt, trên ống tre lại đục mấy cái lỗ, đêm đến đem cắm lên ngôi mộ người con gái kia. Người ta đạp xe trên đường nhìn thấy thế, cộng thêm tiếng gió thổi làm ống tre phát ra tiếng kêu “hu hu”, lại tưởng có người đứng khóc bên mộ. Cứ thế, người nọ truyền tai người kia, một câu chuyện hư hư thực thực lan truyền nhanh chóng. Đây gọi là tạo thế, nhằm để Nhị Bản Tử biết rằng ở đây có chuyện ma quái.
Sau đó, tôi lại bảo Trương Doanh Doanh nửa đêm mang một đôi giày thêu hoa giống hệt đôi giày kia đến, nửa đêm dùng hai cái sào gác lên mái hiên nhà Nhị Bản Tử, sau đó dùng một sợi chỉ mảnh, một đầu buộc vào con vít, một tay kéo giữ sợi dây, tiếp theo gõ cửa, đợi hắn thò đầu ra ngoài nhìn, tôi khẽ kéo sợi dây làm cho đôi giày rơi từ trên rơi xuống, trúng ngay cổ hắn.
Nhị Bản Tử bị dọa cho sợ chết khiếp, từ đó chừa hẳn, không dám cắn càn nữa.
Tôi không ngờ việc giúp ông giáo già lần này lại được phúc báo. Đại khái, Trương tiên sinh thấy tôi lòng dạ lương thiện, một tối mùa hè mời tôi đến nhà, trìu mến nói: “Con trai, con đúng là người tốt.”
Tôi rùng mình, người tốt ư? Bao nhiêu năm nay, trải bao phen gió dập mưa vùi, tôi đã thay đổi nhiều. Bản thân cũng không biết mình rốt cuộc là loại người như thế nào nữa.
Ông lão lại nói: “Ta biết con từng ngồi tù, nhưng không có nghĩa con là người xấu. Đứa con gái út của ta luôn kiêu căng ngang ngạnh, kén cá chọn canh, đến nay vẫn chưa lấy chồng, nếu con không chê… Ta định gả nó cho con…”
“Hả?” Tôi ngỡ mình nghe nhầm, “Thưa tiên sinh, tôi… tôi cái gì cũng không có, nghèo rớt mồng tơi, lại từng ngồi tù, ông…” Năm 1958, sau khi ra tù, tôi chưa từng dám mơ tưởng đến việc lập gia đình.
“Ta muốn hỏi con có bằng lòng hay không?” Ông lão gặng hỏi.
“Tôi…” Việc này quá bất ngờ, tôi ấp úng hỏi: “Ý con gái lão thế nào?”
“Em bằng lòng đấy!” Trương Doanh Doanh từ trong nhà vén rèm đi ra: “Anh đã giúp cả nhà em trút được mối hận trong lòng…”
Tôi vội vàng nói: “Ấy ấy! Nếu chỉ vì chuyện nhỏ nhặt này thì không nên đâu. Huống hồ, chúng ta hơn kém nhau đến hơn chục tuổi…”
“Anh vẫn còn kén chọn sao?” Trương Doanh Doanh nói.
“Tôi không có ý đó, tôi…” Tôi không biết nên nói thế nào, trong lòng thầm nghĩ: “Hai người còn biết về tôi quá ít.”
Im lặng một lúc, tôi nói với Trương Doanh Doanh: “Cô không sợ người ta dèm pha mình lấy một người từng ngồi tù sao?”
“Em không quan tâm!” Trương Doanh Doanh tức tối: “Kệ họ muốn nói gì thì nói!”
Tôi biết, những biến cố lớn ập đến với gia đình tác động rất mạnh đến cô, khiến cô từ lâu đã căm ghét những lời đàm tiếu của người đời.
Trương lão tiên sinh ngồi bên cạnh nói: “Việc này ta làm chủ, cứ quyết định như vậy đi. Ngày mai ta sẽ vạch rõ ranh giới với cả nhà, để các con đỡ bị liên lụy!”
Trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, việc cha con phải “vạch ranh giới” (từ mặt nhau) là chuyện thường thấy. Âu cũng là chuyện bất đắc dĩ, để đảm bảo an toàn, bởi không còn cách nào khác.
Người ta thường nói, đêm động phòng hoa chúc là một trong bốn niềm vui lớn của đời người. Ngày lấy vợ, tôi đã khóc, một thằng đàn ông nửa đời người phiêu bạt, đến giờ cũng có thể coi như có chốn đi về.
Nửa đêm, tôi ôm Doanh Doanh, hỏi xem rốt cuộc cô ấy đã chọn tôi vì điểm gì, cô ấy cười nói: “Can đảm.” Tôi thầm nghĩ: làm A Bảo, có thể thiếu bất cứ cái gì, trừ lá gan.
Nửa năm sau, Doanh Doanh mang thai, sau đó thì sinh đôi một trai một gái. Mọi người đều nói, tổ tiên phải tích đức ba đời mới sinh con đôi, tôi nghĩ chắc nhờ vào âm đức của cụ tôi, ông tôi, bố tôi, còn tôi thì tích được cái đức gì chứ!
Những đứa con chào đời đã mang đến cho tôi niềm hạnh phúc vô bờ, thứ mà trước đây tôi chưa từng được chạm vào. Tôi thấy mình ngày càng được sống ra dáng một con người, có lúc, tỉnh dậy sau giấc mơ, tôi vẫn thấy mình đang cười. Nhìn các con lớn lên từng ngày, nghe chúng gọi tiếng “cha” đầu tiên, tôi khóc đến khản cả tiếng, ôm chặt vợ con vào lòng, để biết rằng đây không phải một giấc mơ.
Năm 1976, Cách mạng Văn hóa chấm dứt, đám mây mù tan biến, cha vợ tôi được sửa án oan, chị vợ tôi nơi chín suối cũng được ngậm cười.
Giao thừa năm đó, cả nhà tôi cùng quây quần bên mâm cơm tất niên, ai nấy đều nức nở, sụt sùi. Mãi sau, cha vợ tôi nói: “Con người sống ở đời, đừng tham lam phú quý, cứ sống bình an là tốt rồi, bình an mới là hạnh phúc!”
……………….
Tác giả : Dịch Chi _ Người dịch: Hương Nhiên

11 thg 7, 2023

Tản mạn : CHUYỆN BÓI KIỀU CỦA NGƯỜI XƯA


Tôi là người không tin bói toán vì nghĩ rằng bói toán là chuyện mê tín dị đoan ,chỉ những người nhẹ dạ cả tin mới tìm đến thầy bói để mong tìm giúp đỡ ,hỗ trợ. Lợi dụng lòng tin của họ, các thầy bói đã vẽ ra nhiều trò để lừa bịp, moi tiền thêm như bùa ngải, lễ bái, lên đồng…
Nhớ lại những năm còn dạy học ,khi giảng về truyện Kiều ,tôi thường dành ít phút cuối tiết dạy để nói về Bói Kiều cho học trò nghe chơi. Không ngờ chúng say mê lắng nghe thích thú đến độ chuông reo vài phút rồi vẫn cố níu kéo xin thầy nói tiếp…đến độ lấn sang giờ của đồng nghiệp dạy tiết kế tiếp.
Thời buổi bây giờ ,ít ai còn bói Kiều nhưng gạt đi sự mê tín dị đoan thì bói Kiều cũng được xem là một nét văn hoá độc đáo của dân tộc chúng ta .Lý do bởi Truyện Kiều là một áng văn chương bất hủ đã in sâu vào trong tâm trí người dân Việt Nam và những vần thơ trong truyện kiều mang ý nghĩa sâu sắc lên quan đến nhân sinh, nhiều hơn cả là mối tình trắc trở giữa chàng Kim và nàng Kiều . Có lẽ do vậy mà nảy sinh ra phương pháp Bói Kiều.
Qua 3254 câu thơ lục bát , đại thi hào Nguyễn Du đã kể về cuộc đời đầy vất vả, gian truân của nàng Kiều xinh đẹp. Mà những biến cố cuộc đời của Kiều cũng thể hiện đa dạng cuộc sống của một con người.Mỗi quẻ bói thơ Kiều chỉ sử dụng 4 câu rồi người bói luận giải cho người xem biết vận mệnh họ sẽ ra sao. Chính vì thế bói Kiều giàu nhân văn đã ra đời và truyền tụng trong dân gian để dự đoán về các sự việc diễn ra trong tình yêu.
Cách bói theo nhiều người lớn tuổi kể lại có một số quy cách buộc phải có thì bói Kiều mới linh ứng. Đó là :
_ Trước lúc bói Kiều, người bói phải ăn chay , tắm gội xông hương rồi bày bàn thờ với bát hương, trầu cau, hoa, rượu…và tất nhiên không thể thiếu cuốn truyện Kiều. Để có thể xem chuẩn xác thì tâm trí ,cảm xúc người bói phải tĩnh lặng,an nhiên, không bị phân tán bởi những sự việc xảy ra bên ngoài.
_ Trong khi đó, người xem bói phải tâm niệm những gì mình cần muốn xem và ngồi ngay ngắn trước bàn khấn vái. Khi đã khấn xong, nếu là nam thì dùng tay trái mở sách, nữ sử dụng tay phải di chuyển ngón tay cái đến một điểm bất kỳ nào đó trên trang sách và dừng lại. Đoạn thơ bao gồm bốn câu tính từ vị trí đặt ngón tay cái trở xuống chính là quẻ bốc được. Sau đó nhờ người bói ,một người có kiến thức giải đáp những điều được thể hiện bên trong bốn câu thơ trên.
_ Câu khấn vái thường có nội dung như sau:
Lạy vua Từ Hải
Lạy vãi Giác Duyên
Lạy tiên Thuý Kiều
Sống khôn thác thiêng
Xin về ứng quẻ..."
Tùy trình độ kiến thức,tuổi đời mà người bói có lời phán giải quẻ bói tốt ,xấu không giống nhau dù cùng là 4 câu thơ đó. Người này phán vận hạn không hay trong khi người khác phán ngược lại cho rằng quẻ rất tốt .Mấy ai lúc khó khăn xem bói chỉ một thầy .Khi thầy phán quẻ xấu người đó sẽ đi bói thêm với thầy khác và chỉ dừng lại với lời phán tốt .Câu chuyện sưu tầm sau đây là một minh chứng:
" Một phụ nữ gặp cảnh sinh khó,chuyển dạ từ đêm trước, qua suốt một ngày trời, rồi đến đêm sau vẫn chưa sinh được. Vào thời ấy, y học thường chịu thua, dẫn đến cảnh mất cả mẹ lẫn con. Trong tình thế tuyệt vọng, cả nhà không biết làm sao, chỉ còn cách đem Truyện Kiều ra bói. Và bói được 4 câu than vãn của nàng Kiều:
" Phận sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim Lang, hỡi Kim Lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây. "
Đọc 4 câu lên, tất cả người trong nhà đều hoảng hốt rụng rời, e sợ việc không hay sẽ xảy tới. May thay, một người hàng xóm chạy sang thăm. Khi thấy mọi người mặt mày tái mét âu lo liền hỏi nguyên cớ làm sao. Nghe xong câu chuyện, ông này lại bộc lộ vui mừng, kêu to: "Hỏng quá, hỏng quá, các ông các bà đoán sai bét hết rồi! Bói được những câu này thì chị nhà sắp sinh không những một cháu mà tới hai cháu trai nữa cơ."
Mọi người đang ngơ ngác không hiểu, ông ta liền giải thích: "Ôi Kim lang!” Đó là hiệu lệnh gọi đứa thứ nhất ra bởi “lang” là con trai, phải không nào? Còn “Hỡi Kim lang!” là gọi đứa thứ hai ra đấy!"
Một người thắc mắc hỏi thêm: Thế câu “Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây” thì ông giảng thế nào?
Người hàng xóm nói giọng chắc nịch: Chữ “phụ” ở đây không có nghĩa “phụ bạc” tức là bỏ chồng. Nhưng chữ “phụ” này lại có nghĩa “giúp cho”, như khi ta nói “để tôi phụ cho một tay.” Do vậy, câu này có nghĩa là: “Kỳ này thiếp giúp chàng bằng cách đẻ cho chàng hai đứa con trai để nối dõi tông đường”.
Người sản phụ tuy quá mệt nhọc vì cơn chịu đựng dai dẳng nhưng vẫn tỉnh táo. Lắng nghe anh hàng xóm nói có lý, cô bỗng dưng phấn chấn hẳn lên. Và một sức mạnh bỗng từ đâu đến giúp cô trở dạ và sinh được… hai đứa con trai. Cả nhà rất đỗi vui mừng, tấm tắc khen người hàng xóm bói giỏi."
Thay lời kết:
Truyện Kiều của Nguyễn Du phản ánh số phận bấp bênh, lênh đênh của người phụ nữ . Sở dĩ truyện Kiều trở thành một sách bói trong nhân gian không chỉ vì từng câu thơ, chữ nghĩa ẩn chứa số mệnh con người, nếu soi vào cuộc đời của mỗi người, thử hỏi có ai không ít nhiều gặp phải. Mỗi một quẻ bói Kiều chỉ 4 câu thơ giúp đoán vận hạn tương lai.Từ đó suy xét lại những gì đã làm và suy tính, cân nhắc trước khi định thực hiện một việc nào đó. Chỉ nên sử dụng phương cách này khi ta còn hoài nghi, hoang mang, chưa biết phải xử lý hay xử lý một sự việc nào đó ra sao.
Xét cho cùng, bói toán thuộc về lãnh vực tâm linh mà đã là chuyện tâm linh thời tin hoặc không tin là quyền của mỗi người . Với status post hôm nay, người viết không khuyến khích các bạn trẻ làm theo để rồi cả tin vào bói Kiều dẫn đến những hệ lụy có thể không hay, chỉ mong mọi người đọc chơi , mua vui vài phút giây , chỉ thế thôi...

Mru Thăng

7 thg 6, 2023

VIẾT CHO MỘT NGƯỜI VỪA NẰM XUỐNG ...

 

  Xin cho một người vừa nằm xuống,thấy

bóng thiên đường cuối trời thênh thang !

         Ngày 12.5 vừa qua là một ngày thật buồn với tôi khi Uông Đình Thịnh, người bạn sinh viên ,bạn đồng nghiệp ,đã qua đời sau cơn bạo bệnh. Nơi bạn nằm xuống ở tít mù xa ,tận Florida bên Mỹ ,gia đình hạn chế phúng viếng nên bạn bè nhiều người không hay biết nói chi đến việc tiễn đưa .


         Nhớ ngày nào Thịnh và tôi ,cùng đậu vào SPSG (k 3), năm đầu ra trường chọn nhiệm sở theo thứ hạng tốt nghiệp nên 2 đứa dạy khác nơi. Nhưng sau 1 năm, khi có đợt thuyên chuyển ,chúng tôi may mắn được về dạy chung 1chỗ : trường Hải Phòng thuộc vùng Hố Nai Biên Hòa. Nghĩ lại, tôi thấy đó là những năm đi dạy vui ,thoải mái vì lương giáo học bổ túc khá cao và việc dạy lại tương đối nhàn không phải soạn giáo án ,ktra ,thi đua...như bây giờ. Dạy xong buổi sáng coi như hết việc ,chúng tôi có 1 khoảng thời gian, khá dài suốt từ trưa đến chiều tối tha hồ nghỉ ngơi thư giãn, chơi thể thao ,đi nhậu lai rai hoặc làm vài ván xì phé cho vui vào mỗi dịp lãnh lương đầu tháng . Hầu hết gv SP thời đó chỉ sau 1 năm đi dạy đã mua được xe Honda, thứ xe máy thời thượng bấy giờ. Từ khi có xe máy, chúng tôi không còn phải vất vả ra bến xe miền Đông chen chúc mua vé từ thật sớm để đi được chuyến đầu cho kịp giờ lên lớp buổi sáng.



          Cuối 1967, Thịnh có giấy nhập ngũ học khóa 27 SQTB Thủ Đức. Chúng tôi chia tay, kẻ dạy hậu phương người phải ra tiền tuyến. Mãi đến thập niên 1970, chúng tôi mới gặp lại khi bạn được biệt phái về Sài Gòn dạy học tại 1 trường trung học tỉnh hạt ở Tân Phú .Thịnh cưới vợ năm đó, 1 cô giáo sắc nước hương trời quê ở Long An, tôi được bạn chọn làm phù rể. Hoàn cảnh cho phép ,2 anh em rủ nhau ghi danh học Văn khoa Sài Gòn nhưng cầm mảnh bằng đại học chuyển dạy trường đệ nhị cấp chưa được bao lâu thì chế độ VNCH xụp đổ .

          Phải hơn 1 tuần sau biến cố 30.4, tôi mới tịnh tâm đi thăm thú bạn bè xem ai còn lại, ai đã ra đi. Đến căn nhà quen thuộc nằm ở 1 con hẻm cạnh nhà thờ Ba Chuông , tôi được song thân bạn cho hay vợ chồng Thịnh đi từ tối 30.4, hai đứa chở nhau ra bến Bạch Đằng leo lên chiếc tầu cuối cùng của hải quân Sài Gòn kịp chạy ra khơi trước lúc rạng đông .

          Tôi thẫn thờ khi khi bố mẹ Thịnh bảo :” Chắc chúng đi được rồi vì nếu trúc trắc thì giờ đã về nhà…”. Tâm trạng rối bời, tôi yên lặng nghe chuyện Thịnh ra đi lòng chạnh buồn nghĩ chắc chẳng bao giờ gặp lại bạn.Nhìn tủ sách quen thuộc của Thịnh ,tôi nảy ý muốn xin 1 cuốn đem về làm kỷ niệm, bố Thịnh gật đầu lấy đưa ngay. Về nhà tôi ngồi thừ nhìn cuốn sách .Đó là cuốn Từ điển Việt Nam của Thanh Nghị ,dày trên 1500 trang ,mỗi danh từ đều có ghi chú tiếng Pháp.Nhớ ngày mua nó ,Thịnh khen sách soạn công phu rất hữu ích cho người thầy và những ai muốn rèn luyện ngoại ngữ.Tôi mở trang đầu lấy bút ghi hàng chữ :”Của người bạn không bao giờ gặp lại, Tân Phú 8.5.75 “ rồi đem bọc plastic để vào ngăn cao nhất trên tủ sách đầu giường.


 

           Phải đến đầu 1990 tôi mới liên lạc được với Thịnh qua một người bạn định cư tại Mỹ theo diện HO. Lúc này internet đã du nhập Việt Nam nên chúng tôi có thể liên lạc nhau qua email.Trong khi tôi ở Việt Nam được lưu dụng dạy học thì Thịnh ở Mỹ chuyển nghề đi học IT và một thời gian sau báo tin cho tôi hay đã  được tuyển làm Software engineer tại Liberty Mutual Insurance.

         Thịnh mua 1 lô đất cất nhà theo diện trả góp. Sau gần 2 chục năm bạn đã có 1 ngôi nhà có sân vườn thoáng mát tại Orlando thuộc bang Florida, một trong 5 tiểu bang có cộng đồng người Việt lớn nhất ở Hoa Kỳ. Trong mảnh vườn của mình , Thịnh trồng thành công nhiều rau củ hoa trái quê hương. Mỗi lần thu hoạch Thịnh đều chụp hình khoe với tôi những trái cây đầu mùa của mình , thôi thì cam, quýt, mãng cầu,nhãn,mận,ổi… không thiếu thứ gì nhưng tôi ngạc nhiên nhất là bạn còn trồng được cả cây thanh long.








         Tôi nhớ 1 lần kèm tấm ảnh những trái khế đầu mùa ,Thịnh có ghi chú kèm theo mấy 

dòng chữ :    

                                    Thế còn chùm khế ngọt này…

                                    Quê hương này... thì sao đây ?!”

            Đọc mấy dòng này chắc nhiều người cũng hiểu và cảm thông tâm tư người viết .Riêng tôi nghĩ Thịnh muốn gián tiếp trả lời bài thơ ngắn tôi gửi bạn trước đó sau khi nhận rất nhiều status bạn fw có nội dung liên quan đến ngày 30.4 :

                                    “ Biết bao người khăn gói ra đi

                                     Con tim sâu lặng lời thề

                                     Một ngày nhất định sẽ về quê hương

                                     Thế mà bốn lăm năm hiu hắt

                                     Câu nói xưa chẳng vẹn một bề

                                     Thư đi tin lại hẹn thề

                                     Bạn ơi lâu quá còn về nữa không ?

                                     Quê hương khuất bóng hoàng hôn

                                     Thương người cố quốc dạ sầu vấn vương …“

          Ba thế hệ của gia đình “Thinh Uong, Quang Uong and Ryan Uong” đã an cư lạc nghiệp tại quê hương thứ 2 nên nên với những người định cư nước ngoài “ Quê hương là chùm khế ngọt…”có thể chỉ là hư ảo thời gian .

      

          Bạn bè của Thịnh ,nhất là nhóm cựu học sinh trường Hồ Ngọc Cẩn ,trường trung học cũ ngày xưa , thường nhận những bài post hay do bạn sưu tầm được trên mạng.Tôi cũng là 1 trong số những người thường xuyên nhận được những bài viết gửi từ uongtran…@hot.mail.com. Đọc thấy hay ,tôi thường fw với bạn bè hoặc post lên facebook chia sẻ để nhiều người cùng đọc ,có khi tôi đưa tên 1,2 người quen thân nhờ fw bạn cũng sốt sắng giúp .Bỗng từ trung tuần tháng 2 vừa qua tôi bặt tin nhắn và email của Thịnh. Thăm hỏi vài người bạn khác mới hay Thịnh đã loan báo cùng bạn bè từ nay “gác kiếm” về vườn vui thú điền viên…vì qua trên mười mấy năm ròng rã cũng đã đến lúc mỏi mòn...

        Bất chợt đầu tháng 4 ,1 người bạn cùng khóa SP đang ở Mỹ cho hay Thịnh đang bịnh nặng do ung thư dạ dày tái phát .Tôi âu lo viết thư thăm hỏi nhưng không nhận được hồi đáp ,chát qua messenger cũng bặt tin. Rồi… trung tuần tháng 5, tin dữ về Thịnh chính thức được bạn bè ở Mỹ xác nhận.

        Thường tôi hay thông báo trên facebook tin buồn bạn bè vừa mới ra đi nhưng không hiểu sao lần này khi người bạn thân mất tôi bần thần chẳng muốn động tịnh gì. Mãi đến khi có người zalo hỏi :”Có phải anh Thịnh chết rồi hay không? Tại sao bạn lại im lặng như vậy? Tôi trả lời rằng mình không phải là người vô tình nhưng nỗi buồn mất mát lần này quá lớn nên định thư thư 2 sẽ có bài viết dài về người bạn vừa nằm xuống .Còn thông tin thì hôm 24.5 đã có bạn đồng khóa Phan Trần Đức làm rồi .

         Và... hôm nay khi ngồi viết mấy dòng này, những kỷ niệm về người bạn xưa cứ nối tiếp hiện ra trước mặt tôi như 1 cuốn phim quay chậm…Những ngày gắn bó trong trường SP, rồi những ngày vui dạy chung trường Hải Phòng, những ngày rong chơi Trảng Bôm thăm Huỳnh V Ba, buổi du ngoạn cùng hát rong với nhóm Du ca Bùi Công Thuấn tại Hưng Lộc Long Khánh, lần cùng Vũ Sự,bạn đồng khóa , vui đùa trong đám cưới Thịnh Mười ở Long An, những buổi câu cá ở các con lạch vùng Tân Phú…

         Khi lá vàng khóc lá xanh rơi thì nỗi thương tiếc đầy vơi nước mắt .Còn hôm nay lá vàng khóc lá vàng rơi thì hạt lệ mong manh như làn sương tan đâu mất chỉ còn nỗi đau đọng trong tận cùng tâm can. Ngẫm lại là 1 người con ngoan đạo với cái tuổi U 81 , Thịnh đã đi hết nẻo đường của phận người, nhưng dù ngắn hay dài, đó cũng là cuộc hành trình nhân sinh mà ai rồi cũng sẽ đi qua. Thôi thì đành phó thác, cầu xin kiếp mai hậu của được bạn yên nghỉ vĩnh hằng nơi tình thương của Thiên Chúa .

Mru Thang

24 thg 3, 2023

CHÙA "BA KHÔNG"

 

   



         Chùa “Ba không “ là tên quen gọi của chùa Tiêu Sơn ,một ngôi chùa nghìn năm ở Bắc Ninh ,đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử và nghệ thuật quốc gia vào ngày 25.1.1991.Chùa Tiêu Sơn cũng chính nơi thờ thiền sư Vạn Hạnh. Người là Quốc sư của của hai triều Tiền Lê và Lý. Đồng thời cũng là người có công lớn trong việc giáo dưỡng, truyền thụ tri thức và đưa vua Lý Công Uẩn lên ngôi, lập nên vương triều Lý.

***

         Đi theo con đường Hà Nội- Bắc Ninh, đến ki- lô mét 20, nhìn về phía bên trái, thấy có một núi đất mọc lên giữa đồng lúa mênh mông . Tại lưng chừng núi, giữa rừng cây sum suê, thấp thoáng mái chùa cổ kính. Đó là chùa Tiêu Sơn, tên chữ là Thiên Tâm tự, thuộc xã Tương Giang, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Chùa này đả từng được nhà Văn Khái Hưng dùng làm bối cảnh để viết truyện "Tiêu Sơn tráng sĩ" nổi tiếng. Đây là ngôi chùa thiêng hơn 1.000 năm tuổi, nay được mệnh danh là chùa " Ba không": Không đặt hòm công đức quyên tiền của khách thập phương. Không cho phép đốt vàng mã, giấy tiền . Không cúng thực phẩm chay hay mặn. Ai tới đây đều được sư bà trụ trì căn dặn: " Đi chùa thì phải tịnh tâm, không mê tín dị đoan, việc đốt vàng mã và rải giấy tiền không có trong đạo Phật".               

          Khi các phóng viên tới, sư bà trụ trì pháp danh Thích nữ Đàm Chính, 84 tuổi, lưng còng, vui vẻ mời vào.Theo lời kể của sư bà, cách đây gần 50 năm, tức khi ấy sư bà 34 tuổi, mới về trụ trì tại chùa. Lúc đó chùa rất hoang vu, đổ nát bởi sự tàn phá trong chiến tranh Việt - Pháp mặc dầu chùa rất rộng lớn, đã có từ hơn ngàn năm và được biết đến là nơi tu thiền của các bậc chân tu đời xưa.                

          Nói tới chùa Tiêu Sơn là nói đến thiền sư Vạn Hạnh, vị đại thiền sư đã có công nuôi dưỡng và dạy dỗ cậu bé " con hoang " Lý công Uẩn, sau này trỡ thành vua Lý Thái Tổ, vị vua anh minh đã đánh thắng giặc Tàu, khai sáng cơ nghiệp nhà Lý kéo dài hơn 200 năm (thường gọi là nhà Hậu Lý để phân biệt với nhà Tiền Lý của Nam Đế Lý Buôn).           

         Điều đặc biệt hơn nữa là chùa Tiêu Sơn hiện nay đang bảo quản và thờ phụng nhục thân tức pho tượng bằng xương bằng thịt của thiền sư Như Trí với dáng ngồi " kiết già" .

      

         Theo sách vở cho biết , cách đây gần 300 năm, khi thiền sư Như Trí viên tịch, nhục thân của ngài được ướp và đặt theo dáng ngồi thiền, rồi được các đệ tử thời ấy đặt vào một trong số 14 ngôi tháp rải rác trong " rừng Từ Sơn " thuộc khuôn viên nhà chùa.         Gần 300 năm kể từ khi nhục thân ngài được rước vào tháp,năm 1946, khi chiến tranh xảy ra, chùa bị đổ nát nhưng các tháp vẫn còn nguyên vẹn với những bậc đá dẫn lên tháp khá cao.           

         Dân chúng trong những năm ấy sợ " pho tượng " nhục thân thiền sư bị tổn hại nên xây bít tháp lại. Nay, sau gần 70 năm trôi qua, các bô lão còn sống chợt nhớ, bèn bàn tính với dân chúng rồi phá cửa tháp, rước nhục thân vị thiền sư ra. Như vậy, gần 300 năm từ ngày thiền sư viên tịch cộng với non 70 năm từ ngày tháp được xây bít, song nhục thân của vị thiền sư chỉ bị hư hại  rất ít, ví dụ hai cẳng tay ngài tay ngài bị gẫy và mắt bên trái có một lỗ hổng. Đặc biệt, xương ở cẳng tay chỗ gẫy vẫn trắng như xương bình thường và da thịt khô đét, cứng như gỗ những vẫn giữ được màu nâu chứ không biến thành màu đen như các xác ướp trong Kim Tự Tháp Ai Cập. Điều này chứng tỏ nghệ thuật ướp xác của tiền nhân ta thời xưa rất  cao , nếu không nói là hơn thì cũng không kém người Ai Cập với những xác ướp của họ.                  

             Tượng nhục thân thiền sư Như Trí đã được dân chúng mời GS Tiến sĩ Nguyễn Lân Cường và ê-kíp khảo cổ của ông đưa về Hà Nội phục chế lại cho hoàn hảo, nay đang được thờ trong lồng kính tại nhà thờ tổ của chùa Tiêu Sơn.                 

          Tại chùa Đậu thuộc huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây ( Hà Đông và Sơn Tây hợp lại, nay là Hà Nội) cũng có hai pho tượng nhục thân của hai vị thiền tăng Vũ khắc Trường và Vũ Khắc Minh từ thế kỷ thứ 17, tức cách đây khoảng  hơn 300 năm, cũng đã được ê-kíp GS Nguyễn Lân Cường phục chế hoàn hảo. Theo GS Cường, nhục thân của các vị thiền tăng và thiền sư xưa không hiểu được ướp cách nào mà vẫn còn tốt, cứng như xá lợi ( xương nhỏ của các vị sư tổ sau khi thiêu còn sót lại), đốt không cháy, ngâm nước không tan. Ngoài sự độc đáo về nguồn gốc và là bối cảnh cho tác phẩm Tiêu Sơn tráng sĩ nổi tiếng của nhà văn Khái Hưng, hiện nay chùa Tiêu Sơn còn được biết đến là ngôi chùa có một không hai.... Không có hòm công đức.             

          Nếu ở các đình, đền, miếu tại các địa phương khác, hòm công đức được bày la liệt thì ở đây tuyệt nhiên không có một hòm nào cả. Bởi vậy nên không có cảnh chen lấn lễ bái, bỏ tiền vào hòm xô bồ như thường thấy tại các di tích khác.          

Ngoài ra, chùa cũng không nhận lễ vật, không cho phép đốt vàng mã, tiền giấy hoặc rải tiền thật cho người ta nhặt. Nhà chùa cũng khuyên các tăng ni, Phật tử, trên mỗi bát Hương chỉ nên cắm một nén nhang và khi dâng lễ Phật thì chỉ cúng bằng hoa quả tinh khiết, không cúng thực phẩm chay hoặc mặn.         

         Hoan hỉ phát tâm khi cần tu bổ chùa khi biết chùa Tiêu Sơn không đặt hòm công đức, nhiều người cho rằng sư bà trụ trì " gàn dở ", không nhạy bén với kinh tế. Trước sự chê trách đó, sư bà cười móm mém nói với các phóng viên: " Gần 50 năm trước, khi về đây trụ trì tôi đã nguyện không lập hòm công Đức. Cuộc sống tu hành đâu cần nhiều vật chất. Tôi ở một mình, nếu có hòm công đức lại phải trông coi, nơm nớp lo lắng, đêm ngủ không yên. Biết  tôi không có tiền, không trộm nào muốn quấy quả nữa".                 

          Sư bà Thích nữ Đàm Chính cũng cho rằng chuyện đốt vàng mã, rải tiền thật ở cửa Phật để cầu xin phước đức là chuyện hoàn toàn không có trong đạo Phật. Nếu đến chùa dâng tiền, cầu xin tài lộc mà Phật ban cho thì chẳng hoá ra Phật nhận hối lộ hay sao? Hoàn toàn sai lầm khi nghĩ rằng hễ có lễ thì Phật phù hộ độ trì. Đến với đạo Phật là để học phương pháp sống an lành, hạnh phúc cho mình, cho gia đình mình và cho xã hội chứ không phải để cầu xin với những tham vọng tầm thường.

         Sư bà nói : " Điều đáng buồn là hiện nay vấn đề hòm công đức đã trở nên quá phổ biến, rất nặng nề. Chung quanh chuyện hòm công đức, chuyện ái, ố, hỉ, nộ được bàn tán khắp nơi hay  trên báo chí. Ban quản lý các chùa chiền, danh lam thắng cảnh cũng tranh nhau tận thu tiền bạc của khách thập phương. Ở nhiều nơi, khách vừa lo lễ bái vừa lo lấy tiền bỏ vào hòm công  đức. Mỗi lần rút ví là một cơ hội cho kẻ cắp lợi dụng, do đó chốn linh thiêng bị vẫn đục ngoài   ý muốn"

            Sư bà giải thích như vậy. Trước sự khang trang  rộng lớn của ngôi chùa với những bậc thang lát đá chắc chắn, sang trọng, nhiều khách thập phương tò mò tự hòi,không có hòm công đức  thì chùa lấy đâu ra tiền mỗi khi tu bổ, xây dựng?

         Sư bà cho biết: " Chùa không có hòm công đức nên chẳng có tiền. Khi cần tu bổ, xây dựng chỗ nọ chỗ kia, tôi nhờ người tính toán Dự trù kinh phí rồi bàn với ban quản tự, ban quản tự  kêu gọi khách thập phương giúp đỡ. Khi đã nhận đủ tiền rồi thì ban quản tự ngưng lại, không  quyên góp thêm nữa. Số tiền ấy được thấy minh bạch qua sổ sách và các chứng từ".

               Được biết, có một đại gia kinh doanh thủy sản ở tận Cà Mau, khi biết chuyện nhà chùa đang quyên góp để tu bổ và xây dựng thêm những bậc thang bằng đá,vị đại gia này đã bay ra Hà Nội rồi tới chùa xin đóng góp 500 triệu đồng. Nhưng điều bất ngờ là ban quản tự từ chối vì... chùa đã nhận đủ tiền nên không nhận thêm nữa. Sư bà nhẹ nhàng nói với với vị đại gia : " Con số  500 triệu đồng rất lớn, nếu con đem giúp các trại mồ côi hay các viện dưỡng lão thì lại càng   quý hơn nữa". Vị đại gia đã làm theo lời sư bà trước khi trở về Cà Mau.                                      

     ĐOÀN DỰ GHI CHÉP.

 Chùa Tiêu Sơn ở  Bắc Ninh.

21 thg 2, 2023

CHUYỆN ĂN CHUỐI BẺ ĐÔI

 

Bài đăng báo SGTT- Ngày 02.05.2007

***

          Chủ nhật tuần rồi khi đi dự tiệc cưới, tôi gặp một cảnh hơi chướng mắt.   Sự việc xảy ra khi nhà hàng đãi thực khách tráng miệng bằng món chuối già hương. Trong lúc mọi người đều bẻ đôi trái chuối khi ăn thì cô gái ngồi đối diện tôi cầm nguyên trái lột vỏ, nhâm nhi từng chút một, lâu lâu lại nhét trái chuối vào miệng, chóp má mút một cái và cười mỉm chọc quê người bạn trai ngồi bên.



         Không phải chỉ có tôi bực bội mà những khách chung bàn, ai cũng thấy cách ăn chuối của người con gái đó thiếu tế nhị, không đẹp mắt ở chốn đông người. Không phải tôi là người khó tính quá đến độ không thể chấp nhận phong cách ăn theo kiểu tự do, phóng khoáng của mấy cô “Sài Gòn teen” bây giờ. Nhưng là người Việt Nam, chúng ta đừng quên rằng ông bà ta từ xưa vốn rất ý tứ trong việc ăn uống ở chốn đông người nên mới khuyên dạy con cháu: "Ăn trông nồi, ngồi trông hướng". Thiết tưởng không cần phải giải thích nhiều về ý nghĩa câu nói vì đây là nguyên tắc căn bản trong cách ăn uống ai cũng biết. Trong một bàn tiệc, nếu thấy một đứa trẻ năm bảy tuổi gắp lấy gắp để, nhai nhồm nhoàm, uống ừng ực, chúng ta có thể dễ dàng tha thứ. Song với những lứa tuổi lớn hơn, nhất là những cô gái đang độ thanh xuân được nhiều con mắt ngắm nhìn thì người ta không thể chấp nhận cách ăn uống thiếu tinh tế như thế được! Không biết trong các bạn có ai đồng quan điểm với tôi rằng ăn chuối cần phải bẻ đôi chăng, nhưng từ thuở bé, tôi và các em tôi thường được mẹ nhắc nhở ăn chuối bẻ đôi là phép tắc ăn uống trước mặt người khác. Mẹ tôi bảo: “Ăn chuối không ý tứ nơi chỗ đông người sẽ bị đánh giá thấp về văn hoá". Sau này lớn lên học lớp 8, trong một bài văn giải thích, tôi được thầy giáo văn giảng giải thêm: “Nếu ăn chuối không bẻ đôi thì con trai là người thô tục và con gái là người vô duyên”. 

      Vẫn biết ăn uống là một nhu cầu quan trọng của con người. Nhưng ăn uống cũng biểu hiện văn hoá cần truyền dạy lại cho các thế hệ mai sau. Bởi nếu quên đi việc dạy trẻ các thói quen văn hoá đời thường thì tránh sao khỏi việc chúng sẽ có những vụng về, lúng túng trong cách ăn nói, ứng xử khi ra ngoài xã hội.

Nguyenuthang

.........................................................................................................................................                                                                               


ĐỂ TANG CHO SÁCH

     

     Bà tôi thường than thở, hết một nửa cơ nghiệp của nhà này đã tan tành theo sách. Một nửa cơ nghiệp nói cho to, cho xứng với nỗi đau tiếc của của bà, chứ thực ra chỉ vài trăm cuốn sách của ông tôi thôi. Có điều, đó không phải là những quyển sách bèo nhèo giấy rơm thô kệch, đang tràn ngập trong các hiệu sách, trong trường học và trong thư viện. Chưa nói tới nội dung, chỉ mới lật qua vài trang mờ nhoẹt vàng đục với những con chữ ốm o đói khát như những người bị sốt rét rừng là đã thấy chán lắm rồi.

         Sách của ông tôi, bạn chỉ ngắm không thôi cũng đã thấy thích. Những cuốn tự điển của Pháp, của Việt, thư pháp của Trung Hoa, những sách thuốc, sách khoa học, những bộ tiểu thuyết của các nhà văn danh tiếng, những sách học làm người, những sách triết…đứng sát bên nhau phơi cái gáy mạ vàng như cả một đội ngự lâm quân thông thái và oai vệ. Trang nghiêm nhưng không lạnh lẽo, bọn họ là thầy là bạn của ông tôi. Và vì vậy, bạn cũng như tôi chỉ được phép đứng nhìn mà thôi.

       Ông tôi là một người mê sách (cũng lại là cách nói vừa tấm tức vừa giận hờn của bà) mê hơn cả vợ con. Nếu bảo rằng “thư trung hữu nữ nhan như ngọc”, thì ông tôi tuy đã già nhưng lại có đến những mấy trăm người đẹp như các vua chúa ngày xưa, nên bà tôi “ghen” cũng phải.

        Ông mê sách như người mê đồ cổ. Nghe ở đâu có sách quý là ông tìm tới dù có phải tốn kém tàu xe và phải bỏ ra cả một mòn tiền lớn để “rước” người có nhan như ngọc đó về, ông cũng dám chơi một phen cho thõa chí. Như cuốn Tự vị của Paulus Của, nghe đâu như là ấn bản đầu tiên của một ông cụ nào đó bắc bực làm cao đến tận giời, ông tôi đã phải lặn lội vào tận xứ Thủ Dầu Một xa lắc xa lơ để mua cho bằng được. Công cuộc mua quyển sách đó, chẳng những khiến ông mất đến mấy chỉ vàng, mà còn ốm một trận thừa sống thiếu chết.

        Cuốn sách cũ đến nỗi như đã ngàn năm tuổi. Còn hơn một người chơi đồ cổ, ông tôi lại phải tốn thêm một món tiền và nhất là tốn rất nhiều thì giờ để nài nĩ và kiên nhẫn ngồi chờ anh thợ đóng sách đóng lại giùm. Lúc này quyển sách đối với ông như một con bệnh thập tử nhất sinh và anh thợ đóng sách cứ như một bác sĩ. Khi anh thợ tháo bung sách ra, ông đau nhói như thể gan ruột của mình cũng bị lôi ra như thế. Ông hồi hộp theo dõi từng mũi chỉ khâu, nín thở xem anh ta cắt xén, làm bìa. Cho đến khi sách được làm mới một cách khỏe mạnh, xinh đẹp, ông ôm quyển sách trước ngực như một người mẹ ôm đứa con bé bỏng vừa được bác sĩ cứu sống. Ông hết lời cảm ơn anh ta, đưa cho anh một tờ tiền lớn và hào phóng không nhận tiền thối lại. Đem quyển sách về nhà, ông lại mất cả buổi ngồi ngắm đến nỗi quên cả bữa cơm khiến bà tôi phải giục.

          Đó là với những sách cũ quý hiếm. Còn sách mới, ông lại “phá của” một cách không giống ai. Sách nào ông cũng phải mua đến những hai quyển, một để đọc và cho mượn, một để nguyên không đụng tới. Những quyển sách để nguyên ấy nằm im trong tủ kính, mỗi lần mở ra là thơm nồng mùi giấy mới và mực in. Đối với ông, đó là một mùi thơm huyền hoặc đầy quyến rủ và mê đắm như những người nghiện nghe thấy mùi thuốc phiện. Chẳng những chỉ mùi thơm trinh nguyên không thôi, quyển sách vẫn còn trinh trắng khi hãy còn những lề chưa rọc.

         Học cách người xưa, không để của cải cho con cháu mà để sách, nên giá như có phải vì thế mà tiêu hết cả cơ nghiệp, ông tôi cũng không tiếc. Chỉ có một điều khiến ông băn khoăn, ấy là trong đám con cháu thực sự chưa có một người nào đủ để ông tin tưởng. Gạt hết những đứa chỉ biết có nhà to xe đẹp, những đứa chỉ biết vung tiền trong các cuộc ăn chơi, suốt một đời chưa đụng tới một quyển sách nào, những đứa mà ông bảo là trong đầu toàn chứa những thứ vớ vẩn nếu không muốn nói là hôi thối ấy, còn lại chỉ vài đứa có để mắt tới sách, nhưng với một thái độ hờ hững, một đôi khi thô bỉ xúc phạm đến sách.

          Ông ghét nhứt ai đó đọc sách mà miệng cứ nhai nhồm nhoàm, vừa đọc vừa tán chuyện, bạ chỗ nào cũng đọc ngay cả trong nhà cầu, đang đọc mà có ai ới lên một tiếng là ném ngay cái xạch sau khi đã tàn nhẫn xếp lại một góc để làm dấu, rồi bỏ đi mà không cần biêt tới quyển sách có thể bị ướt, bị bẩn hay bị cháy. Ông cũng không chịu được cái cách lật sách thô bạo bằng cả bàn tay úp lên trang giấy hay thấm nước bọt trên đầu ngón tay. Đó là cách cư xử của kẻ phàm phu tục tử, của phường giá áo túi cơm. Lật sách mà như thế có khác gì sàm sỡ nếu không muốn nói là cưỡng bức. Phải lật như những nhà sư nâng nhẹ một trang kinh hay là như khẽ lay một người đẹp đang ngủ.

            Đối với ông, đọc sách là để được tiếp cận với những tâm hồn ngoại hạng, cho nên trước hết phải tắm rửa sạch sẽ, ăn mặc chỉnh tề, phải “dọn mình”như con chiên quỳ trước Chúa, như nhà sư đảnh lễ trước bàn thờ Phật. Chẳng những sạch ở phần xác mà còn sạch cả phần hồn. Nghĩa là không để những giận hờn phiền muộn hay những ý nghĩ ô trọc dính bám cho dù chỉ một tí trong đầu. Chỉ đọc trong lúc thanh tịnh giữa khuya hay khi gần sáng tinh mơ. Đọc với hương trầm cọng với mùi hương ngai ngái của giấy mực, hương của sương đêm loáng thoáng hay hương của nước mưa mát dịu. Đọc là mở hồn ra để hơi thở của sách ùa vào căng buồm lên cho con thuyền bé nhỏ của mình được dọc ngang trên biển học mông mênh.

          Đương nhiên là ông tôi khó tính nhất nhà. Cái viện sách bé nhỏ của ông là một nơi khả kính, thâm nghiêm như một ngôi đền không một ai ngay cả bà tôi dám động tới. Bảy mươi năm sống trên đời của ông thì hết một nửa là ở trong cái gian phòng đựng đầy sách với mùi hương và sắc màu của những tâm hồn kỳ vĩ. Dạo ấy, mặc dù được cưng chiều và rất có triển vọng được ông tin tưởng, tôi cũng chưa được một lần đọc một quyển sách nào trong tủ sách ấy. Ông bảo tôi chưa đủ tuổi và chưa học được cách nâng niu gìn giữ theo cách gần như tôn thờ, thì đọc chẳng ích lợi gì mà còn “giết” sách. Theo ông, đọc vì tò mò, đọc như “lua cơm”, đọc như ngốn ngấu thì cả đầu óc mình chỉ là một bãi hoang chứa đầy những xác chết của sách bị vất ngổn ngang mà thôi. Đọc là phải ngấm từng chữ từng câu, phải để nó bén rễ trong đầu mới có thể thành cây cho trái ngọt.

            Năm tháng qua đi, ông tôi âm thầm làm một cuộc chuyển giao lặng lẽ. Tiền bạc trong nhà cứ cạn dần nhưng sách của ông lại đầy lên, phải đóng thêm tủ kê thêm kệ. Cô chú tôi biết ý ông, nên mừng tuổi không bằng trà ngon rượu bổ, mà bằng những phong bì ít nhất cũng đủ cho ông mua được một hai quyển sách. Những lúc ấy ông vui như một đứa trẻ lên 5 được nhận tiền lì xì. Rồi ông đi ra tiệm sách, khệ nệ ôm về những chồng sách mà ông ao ước nhưng chưa đủ tiền mua. Ông ve vuốt từng cái bìa, ngắm nghía từng con chữ, đê mê những sách của Lá Bối, An Tiêm, mơ màng với những tác giả Saint Exsupéry, Bùi Giáng…Giá như ông sống đến một trăm tuổi và giá như ông còn có đủ tiền thì cái viện sách của ông sẽ kín đặc những sách. Ông sẽ ngồi giữa những bức tường dày cộm thơm tho đó như một anh lính già đang tử thủ trong một cái lô cốt văn hóa.

           Sau tháng tư năm ấy, cái tháng tư mà dù nằm dưới mộ sâu ông vẫn còn đau đớn, những cuốn sách của ông tưởng sẽ sống đến ngàn năm đã bị bức tử một cách oan nghiệt.

          Khi người ta đội lên đầu những quyển sách của ông, có những quyển già như một ông tiên đầu bạc, có những quyển xinh tươi như những thiếu nữ trẻ trung, những chiếc mũ có tên là “nọc độc”, là “đồi trụy”, là “phản động” thì hơn ai hết ông hiểu đó là một lời tuyên án tử hình.

        Ông suy nghĩ lung lắm, không phải để tìm cách chôn dấu hay tẩu tán. Mà suy nghĩ làm sao để chọn cho sách một cái chết xứng đáng với lòng tin yêu và kính trọng của ông.

Một đêm thức trắng.
Rồi hai đêm thức trắng.
      Ngày thường ông bình tĩnh là thế nhưng lúc này, ông bối rối run rẩy. Có lúc mặt ông đỏ bừng và mắt ông lóe lên những tia lửa căm hờn. Cả nhà chẳng ai dám hỏi nói gì với ông. Giống như một con sư tử già bị săn đuổi cùng đường, lâu lâu ông lại gầm lên một cách tuyệt vọng.

         Cuối cùng ông đã chọn cho mấy trăm cuốn sách một cái chết dũng cảm. Đó là chính ông tự mình đốt sách. Một quyết định cháy lòng.

        Tôi cũng được dự phần trong cuộc hỏa thiêu đau đớn ấy, bằng cách giúp ông bê hết sách ra sân. Dù đem đi đốt nhưng ông không cho phép tôi làm rơi rớt xuống đất, không được nặng tay, mà phải sẽ lén nhẹ êm như đang bồng một em bé say ngủ. Phải rồi, những cuốn sách của ông đang say ngủ. Đánh thức chúng dậy, ông sẽ không chịu nổi những tiếng khóc mà chỉ riêng ông mới nghe được mà thôi.

         Sách được xây thành một cái tháp quanh những thanh củi chẻ nhỏ. Ông không muốn đốt chúng bằng xăng hay dầu. Ông lại càng không muốn xé sách ra từng mảnh nhỏ để đốt. Xé ra là làm chúng đau. Và làm cho chúng đau trước khi chết là tội ác. Một người coi sách là sinh vật sống, để cả đời nâng niu bồng ẳm, vậy mà phải giết do chính bàn tay của mình, bạn phải biết là ông tôi đã đau khổ đến nhường nào.

         Đó là một đêm tháng năm lặng gió. Cây cối im ngủ. Những ngôi sao như tan đi trong khói trời mờ đục. Ông tôi cử hành lễ đốt sách cũng bi tráng và lẫm liệt như Huấn Cao cho chữ trong ngục. Ông mặc toàn đồ trắng, cắm một cây đuốc giữa trời, khấn khứa rì rầm rồi lạy bốn hướng mỗi nơi một lạy. Xong ông lấy cây đuốc đang cháy đặt vào giữa tháp. Dứt khoát và quyết liệt như cái cách các võ sĩ đạo đâm kiếm vào bụng.
         Lửa bắt rất nhanh, chỉ trong phút chốc đã bắn vọt lên đầu ngọn tháp.
Đã nghe mùi mực và mùi giấy.
Đã nghe tiếng vặn mình của các bìa sách.
Đã nghe những âm thanh líu ríu như run như rẩy của những trang sách méo mó cong vênh.
Lửa trào ra như từ miệng hỏa diệm sơn.
Lửa ôm choàng lấy sách, hôn dữ dội bằng đôi môi bỏng cháy.
Sau cùng, cái tháp bằng sách đỏ rực như một trái tim để lộn ngược.
          Ông tôi ngồi xếp bằng, cố giữ nét mặt trầm tĩnh một cách cao cả. Không một giọt nước mắt cho dù là vì khói cay xè. Ông như thượng tọa Thích Quảng Đức đang ngồi kiết già với ngọn lửa bao quanh. Có thể nói, chính ông cũng đang tự thiêu. Bất giác tôi cảm thấy muốn khóc vì lo sợ. Đến một lúc nào đó, biết đâu ông đứng bật dậy bước thẳng vào ngọn lửa.
Ông chết theo sách.
Đó là một cái chết đẹp, xứng đáng với một người yêu sách như ông.  

         Nhưng ông chưa muốn chết vì ông còn phải để tang cho sách như một đứa con chí hiếu. Ngay lúc lửa tàn, ông quỳ xuống lạy ba lạy. Rồi ông kiên nhẫn ngồi đợi cho tất cả biến thành tro nguội. Ông bảo tôi hốt tro vào bao, cất vào tủ rồi mới chịu đi vào nhà. Gần như suốt đêm ông không ngủ. Bà tôi than thở là nghe tiếng dép của ông kéo lê lệt sệt mãi tới tận sáng.

       Hôm sau, ông bảo tôi thuê thợ đóng nhiều chiếc hộp để đựng tro. Mỗi chiếc để một ngăn tủ. Ông khóa lại và dặn không được dùng vào việc gì khác ngoài việc gìn giữ những chiếc quách ấy. Hơn 30 năm sau, cái tủ đựng đầy những hộp tro vẫn đứng im đó như một nhà mồ. Ngày giỗ ông, chúng tôi cũng đem một bát nhang đến thắp trên đầu tủ. Có cảm giác như hồn ông và hồn sách cùng lảng đảng bay về.

       Vẫn chưa hết chuyện về ông tôi đâu. Một tháng trước ngày mất ông muốn tôi làm cho ông những tấm mộ bia bằng giấy. Ông đưa tôi một danh sách dài những quyển sách bị đốt, cứ mỗi tấm bia đề tên một quyển sách. Hơn mấy trăm cái bia như thế, phải mất cả tuần mới làm xong. Những mộ bia không có ngày sinh nhưng có chung một ngày tử. Chúng được xếp lên kệ thay cho hàng trăm cuốn sách đã chết tập thể.

     Cả viện sách của ông giờ đây biến thành một nghĩa trang.
Ông trịnh trọng chít khăn trắng, lên nhang đèn rồi cung kính khấn vái như trước bàn thờ tổ tiên. Trong những lời rì rầm, nhiều lúc bỗng vang lên như tiếng khóc, ta là người có tội, có tội. Theo như tôi hiểu đó là cái tội không bảo vệ được sách, tội với các tác giả, tội với những thợ sắp chữ ở nhà in và xa hơn nữa là có tội với giấy và mực.
Ông biết ơn họ bao nhiêu thì bây giờ ông ray rứt vì mình có tội bấy nhiêu.
        Từ đó ông ăn ít ngủ ít. Ông đem từng tấm bia đặt lên bàn, lặng lẽ ngồi ngắm hằng giờ như đang đọc sách. Mỗi tấm bia gợi nhớ đến màu bìa, co chữ, tranh vẽ và cả nội dung mà chỉ có ông mới thấy được, hiểu được. Ông như sống lại những năm dài trước đó với những niềm vui kín đáo khi tìm được sách quý, hay mua được những sách hay. Những lần như thế, ông tự thưởng cho mình khi thì một bình trà, lúc một chung rượu hay tách cà phê và những điếu thuốc thơm thay cho hương trầm.
         Rồi đến một lúc ông không ăn mà cũng chẳng ngủ. Người ông khô kiệt tái xám. Ba tôi và các chú đi cải tạo chưa về đương nhiên là khoét sâu vào hồn ông những nỗi buồn lo khôn nguôi. Nhưng dù vậy, tận cùng của đêm thì cũng phải sáng. Ông có thể đợi đến mười năm hay hai mươi năm. Chỉ có những quyển sách bị đốt là không đợi được. Ông nói với bà, biết trước như vầy tôi đã để hết tiền cho bà chứ mua sách làm chi. Bà tôi cay đắng, ai mà có con mắt sau lưng.
        Buổi chiều cuối cùng ngồi bóp chân cho ông, tôi nghe ông hỏi, cháu thấy ông thế nào? Tôi nói, dạ, ông nên ăn chút cháo, trông ông gầy lắm. Không phải, ông nói, da ông thế nào, đã ngã thành màu đất chưa? Không biết da màu đất là màu gì, tôi nói đại, chưa ông à. Ngã màu đất là sắp chết đấy cháu, ông nói. Ông đã có ý để lại sách cho cháu, nhưng ta tính làm sao được bằng trời tính. Cháu nhớ giữ giùm ông cái tủ và mấy cái kệ.
      Nghe ông nói, tôi thấy da ông quả thật rất giống với màu đất bạc phếch, lạnh lẽo ở nghĩa địa. Da ông là da của một người đã chết từ lâu nhưng chưa chôn. Hay là ông đã chết từ cái đêm hôm ấy. Hồn ông đã cùng với hồn sách nương theo khói bay lên tận trời cao. Cái miền đất ồn ào đầy ô trọc và thù hận này biết đến bao giờ mới lại có được những con người, những quyển sách biết yêu quý tương kính lẫn nhau như thế. Chính lúc này tôi mới thấy thấm thía nỗi đau mất sách của ông.
     Tôi vừa buông tay ra thì ông ngừng thở. Ông chết nhẹ nhàng như gấp lại một cuốn sách. Tính ra, ông đã để tang cho sách đúng một trăm ngày./



 

.

 

 

HOA HỌC TRÒ-Trời đất dành riêng tuổi học trò.Một loài hoa đỏ rất nên thơ...

HOA HỌC TRÒ-Trời đất dành riêng tuổi học trò.Một loài hoa đỏ rất nên thơ...
Mỗi năm hoa nở mùa thi đến.Chạnh nhớ trường xưa nhớ bạn bè .Nguyenuthang ..