12 thg 7, 2020

PHAN THIẾT - QUÊ TÔI, NGÀY BÉ THƠ LỚN LÊN ( Phần I & II )

 Phần I 


        Hồi còn trai trẻ thời Trung học, thầy Thuận dạy Pháp văn cứ nói hoài : 
Il ne faut jamais remettre au lendemain ce qu’on peut fair le jour même” 
để nhắc nhở tính không ham học của tôi, nhưng thế nào vẫn nấy, đã hơn bốn chục năm rồi, có gì thay đổi đâu, vẫn cứ để đến ngày mai những gì có thể làm ngày hôm nay. Từ rất lâu trong tâm, kỷ niệm cứ thôi thúc ký ức hãy nghĩ về, ít nhất một lần sống lại thời niên thiếu xa xôi mộng mị. Rồi thời gian âm thầm qua đi như bóng câu, như nước chảy dưới cầu. Bây giờ ngồi lại đây mò mẫm đường về năm xửa năm xưa mà cứ an ủi “thà có còn hơn không”.
       Vẫn biết “không đâu đẹp bằng quê hương”, bây giờ đã đan mờ dây thời gian và bụi cát phong trần còn đó, mà tuổi hoa niên vàng son thì đâu rồi, còn chăng huyễn hoặc, hồng hoang!?. Cha mẹ già đã người thiên cổ, vẫn còn bên tai lời giáo huấn “ sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn”, không bao giờ quên “ thờ lúc đã chết cũng giống như thờ lúc còn sống”. Bà con, bè bạn…phong ba kẻ còn người mất. Cảnh cũ tích xưa gom lại còn bao nhiêu vết rêu phong mờ mờ nhân ảnh!?. Thôi thì, về nhặt nhạnh những vụn vỡ thuở xưa hiễn hiện trong từng tế bào não bộ khi mà, chưa tay rờ, chưa chân đạp lại “dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo” xa rồi thời học trò quần xanh áo trắng.


       Tôi sống trong thành phố Phan Thiết, theo tí tách kim đồng hồ trưởng thành. Thời Phan thiết dần mất đi tên những con đường Pháp là lạ: “Rue des Pêcheurs”, “Quai de la Saumure”, “Rue de cá Nục”, “Rue de cá Mòi”… và một Nhà hàng ông Tây cụt tay thích săn voi, ngay ngã năm chân đầu cầu Quan, có phải “Marceau” không? rồi thành vườn bông thời Tỉnh trưởng Lưu Bá Châm để, có nơi cho những thằng nhỏ chúng tôi mệt chân dạo phố đêm, ngồi tâm sự chuyện đời bá láp. Thời mà những ông Tây đen, Tây trắng nhậu nhẹt la hét om sòm trong ngày lễ Ðộc lập “Cắt-to Ruy-dzê” ( Quartoze Juillet ) của Pháp, lính Lê dương bắn lộn với lính Partisan, làm khiếp đãm khắp phố, đến hồi thị xã nầy giữa thập niên 1970, dân số xấp xỉ 80 ngàn. Phan thiết cách Sài Gòn 198 cây số về hướng Ðông-bắc, có chiều dài 7 cây số, trước có tên Chàm là “Hamu Lithit”, theo nghĩa: hamu là xóm ruộng bằng phẳng và lithit là ở gần bờ biển.
        Phan Thiết trở thành thị xã chưa minh định ranh giới từ năm 1898, thời vua Thành Thái, nằm trong tỉnh Bình thuận đặt tại Phú tài. Năm 1910, Toàn quyền Ðông dương A.Khobukowski mới định hình địa lý và năm 1918, Khâm sứ Trung kỳ Charles tách Phú hài ra khỏi Phan thiết. Thành phố có con sông Cà ty chảy qua làm Phan Thiết đẹp, hữu tình, thơ mộng. Khúc tiếp biển Thương Chánh gọi là sông Mường Mán. Trên sông có cây cầu Quan làm từ thời Pháp năm 1928, cây cầu đúc Trần Hưng Ðạo, do công binh thời Ðệ nhị Việt nam Cộng hòa làm và cây cầu Mỹ, loại cầu gổ dã chiến, nối liền hai đường Võ Tánh bên Ðức nghĩa và Trần Cao Vân bên Phú trinh lại với nhau, do Mỹ làm. Tôi còn nhớ, thầy tướng số Huỳnh Liên nói: “chừng nào Phan thiết có ba cầu, thì dân Phan thiết phát giàu phát sang”. Chẳng thấy giàu cũng chẳng thấy sang gì hết. Mấy ông tướng số, nói dzậy mà không phải dzậy !.


          Phải nói thêm về cây “Cầu Quan”, cây cầu gần như hằng ngày, hằng đêm, tôi bên hữu ngạn phải qua bên tả ngạn đi học, đi chơi, đi làm, đầy vơi kỷ niệm. Người Phan thiết sẽ không bao giờ quên nạn lụt quá hãi hùng năm Nhâm thìn 1952. Cầu dẫu trên cao vẫn bị trôi ra biển như thường và thành phố là biển nước cuồn cuộn cuốn người, tài sản, nhà cửa vào chốn tiêu tán, tang hoang!. Như là chưa đủ, một lần nữa, người yêu của bạn tôi, không biết tại làm sao, thân gái nhẹ dạ vậy mà cả gan tự tử, đứng trên thành cầu “plonger” xuống giòng nước thăm thẳm đang lừng khừng ra biển xa sóng động!. Ngày xưa, đâu cuối thế kỷ XVIII, nó chỉ là một cây cầu gổ dài 161 mét có tên là Thắng kiều, do những tráng đinh xã Ðức thắng làm nên, nối liền hai bờ Nam-bắc con đường cái quan. Có phải vậy không, cầu có tên là cầu Thắng rồi là cầu Quan?.


        Bên bờ sông tả ngạn, lừng lững là “Tháp nước”, chúng tôi cứ gọi theo tiếng Tây là “Sa-tô-đô“ ( Château d’eau ) cao đến 32 mét, là một biểu tượng đặc trưng và hãnh diện của người dân Phan thiết. Tháp được thiết kế bởi Hoàng thân Xouphanouvong, thời làm cho sở Công chánh Trung kỳ ( Travaux publics ) ở Nha trang?, sinh năm 1909 và mất năm 1995, tốt nghiệp Kỹ sư cầu cống từ trường Pháp “École National Des Ponts Et Chaussées” năm 1937, Chủ tịch nuớc Cộng hòa Nhân dân Lào từ năm1975 đến1997, có một người vợ Việt nam là bà Nguyễn thị Kỳ Nam, sau đổi tên Lào là Vienkham. Tháp được xây dựng bởi nhà thầu Ưng Du, một Hoàng tộc nhà Nguyễn, khởi công từ năm 1928 và đến năm 1934 thì xong.         Ngang đây, tôi cũng thắc mắc là, làm sao tháp nước đã xúc tiến và hoàn thành từ 1928 đến 1934, trước khi ông Xuphanuvong tốt nghiệp bằng kỹ sư năm 1937 và làm việc cho sở Công chánh Trung kỳ tại Nha trang?. Nhìn quanh “Château d’eau”, chúng ta thấy bốn chữ vòng tròn “U.E.PT” bao quanh bồn nước trên cao, ghép bằng mẽng sành, mẽng sứ cổ, viết tắt từ chữ “Usine Des Eaux De Phan Thiết “. Phan thiết là tỉnh lỵ nhưng mang đặc trưng hầu hết tính cách của con người, của đất đai tỉnh Bình thuận, cho nên nói hết những gì của Bình thuận là nói cho Phan thiết. Nói hết những gì của Phan thiết là nói cho Bình thuận. 
          Không lạ gì, khi người hỏi: “anh chị ở đâu?”, người trả lời: “tôi ở Hòa đa”, “tôi ở sông Lũy” hay “tôi ở Ma lâm”, “tôi ở Ðức thắng”…Chúng tôi đều xuề xòa: “cùng dân Phan thiết cả”. 
      Thân thương là chỗ đó! Lạ lùng là chỗ đó! Cũng như, tôi sẽ nói tới những địa danh nổi tiếng của Bình thuận như Lầu Ông Hoàng, Tà cú, Mủi né, Phú quý…có phải của Phan thiết đâu, nhưng là của Phan thiết đó quý vị ạ. Người ta biết Phan Thiết hơn là biết Bình Thuận mà.

 

       Ðiều tôi muốn nhắc đến đầu tiên là ngôi trường cũ Trung học Phan Bội Châu Phan thiết. Ngôi trường mà học sinh được vào ngồi ghế không dễ chút nào. Niên khóa 1956-1957, sau kỳ thi tuyển vô cùng cam go mà, cả một phần phường Lạc đạo, cả phường Ðức long, cả thôn Phú phong, cả Gò bồi, cả Văn phong, Văn lâm và có thể là cả Mương mán nữa, chỉ có hai người thi đậu. Nhà trường được thành lập theo lệnh Thủ hiến Phan Văn Giáo năm 1950 với tên là trường Trung học Bình thuận. Những niên khóa đầu tiên từ năm 1951 đến 1953 phải học nhờ trong các trường Tiểu học Ðức thắng, Nam Tiểu học Phan thiết. Ðến niên khóa 1954-1955, có cơ sở tạm trên đường Trần Hưng Ðạo, sau khi mướn được căn nhà của ông bà Hồng Hưng, trường mới có tên là trường Trung học Phan Bội Châu.
          Năm 1956, trường dời về địa điểm chính thức nằm trên đường Nguyễn Hoàng thuộc phường Phú trinh, một khu đất hoang, mua rẻ của bà Hồ Thị Liệt. Vài lớp vẫn còn ở lại học năm chót trường cũ, trong đó có lớp mới vào của tôi. Hiệu trưởng đầu tiên là thầy Lê Tá, từ 1956 đến 1963 , kế theo là các thầy Hiệu trưởng Ðào Trữ, từ 1963 đến1966, Nguyễn Tiến Thành, từ 1966 đến 1968, Nguyễn Thanh Tùng từ 1968 đến 1973, Lê Khắc Anh-Vũ từ 1973 đến 1975.

 

     Khởi đầu, nhà trường có 2 lớp Ðệ thất 110 học sinh, đến niên khóa 1956-1957 tôi học, đã lên 540 và trong niên khóa 1974-1975 có đến 72 lớp học Ðệ nhất cấp với 4092 học sinh và 25 lớp học Ðệ nhị cấp với 1337 học sinh.



       Những năm dài từ Ðệ nhất đến Ðệ nhị cấp, biết bao kỷ niệm “đời-học-sinh-phấn-trắng-bảng-xanh-hoa-phượng-đỏ”. Có những lần ngồi trong quán nước đá của ông bà Chương người Huế bên kia đường, học đòi “phì phèo điếu thuốc tàn, tàng tàng ly cà phê đá”…mê mệt những bộ áo dài trắng bay bay của các nữ sinh mưa phà, gió phủi…cũng đủ là những nguồn thơ vô tận: “áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc, áo nàng xanh anh mến lá sân trường”, cũng đủ là những thọt lét tình lãng mạn trai gái và tính nghình nghịch bọn “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”: “tháng Bảy trời mưa, trời mưa không dứt, trời không mưa anh cũng lạy trơì mưa”. 
          Phan thiết có các trường Trung học Tư thục Bạch vân, trước nằm trong khuôn viên chùa Bà, góc đường Triệu Quang Phục và Ngô Sĩ Liên, dưới những tàn cây bàng mát bóng, phường Ðức thắng, thời tôi còn mài đũng quần ở trường Nam Tiểu học Phan thiết gần đó, thường chia phe đá banh, sau trường dời qua phường Phú trinh, trên đường Hải Thượng Lãn Ông, sát bệnh viện và sân vận động Quang trung Phan thiết. 

  • Trường Trung học Tư thục Tiến đức của thầy Ðặng Vũ Tiễn, ban đầu ở đường Ðồng Khánh, nơi có hai cây nhãn bị “bọn quỷ, bọn yêu” phá quá, chưa bao giờ thấy có trái ăn, nằm trước mặt nhà ông bà Trần Thiện Hải, song thân các ca sĩ Nhật Trường và Như Thủy, sau dời về nơi tạm của trường Phan Bội Châu ngày trước, nằm giữa ty Thông tin và ty Tiểu học vụ.
  • Trường Trung học Tư thục Bồ đề, nằm bên kia đường với trường Nam Tiểu học Phan thiết, trên đường Nguyễn Du, trước mặt là đường Triệu Quang Phục với chợ than, chợ mía, khu cỏ hoang, sau lập thành dãy phố lầu khang trang, có rạp hát “Lilas” lớn nhất Phan thiết của ông bà Hứa Văn.
  • Trường Trung học Tư thục Chính tâm của cha Nguyễn Viết Khai, được đổi tên từ trường Trung học Tư thục Ngô Ðình Khôi sau năm 1963, thầy Nguyễn Quốc Biền làm Hiệu trưởng. Trường nằm trên đường Huyền Trân Công chúa hướng xuống bải tắm Thương chánh, đầu địa phận phường Bình hưng.
  • Trường Trung học Bán công Phan Chu Trinh, bên kia đường và kế cận trường Phan Bội Châu, cùng trên đường Nguyễn Hoàng, những năm đầu, các thầy Bùi Hữu Huân, Ðào Trữ làm Hiệu trưởng. Nơi mà, một lần thi Tú tài I, tôi phải chạy xe đạp bán mạng về nhà lấy cho kịp căn cước bỏ quên, đến nơi sắp khui đề thi. May năm đó đậu, tiếp tục con đường học vấn lên Ðại học, không thì toi mạng, Ðồng đế là chắc.
      Tất cả các trường Trung học trong thị xã đã tạo cho thành phố một khuôn mặt thật dễ thương chi lạ, nhất là vào những giờ tan trường, bay bay những tà áo trắng nữ sinh qua cầu Quan, bên kia, “Châtaux d’eau” cao vòi vọi, lấp lánh bóng dưới nước trong xanh, lững lờ ra biển. Ði xa ra hướng Mũi né là lầu Ông Hoàng của Công tước De Montpensier, cháu nội vua cuối cùng nước Pháp nằm trong địa phận Phú hài, cách Phan thiết chừng 7 cây số hướng Ðông bắc. Lầu xây ngày 21/2/1911, có diện tích khoảng 500 mét vuông trên đồi Bà nài có độ cao chừng 15 mét so với mặt biển, kế bên có tháp Chàm Pôsahnư là con của vua Parachanh và hoàng hậu Pônagar ở vào thế kỷ XIV, có mộ Nguyễn Thông xây năm 1884, chùa cổ Bửu sơn xây năm 1900, núi Cố…và biển xanh, cát trắng. Lầu nguy nga với tất cả tiện nghi, văn minh Pháp thời bấy giờ: có tháp nước, có máy phát điện, có phòng ốc sang trọng và khung cảnh hữu tình khoáng đạt, được đạt tên là “Nid d’Aigle -Tổ Ó”. Về sau có thêm hotel Ngọc lâm bên cạnh của một người Pháp tên Bell.


lầu Ông Hoàng 

        Cả lầu Ông Hoàng và hotel Ngọc lâm được chính phủ Phápmua lại để cho công chức cao cấp nghỉ mát, đến tháng 12 năm1933, biếu lại hay bán lại? cho vua Bảo Ðại. Lầu bị chiến tranh phá hủy vào ngày 14/6/1947 và trở nên điêu tàn, hoang phế từ đó. Nơi đây để lại một mối tình vừa rất đẹp lại vừa rất buồn của Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm làm ta ai không khỏi ngậm ngùi những câu thơ sầu bi ai : 


“Lầu Ông Hoàng, người thiên hạ đồn vang,
 nơi đã khóc, đã yêu thương da diết.
            Ôi trời ơi! là Phan thiết! Phan thiết!... 
 Hởi Phan thiết! Phan thiết! 
               Mi là nơi ta chôn hận nghìn thu. 
                             Mi là nơi ta sầu muộn ngất ngư”. 


       Ðôi cặp trai gái yêu đương buổi đầu nào sống trong Phan thiết lại không tới đây một lần để lại dấu vết một thời. Tôi cũng vậy, đến đây vài lần với nàng, rồi cũng chia tay.
   “Say thôi lại muốn Nàng nâng đỡ,
      nhưng Nàng xa từ thuở vu qui.
           Nhớ thôi lòng những sầu bi, 
                         lệ rơi vào rượu, hàng mi lờ đờ”. 

            Bên kia, cụ Nguyễn Thông nằm đó, chắc cũng thương cho sấp nhỏ, không nói một lời. Ông sinh năm 1927 tại Long an, đậu Cử nhân năm 1849, làm Ðốc học Vĩnh Long, rồi Ðốc học Bình thuận năm 1881, sống và mất năm 1884 tại Phan thiết, thọ 57 tuổi. Con ông, ông Nguyễn Trọng Nội tham gia Phong trào Ðông du của cụ Phan Bội Châu, lập ra trường Dục thanh, nơi có “Ngọa Du Sào” của thân phụ làm chỗ đọc sách, ngâm thơ lúc còn sống. Con của ông là Nguyễn Trọng Nội, cháu của ông là Nguyễn Quý Phầu, Nguyễn Quý Môi mà Phan thiết thời đó không ai là không biết, ngay cả chúng tôi còn bé tí tẹo. Chắt của ông là Nguyễn Minh Luật, rể nhà văn Bình Nguyên Lộc.
           Phan Thiết là một hội nhập hữu duyên của những người miền Trung: từ Quảng Bình, Quảng trị, người của chúa Trịnh, chúa Nguyễn Phúc Lan bắt được, đến Quảng nam, Quảng ngãi, Phú yên, người của nhà Tây sơn, vua Gia Long bắt được đem hết vào đây khai phá vùng đất mới với dân Chàm địa phương. Sau Hiệp định Genève năm 1954, dân Hà tỉnh, Nghệ an sống nghề biển vào vùng cồn cát Thương chánh, Ðầm, lập ra ấp Vĩnh thủy, Vĩnh phú và sống nghề trồng trọt, ruộng nương thì khai hoang vùng Hàm thuận lập ra ấp Văn phong ở Mương mán và Văn lâm ở Phú lâm. Dân Ba làng, Thanh hóa ở cầu Ké lập ra xã Thanh hải. Thanh hải xưa là một vùng “động”, “sở thùng” hoang liêu những cây mù u, bồn bồn, xương rồng, lưởi long, cây keo, dây gai…cát và cát. Những năm Ðệ thất, Ðệ lục…chúng tôi thường năm, bảy đứa đèo xe đạp ra đây bắn chim , tắm sông, bắt dòm. Như một phép màu, vài thập niên sau, tính cần cù, thông minh, đoàn kết…người dân Ba làng đã lập ra một Thanh hải, phố phường giàu có, sầm uất, những “xóm đạo” thuần túy và tiêu biểu.

 
       
         Ðã một lần được theo trường Phan Bội Châu leo dốc lên cắm trại ở lầu Ông Hoàng và xuống dốc, đi qua “Ðá Ông Ðịa” cắm trại ở Rạng, cách Mủi né chừng 5 cây số và Phan thiết 17 cây số. Ðồi cát, rặng dừa, biển xanh... khiến lòng ai cũng cảm thấy nhè nhẹ, chơi vơi, mênh mông!. Bắt “dông”, ăn mãn cầu dai, uống nước dừa, tắm biển, tuột cát…với bạn gái mới chớm tình yêu đương đầu đời thì thần tiên quá chừng!. Làm người mộng du về tìm dĩ vãng những nơi một thời dấu chân kỷ niệm, không phải nhà biên khảo ngúy ngoáy hết những “cái có”, “cái của” Phan thiết, Bình thuận. Tôi mò mẩm về vạn Khánh Long trong phường Ðức long, nơi ê a lớp Tư với thầy Thính, lớp Ba với thầy Lê năm 1953,1954 ngay trong vạn và sống gần cả thời son trẻ. Trưa hè theo bạn, đong đu qua lại hai cây bông sứ màu vàng trắng, chơi “năm mười mười lăm”, đánh “đáo lạc”, làm “Hoa kỳ anh Hoa kỳ em” và nhất là, coi lễ “Ông lụy”, xem “múa bóng”, xem hát bội đêm ngày 15, 16, 17 tháng 6 Âm lịch hằng năm trong kỳ lễ “Thần Nam Hải”, còn gọi là “Lệnh Sanh Ông” mà người thường gọi là cá voi. .
         Làm sao mà quên cho đành, vào niên khóa 1954-1955 học lớp Ba, nhờ đứng nhất toàn trường Tiểu học Ðức long về học lực và hạnh kiểm mà phần thưởng được Trung tá Tỉnh trưởng Thái Quang Hoàng phát cho quá nhiều đến nổi, tôi và ba tôi phải đi xích lô mang về. Vạn là làng của những người sống nghề đánh cá ven biển, ven sông, có tính cách nghề nghiệp. Vạn Nam nghĩa thuộc phường Ðức nghĩa. Vạn Nam hải thuộc phường Hưng long. Vạn Khánh long thuộc phường Ðức long…Lớn nhất và có tính lịch sử nhất là Vạn Thủy tú nằm trong địa phận phường Ðức thắng, trên đường Ngư ông có nhiều ổ gà, mặt hướng ra biển gần đó, xây dựng từ năm 1762, cổ nhất Phan thiết. Vạn Thủy tú vẫn còn những di chỉ, sắc phong thời Tự Ðức, Ðồng Khánh, Duy Tân…và bộ xương cá voi lớn nhất nước.
         Vì là xóm biển, bên cạnh vạn còn có làng. Làng tôi có khi kêu là Hộ Ðức long, có khi là Ấp Ðức long, có khi là Phường Ðức long với mái đình là đình Ðức long, xưa thường gọi là đình Tú long, cũng gần nhà nhưng không thân. Vạn Khánh long là làng của những ngư dân xóm Câu, phường Ðức long và xóm Ghẹ, phường Lạc đạo hợp lại. Nhà tôi trọn lỏn trong thẻo đất chưa đầy một cây số giữa biển Ðức long và sông Cà ty. Chuyện xấp nhỏ chết đuối là thường. Một lần cả đời không quên, may nhờ anh bạn Bé bơi ra cứu, không thì chết đuối tại khúc sông “Mả lở” từ năm xửa, năm xưa.
         Hồi đó khoảng những năm 1950, ở đây kín mít những mả vôi to lớn, chắc chắn của ngưòi Hời xa xưa, xen lẫn mả đất, mả xây sau nầy của người Việt và một ít của người Tàu trên động cát ngà ngà, chạy dài lên tới đồn chữ Y, tới Mả lạn, tới Căn, đầy những hang ổ rắn, chuột, chồn, mèo, chó hoang, cây gai lưởi long, xương rồng, cây keo, cây me và cây mù u xanh lơ, cây bồn bồn bạc thếch, dây leo, cỏ dại chằng chịt, cô liêu vài chục gia đình lơ thơ, quạnh quẻ. Nơi cho chúng tôi thả giàn dang nắng bắn chim sẻ, bắt dế đá, bẩy “dông thềm”, đôi khi đánh lộn nhau rồi ôm bụng cười huề và có lúc thì, bị “chó đẻ” rượt chạy trối chết. “Dế lửa mạnh càng, dế than mạnh thúc, dế hang chịu húc, dế trục không thua ai”, chúng tôi thường kháo nhau như vậy và khoái dế tại đây lắm, đá thắng hết cả dế Lạc đạo, dế Ðức nghĩa, dế Ðức thắng, có lẻ “tụi nó” quen “chiến đấu” trong vòng “lửa đạn”. “Dông thềm” con nào con nấy đỏ ối, to lớn dềnh dàng, có thua gì dông ở Mủi né, ở Lương sơn?.


         Nói thì nói, gia đình tôi chưa ai “dám” ăn thịt dông bao giờ. Ở đây, vào những ngày tháng Chạp, lễ Thanh minh, người ta đi dẫy mả, cúng mộ, đông hơn ngày hội, từ ba bốn giớ sáng đến chiều tối, cũng là nơi hằng ngày tôi phải chứng kiến tận mắt những đám tang hiu hắt buồn và người ta than khóc thảm thiết. Ðêm đổ xuống như lãng đãng đâu đây hồn ma bóng quế nhát người yếu bóng vía. Lũ trẻ chúng tôi lỡ chơi khuya về, phải hai tay nắm thật chắc, vừa chạy thật nhanh vừa hét thật to “án ma ni bát nhị hồng”, mà không biết ý nghĩa gì ráo. Sau được nghe nói: “Án Ma ni Bát nhị Hồng” là câu chú “Lục tự Ðại minh Chân ngôn” tiếng Phạn của người Tây tạng thuở xưa, cầu Quán Thế Âm Bồ Tát, viết theo âm chữ La tinh là “Om Mani Padme Hum”. 
          Trong làng thôn hiu hắt nầy thuở đó, nổi tiếng nhiều ma, nào là “ma Gáo”, “ma Hời”, “ma Trơi”, “ma Chó”, ngán nhất là “Ó Ma Lai” nửa đêm rút đầu ra khỏi thân người, mang theo khúc ruột lòng thòng tìm ăn phân người. Ai chẳng may “ịn” cái của mình ra đó bị nó ăn, trước sau gì cũng chết. Ai cũng kể, mỗi người khác nhau thêu dệt có có không không đến hãi hùng. Tôi chưa bao giờ thấy hay “bị nhát.
       Trừ nhà ông Cữu Mạnh bán thuốc Bắc thuốc Nam văn minh giàu có, thời đó dám đúc 3 cột đèn “béton armé” dẫn điện từ đường cái quan vào tận nhà trong xóm xa gần biển, còn lại hết thảy nơi đó là, những bạn chài, những dân vùng khác về, những lao động tay chưng, những thợ mộc, thợ hồ, thợ cưa lặt vặt…sống cơ cầu. Trách gì già trẻ trai gái, cứ tự nhiên không mắc cở chút nào, ra bờ sông thoải mái xả “cái nợ đời” dưới hàng cây bần, cây mắm đang reo cười trong gió. Và không tránh khỏi chúng tôi, có khi phải tắm trên giòng sông lềnh bềnh “cái nợ đời” của ai đó.


      Trong khu phố nhỏ nhoi, nghèo nàn nầy vào những năm khai thiên lập địa như vậy đó, không thể không có “Thím Bảy Bánh Căn”, má của anh bạn Sáu ngoẻo. Tôi cứ phải ngồi trên cái “đòn” bệt sát đất trước nhà ông Tửng mỗi sáng, chờ bánh căn nóng hổi ra khuôn. Thím vừa quạt lò, vừa múc bột đổ vào khuôn, đậy, dở nắp “dung”, cạy bánh ra, một cái chấm hành mở, một cái không, kẹp vào nhau thành cặp, để vào tô, chang nước mắm hay nước cá kho, nhanh như máy cho tôi ăn kịp đi học. Nước mắm đo đỏ, mằn mặn, chua chua, cay cay…và nước cá nục hay cá ngừ kho mía lau đen đen, lạt lạt, beo béo, ngòn ngọt, thơm thơm mùi tỏi ớt. Bây giờ nhớ lại mà thèm.
     Nhà tôi không giàu nhưng ngon lành hơn ai trong “Xóm Ngũ Hành” nầy, có cái máy hát lên dây thiều và gắn kim, hiệu Columbia mà bà con quen gọi là “Cô lum da, con chó có cái loa” và cây đèn “măng sông” đọc theo tiếng “manchon” của Tây do ông Carl Auer von Welsback, người Áo sáng chế từ năm1887. Nhờ hai bửu bối nầy mà tôi còn nhỏ xíu và anh kế cũng chẳng lớn hơn bao nhiêu, được mời hết đám cưới nầy đến đám hỏi kia để “hát cho vui” và “sáng cửa sáng nhà” giùm cho người ta “xôm tụ”. Anh tôi canh lên dây thiều cho đúng, đừng yếu, đừng đứt; Canh cây manchon cháy sáng cho ngon lành, đừng tối, đừng tắt. Tôi mài kim cũ, lau dĩa, đừng để ông Út Trà Ôn, cô Lệ Liễu… “hát cà lăm” hay “kéo nhựa”:

“Ôi!, nhìn trời hiu quạnh, màn đêm sương gió lạnh,
hướng quê nhà, lòng thêm chạnh tủi niềm riêng. 
Em Lan ơi, muôn dặm xa xăm, xin em giữ trọn hương nguyền, 
để cho người cô lữ khỏi phải mang niềm tủi hận…”
hay là 
“Chính giữa cái mả cao, hai bên cái mả thấp,
chú ấy đem chôn lấp xác bướm với cành lan…”

        Cũng thời đó, an cư lạc nghiệp lắm, chưa thấy chiến tranh, đi chỗ nào cũng nghe Ngọc Cẩm-Nguyễn Hữu Thiết giọng lờ lợ Huế-Quãng trị qua cái “radio ấp chiến lược”:
“Trong đêm trăng, tiếng chày khua, 
ta hát vang trong đêm trường mênh mang.

Ai đang xay, chày buông rơi nghe tiếng vơi tiếng đầy…” 
hay
“Đêm nay bao con thuyền về đậu xuôi mái.
Ai ca dưới trăng ngà, gần xa vắn dài, 
Mái chèo khoan thai,trên sông hai màu, con thuyền về đâu.  
Ô hay!, sao trăng rụng xuống cầu?...” 

mà thương cho thời tuổi trẻ qua mau quá!, đất nước thanh bình ngắn ngủi quá!...
Hồi đó, tôi cứ áo thun, quần xà loỏng, cái nạn thun lội khắp Xà khòm, chùa Ông Rau, cầu Bốn mươi, Lò tỉn, Mả lạn, Căn, Phú long, Phú hội, Phú hài, Xung phong, Ðại nẫm, Vĩnh phú, Vĩnh thủy, Thanh hải… “người đen thủi đen thui như Hời” - má tôi thường nói vậy . 
         Lũ chúng tôi: Hùng cận, Tăng dịt, Cẩm ná…và tôi, thường được sư bà chùa Mã lạn, còn gọi là chùa Long hải, nằm trên những bậc thềm cao, đối diện là chùa Bảy đầu rồng mới làm, do ông Biện Thành Nhơn người Phú yên đứng coi cất năm 1960, thầy Giác Thạnh trụ trì. Gần như lúc nào cũng vậy, Sư bà vừa phơi bông sứ làm nước uống vừa lấy chè, xôi, chuối…cho chúng tôi mà nói: “ăn no đi các con” và khuyên thật nhiều rằng:” đừng bắn chim, tội lắm!”. Dạ dạ, rồi lại đi bắn. 
     Chúng tôi chưa làm theo lời dạy một lần. Tội nghiệp Sư bà!. Dễ ghét và lạ đời mấy thằng nhỏ !?. Từ năm Ðệ ngũ trở đi, mới biết chút “mèo mỡ”, ngâm nga thư tình, rong chơi những cuộc hẹn hò, lang thang những đường phố vắng. 


( Hết phần I )
Phần II
             Từ Phú hài theo hương lộ, băng qua Xóm lụa, nơi hợp lưu của các con sông Cạn, sông Cái, sông Quao, cũng là nơi người ta họp thành xóm, vừa mua tơ, mua tằm ở “Xóm tằm” ngoài vùng “Chợ lầu”, lại trồng thêm dâu, nuôi tằm, ươm tơ đủ để dệt lụa bán tứ xứ. Dẫu bây giờ tên gọi chinh thức là Phú long, nhưng ai ai cũng còn quen gọi tên xưa kỷ niệm “Xóm lụa”. Phú long, nổi tiếng lòng heo bánh hỏi, “Ai về Phan thiết cho theo, Phú long bánh hỏi lòng heo, nhớ hoài”.


Bánh hỏi lòng heo Phú Long

      Nơi khi xưa gia đình tôi tản cư đến, trong một lần chạy trốn Tây đi “patrouille”, ba má tôi đã bỏ quên tôi đang ngủ trên “đòn bào” giữa nhà. Nơi hồi nhỏ thấy ông thầy ngãi đạp, bóp, nhai vỏ chai beer lớn mà trị “bịnh đàng dưới” cho bà chị họ. Nơi vẽ vời phơi phới kỷ niệm với người bạn gái từ Sài gòn ra. Mỗi khi ra chơi vùng nầy, có lên, xuống dốc lầu Ông Hoàng thì, chúng tôi nhất thiết cũng phải ghé vào chợ Phú hài làm một ly đá chanh muối dưới tàng me già kín nắng, rồi mới tiếp tục lên đạp xe đạp, chứ không nổ máy Mobylette, Candy, Sach, Goebel hay Puch như mấy bạn con nhà khá giả thời bấy giờ. Trên đường băng qua Phú long, có lúc chúng tôi chạy vào thăm, thắp nhang “Mộ Thần Thái Giám” xa xa bên kia đường trên hương lộ Phước Thiện Xuân nầy. Mộ to, lùm lùm tròn, rêu phong, nứt nẻ, bên cạnh có con ngựa đúc, sụp quì như tỏ lòng tôn kính và trung thành. Nghe kể: “ngài đi ngựa xuôi Nam, đem theo hài cốt vua Quang Trung trốn cuộc truy sát của quan quân vua Gia Long vào năm 1802, bị tử thương, mất đầu. Con ngựa cứ mang xác ngài chạy mãi, chạy mãi đến đây, ngày xưa gọi là Sơn Thủy, đuối sức, chết. Lịch sử là sự phơi trần xương, máu, chết chốc, nước mắt, điêu linh…mà nơi đây, Phan thiết, Bình thuận ngày xưa là những bãi chiến trường khốc liệt Việt-Chiêm, Gia long-Nguyễn Huệ người giết người ghê gớm!. Oan hồn, uổng tử vật vờ làm “…ma Bình thuận”.

        Qua cầu Phú long về hướng Phan Thiết là Kim ngọc. Ở đây có nhà thờ cổ Kim ngọc, được cha Pháp Bennattat dựng sơ sài năm 1748, là một trong bốn nhà thờ đầu tiên, xưa nhất ở Bình thuận: nhà thờ Lạc đạo, nhà thờ Kim ngọc, nhà thờ Tầm hưng và một nhà nguyện ở sông Lũy. Ðến những năm 1833-1890 bị đốt, phá nhiều lần bởi lệnh cấm đạo, bởi Phong trào Văn thân, bởi “Bình Tây Sát Tả”…Sau do cha Nguyễn Thông Lý cất lại năm 1919 cũng bị chiến tranh Việt Pháp tàn phá.Sau bao lần hưng phế, “Nhà Thờ Mới” khang trang, kiểu cách giống nhà thờ Ðức Bà Sài gòn được hoàn thành ngày 09/11/2006 sau hơn bảy, tám lần trùng tu, dời đổi, làm mới.

 nhà thờ Lạc Đạo
          Nhưng nói về kỷ niệm thì, nhà thờ Lạc Đạo mới là nơi để lại trong tôi sâu đậm nhất dấu vết một thời. Nhà thờ cất lại năm 1890, bên kia khu Mã tây trên đường Trần Quý Cáp, từ một nhà nguyện vách tre mái tranh, khoảng những năm 1875-1880 cố Sáng, một người Pháp tên Việt đã xây thành nhà gạch mái ngói. Các cố Mossard, Masseron mở thêm nhà xứ cho các vị Thừa sai, sau sẽ là Chánh xứ lần lượt là cố Henrisson, cố Hiền, cố Ba đều là những người Pháp lấy tên Việt, cố Brugidou…cho đến cố Victor Caillon là vị Thừa sai sau cùng. Linh mục đầu tiên làm Chánh xứ là Cha Giuse Nguyễn Minh Chiến. Năm 1992, Cha Giuse Nguyễn Tiến Hinh đại tu giáo đường, ngôi nhà giáo lý, trường học giáo lý…Ngày 17/1/1975 giáo phận Phan thiết được thành lập dưới sự cai quản của Ðức Giám mục Nicolas Huỳnh Văn Nghi. Nhà thờ giáo xứ Lạc đạo được nâng lên thành Giáo Xứ Chánh Tòa và bên kia đường là Tòa Giám Mục Phan thiết. Ở đây có cây keo cao lớn nhất Phan thiết, đến mùa trái chín đỏ, vòng cong trên cành cao là lúc các chim sáo sậu, cưởng trâu, cưởng bông.. ở đâu về thả giàn vui thú mà thiện nghệ ná thun như chúng tôi chưa bao giờ bắn được con nào. Lạ thật!. Cũng tại đây có cây me già sum sê nằm bên kia đường trong khuôn viên ngôi nhà cổ trở thành tòa nhà Giám mục. Me dốt đầy cành mà không làm sao vào được. Các cô chịu chảy nước miếng!. Cây me, cây keo, nhà thờ nầy chứng kiến từng ngày tôi qua lại, lớn lên và những đêm về một mình với nỗi sợ ma Bình thuận, khi mà xe phở bắc của anh Bắc Kỳ trước nhà thờ đợi khách khuya về bán “xúi quách” và vài “chuyện trời ơi” không được nữa, đã dọn về. Ngày đó Noel vui lắm, thánh lễ, rước kiệu, Chúa sinh và đặc biệt chờ ăn “réveillon” với bồ.
      Rẽ trái đường Ðồng Khánh, đi một chút là chùa Phật Học mới xây năm 1940 với tên An Nam Phật Học Hội. Năm 1950, chùa thành lập Gia Ðình Phật Tử đầu tiên ở Phan thiết cũng là trụ sở Tăng Già Bình Thuận từ những năm 1951 đến 1964. Dù không cổ kính như các chùa Phật Quang, còn gọi là chùa Cát xây năm 1736 ở Bình hưng, chùa Liên Trì xây năm 1756 ở Ðức nghĩa, chùa Bửu Quang xây năm 1762 ở Phong nẩm, chùa Bửu Sơn xây năm 1800 ở Phú hài, cạnh lầu Ông Hoàng,…nhưng chùa Phật Học được xem là chùa Tỉnh Hội của Phật giáo toàn tỉnh Bình thuận. Là một Phật tử nhưng tôi ít đi chùa, đọc kinh và sám hối, nhưng rõ ràng là, trong tâm khảm tôi, chùa để lại biết bao kỷ niệm thời trai trẻ. Nhớ những đêm thuyết pháp của các thầy Thích Tâm Châu, Thích Hộ Giác, Thích Giác Ðức thời biểu tình chống Ngô đình Diệm, người là người. Nhớ những đêm văn nghệ ngày Phật đản, ngày Vu Lan…thuở còn nhỏ, đông quá là đông người, phải leo cây, leo rào, leo tường…bị la, bị rượt, bị đuổi làm sao mà quên!?


 



     Phan Thiết không ai không biết “Lễ Nghinh Ông” cứ 2 năm một lần của các bang người Hoa tại chùa Ông thờ quan Thánh đế quân trong ba ngày: lễ Thỉnh kiệu bà Thiên hậu ( bên chùa Bà ), lễ Thỉnh nước , lễ Thỉnh kinh, lễ Quan thánh xuất du và “hè nia”, “xô giàn”, cả thành phố như trẩy hội tưng bừng, rồng, lân, phèn la, chập chả…và người y như thể tuồng hết ra ngoài đường chen lấn mà tôi không thấy ở đâu có. Chùa Ông còn gọi là “Quan Ðế Miếu” thờ Quan công, do người Tàu lập ra từ năm 1770. Chùa có hình chữ Kim, còn lưu giữ những chuông cổ giá tri thời nhà Thanh. Hồi đâu 17, 18 tuổi, chúng tôi khác gì những thằng a dua đến chùa ngộp thở khói nhang, khói pháo Giao thừa, bày đặt xin xăm, coi quẻ, đoán vận mạng với vài thằng bạn, đôi khi với một cô bạn, cũng hay hay, vui vui, khó quên!.


Khu du lịch Tà Cú

        Năm nào ngày mồng hai Tết, chúng tôi trai gái y như hẹn, rủ nhau đi “Chùa Núi”, thắp nhang lạy Phật là phụ, chính là để rong chơi những cuộc hẹn hò. Dù leo đèo, leo đồi dài hơn 2 cây số, có lúc dốc đứng 45 độ và ngoắt ngoéo như cùi chỏ mà vui, không mệt. Bây giờ nghe nói có dây cáp, chắc mất thú vị nhiều lắm, nhất là đâu còn nắm tay bồ nóng hổi mà dắt, mà dìu, mà kéo, mà lôi, mà…có khi ôm nữa. 
       Chùa ở độ cao 400 mét trên núi Tà cú, cao khoảng 650 mét, cách Phan thiết chừng 28 cây số về phía Nam. Năm 1872, thầy Thông Ấn, thế danh là Trần Hữu Ðức, người Phú yên, sinh năm 1812 và mất năm1887, lên tu trong một hang đá, sau gọi Ià Hang Tổ. Năm 1880 thầy có công trị lành bệnh cho Hoàng Thái hậu Từ Dũ, được vua Tự Ðức ban danh là “Ðại Lão Hòa Thượng” và chùa là “Linh Sơn Trường Thọ Tư”. Ngày 5/10 Âm lịch năm 1887, Ðại lão Hòa thượng Thông Ấn viên tịch, ngày nầy trở thành ngày Giổ Tổ. Thầy Tâm Hiền kế vị, lập thêm chùa phía dưới là chùa Long Ðoàn theo mẫn ý của Ðại lão Hòa thượng lúc sinh tiền. 
         Linh Sơn Trường Thọ Tư có tượng Phật nằm, dài 49 mét và cao 7 mét bê tông cốt sắt, sơn trắng, do điêu khắc gia Trương Ðình Ý, tốt nghiệp khóa điêu khắc trường Mỹ thuật Ðông dương năm 1935, đang ở Sài gòn, năm 1960 tự nguyện “bỏ phố lên rừng”, trần ai hơn 3 năm trời mới làm xong pho tượng nổi tiếng khắp vùng Ðông nam Á nầy vào thời thầy Thích Vĩnh Thọ trụ trì. Phía dưới là các tôn tượng “tam thế Phật”: A di đà, Quán thế âm và Ðại thế chí. Hồi còn nhỏ, nghe mấy bà mẹ ru con “cô kia tóc bới đuôi tiên, ghe bầu đi cưới một thiên cá mòi, không tin giở hộp ra coi, rau răm ở dưới, cá mòi ở trên”. Ngày đó, cá mòi dầu ở Phan thiết sao mà nhiều thế!?. Cá mòi dầu kho măng, cá mòi dầu kho hành ớt…ai không ăn, không thèm, không nhớ…đến nỗi “văn chương không bằng xương cá mòi”. Bây giờ đâu còn nữa!.

       Thời bấy giờ, thỉnh thoảng văn nghệ trong thị xã nghe Chí Tòng ,Trần Công Khai, Thu Nhi, Trang Mỹ Hạnh, Lâm Minh Văn, Trần Thiện Thanh…hát, vợ chồng La Tú Mỹ- Ngọc Thu, đờn Accordion và Violon, lúc mà hai người là Trưởng ban nhạc ty Thông tin Bình thuận. Trần Công Khai tức ca sĩ Anh Khoa, sinh năm 1948 tại Ðức thắng, Phan thiết trong một gia đình đông anh chị em. Năm 1962, mới 14 tuổi với bài “biệt kinh kỳ” đã đoạt giải nhất toàn quốc nam ca sĩ mầm non, cuộc sống lang bạt Nha trang, Ban mê thuột, Phan thiết… , sau đó nhiều năm, theo Jo Marcel chơi nhạc và trở thành ca sĩ nổi tiếng trong các phòng trà Tự do, Queen bee ở Sài gòn với những “bài không tên…” của Vũ Thành An. Bạn tôi rất thân, Trần Khánh Thiện là anh cả của Anh Khoa, dạy Anh văn trường bán công Phan Chu Trinh Phan thiết, đẹp trai, thanh nhả, phong lưu một thời trước năm 1975.

 



         Nói đến Phan thiết, làm sao không nhắc tới Trần Thiện Thanh, sinh năm 1942 tại Phú trinh, một nhạc sĩ tài ba cũng là một ca sĩ danh tiếng. Tôi biết sơ về ảnh từ ngày lảnh giải nhất ca sĩ toàn tỉnh đâu khoảng năm 1958,1959 gì đó, tại vườn bông thị xã, nhưng biết nhiều trên sân cỏ Quang Trung và Lạc đạo, dáng gầy, nhỏ con, thường với cái áo thun đỏ dài tay, luôn đứng trong khung thành giữ gôn, bị “dzô” 1 trái là nước măt chảy dài. Anh ta chơi trong đội những người lớn, còn tôi với những anh em nhỏ hơn, cho nên tôi cứ nghĩ, ảnh phải sinh trước năm 1942 Nhâm ngọ của tôi. Dẫu sao, lời nhạc Trần Thiện Thanh và giọng ca Nhật Trường cũng làm tôi cảm xúc thật nhiều thuở học trò cũng như thời chinh chiến: “thôi em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé, để anh buồn như anh chàng làm thơ. Em có hay trời buồn, trời chuyển mưa đó không. Biết yêu em là biết nghe chờ mong…”, làm thơm lây tôi người Phan thiết. 
       Thời mà Trần Thiện Thanh ôm banh ra sân, thường là sân Lạc đạo. Nói là sân, thật ra chỉ là khu đất không còn cỏ, bao quanh là nhà người ta ở, cũng là lúc mà những thằng nhỏ chúng tôi 14, 15 tuổi ở Ðức long lập ra đội banh Thiếu niên Ngôi Sao Sáng. Ðội banh có anh em thằng Lê Ðinh Bính, Lê ÐìnhThường, Ung Văn Ðức, Nguyễn Văn Sáu, Nguyễn Văn Hà…mỗi tuần xin ba má 3 đồng, đậu cho ông thủ quỷ Bính. Vậy mà, mua được trái banh hiệu Hungary và 2 con vịt, nải chuối, nhang đèn…cúng ra quân. Trận đầu tiên đấu với bọn thằng Trúc, thằng Tùng…bên Văn thánh trên sông Cà ty, thua 0-7, tất cả đều khóc, to nhất vẫn là Ung Văn Ðức. Trái banh được anh em thằng Bính giữ kỷ lắm, không cho ai ngoài hội đá, bị mang tiếng “đem để bàn thờ mà cúng” là vậy đó. 


Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn

        Ðầu năm 1992, tôi gặp Nguyễn Bắc Sơn ngang phòng răng Nha sĩ Quãng bên Phú trinh, sau phòng ngủ Trần Nam Hưong, có khác đi nhiều hồi đó. Chúng tôi cùng học trường Phan Bội Châu, quen biết nhau, không thân nhau từ những năm 1958 khi Nguyễn Văn Hải ( tên thật của Nguyễn Bắc Sơn ) học bên Pháp văn, tôi bên Anh văn. Hải, chúng tôi thường gọi là “Hải móm”, nhỏ hơn tôi 2 tuổi, dáng nhỏ thó mà lanh lợi, thường lên xóm Ghẹ tập võ với Sáu Lựu, với Thời…
      Bẵng vài chục năm tao loạn mới gặp lại, thì ra Nguyễn Văn Hải mạnh dạn ngày xưa bây giờ là thi sĩ Nguyễn Bắc Sơn tóc dài biếng chải, lừ đừ, thích rượu, làm thơ. Không hiểu làm sao, anh ta lại làm được thông dịch viên tiếng Anh cho Lực lượng Ðặc biệt ở trại Phi hổ chợ Lầu, Bình thuận đến lúc đóng cửa vào háng 3 năm 1964 để nhập vào Tiểu khu Bình thuận, khi mà anh ta học tiếng Pháp cả thời Ðệ nhất cấp ở trường Phan Bội Châu Phan thiết... 
    Dù không phải là một quân nhân thuần túy, nhưng anh thực sự là một người lính “chiếng” , từ đó ta có những vần thơ Nguyễn Bắc Sơn “bất cần đời”, “xã láng”, “bạc mạng” thật hay và dễ thương…:”Mai ta đụng trận, ta còn sống. Về ghé sông Mao phá phách chơi. Tiêu hết nỗi sầu cùng gái điếm. Ðốt tiền mua vội một ngày vui” hay “Khi tao đi lấy khẩu phần. Mầy đi mua rượu đế Nùng cho tao. Chúng mình nhậu để trừ hao. Bảy ngày sắp đến nghêu ngao trong rừng “ ( “Chiến tranh Việt nam và tôi” năm 1962 ).



nhạc sĩ Dzũng Chinh
        Ngang đây cũng không thể không nhắc đến tên một nhạc sĩ lính tài ba của Phan Thiết mà bản nhạc của anh đúng thời tôi thi Tú tài I ở Nha trang vào Hè 1963, nhạc sĩ Dzũng Chinh với “Những đồi hoa Sim”. Anh tên thật là Nguyễn Bá Chính, người Bình hưng, Phan thiết, con ông Trưởng ty Bưu điện Phan thiết Nguyễn Xuân Hước, sinh hoạt văn nghệ trong Gia đình Phật tử Tỉnh hội Phật học Bình thuận. Ðại đội trưởng ( ? ), thuộc Trung đoàn 45 Sư đoàn 23 Bộ binh, tử thương tại An phước, Ninh thuận, táng tại Nghĩa trang Quân đội Nha trang, Khánh hòa. Những bản “Hận Tha la”, “Tha la xóm Ðạo” của anh không sắc nét nỗi niềm éo le, u uất như “Những đồi hoa Sim” đã “mê hoặc” tấc lòng trai gái thời binh lửa, nghe buồn tê tái, thúi ruột!. 
       Chúng tôi, những thằng trai vài ba đứa đời lính trước mắt, lang thang hết ngõ phố đêm Phan thiết nghêu ngao “những đồi hoa sim, ôi những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt…” vào những quán kem Khánh long, Liên hưng và nhất là Mỹ Vũ… bắt chước đốt môi điếu thuốc tàn, kéo đời tháng ngày héo hắt!. Không làm sao quên đuợc thằng Ðặng Văn Nghê ở Ðức long, thi rớt Tú tài I cứ tự nhiên lên học Ðệ nhất với người ta, đi Ðồng đế sống dai, mà chết mau theo lon Chuẩn úy, khi nỗi nhọc nhằn nơi trường Bộ binh Thủ đức chưa hết và chưa mòn lệnh “đứng dậy các tân Sĩ quan”. 
       Không làm sao quên đuợc thằng Nguyễn Văn Hùng ở Tầm hưng đậu Tú tài I, đã ghi danh học khóa Sĩ quan Trừ bị Thủ đức, lại từ bỏ bồ Cao Thị Minh Tâm, chun đầu vô rừng chết mất tiêu theo “ông già tao làm Huyện ủy Phan rang” bởi có thể rừng thiêng nước độc mà cũng có thể từ một viên đạn của thằng bạn học nào đó!. 
      Ôi, những con đường Phan thiết nhỏ đến nỗi đứng phố nầy gọi “ới” thì phố kia “ơi” mà chất ngất kỷ niệm trùng trùng. Con đường Gia long, con đường có “ngã tư quốc tế” mà bên hông “Vạn Quần Trà Gia” là mái hiên che làm “tiêm chè không tên” của người Tàu bán chè đậu trắng, chè đậu đỏ, chè đậu xanh ngon lắm, cho chúng tôi, những thằng Trúc, thằng Hải, thằng Nghĩa, thằng Hùng tàng tàng phố đêm, được ngồi đỡ chân mệt, lại còn được thưởng thức món “giải nhiệt” đặc sắc, đả cái miệng hết sức!. Con đường nầy hồi đó làm sao quên được những đêm chợ Tết đi “quậy” những đứa con gái nhà ai với mấy thằng cúng cơm: Tài nhỏng, Hùng cận, Hòa thợ hồ, Nghê nhà quê…vui quá chừng .


ông Huyền Vũ 

         Và thử hỏi ai người Phan thiết không nhớ những chiều ông Huyền Vũ trực tiếp truyền thanh các trận túc cầu Việt nam đấu với Nam hoa, Hương cảng…hay A.J.S đấu với Tổng tham mưu, Quan thuế đấu với Ngôi sao Gia định…làm cho người, xe đạp, xe gắn máy, ngay cả xe hơi, cả quang gánh nữa, bu kín mít hết khu phố, đâu còn đường xe chạy. Ông Huyền Vũ, tên thật là Nguyễn Ngọc Nhung, sinh tại Phan thiết, nghe nói ở Mũi né (? ) năm 1915 và mất vào tháng 8 năm 2005 tại Hoa kỳ, thọ 90 tuổi. Ông viết báo từ năm 1936, năm 1951 làm ký giả thể thao lần lượt cho Ðài Phát Thanh Pháp-Á ( Radio France-Asie ) rồi Ðài Phát Thanh Sài Gon cho đến 1975, tròn 24 năm. Ông có giọng phóng sự thật hào sảng, linh hoạt, kích động…mê hoặc người nghe, ngay cả khi ngồi coi trận đấu trực tiếp trên sân Cộng hòa, trong túi tôi cũng có cái radio transistor nhỏ xíu mở hết volume nghe ông truyền thanh. Bên kia cầu Quan, những cây vông to lớn, gốc bộng, sù sì quanh “Château d’eau” cao ngất có từ thuở tôi chưa sinh, đỏ rực bông với bông không một cái lá, sau những ngày cuối tháng Hai đầu tháng Ba, dịp tiết Nguyên tiêu rồi chim hót, ve sầu vang vang, rộn ràng những ngày Hè nắng nóng… và tôi thẩn thờ làm thơ với thẩn. 
Ðã có anh bạn nào, có lẽ người Phan thiết, chạnh lòng: 

“thương hàng cây cũ vườn bông,
mùa hoa vông nở rực hồng bình minh. 
Thương em gái nhỏ vô tình, 
đạp lên hoa đỏ, lặng thinh tới trường”

     Ðêm qua cầu, văng vẳng câu hát xưa: 

“Trên Mường giang,nắng đẹp một chiều,nào thuyền ai lướt trôi
Lắng không gian theo nhịp chèo êm êm nhạc khúc yêu đời …”

 mà nhớ Ðoan Thanh, người cho tôi bài hát để đời thời niên thiếu. 
 Nghe Thanh Thúy ca giọng liêu trai, muốn “giả từ vũ khí”.Chiều đến Thương Chánh, đếm từng con sóng vỗ lao xao,ngóng Ðiệp ở “Hòn” về, thấy lòng nhớ thương vời vợi. Nầy những công viên chiều xuống,chờ bước chân rã rượi những thằng lãng tử đi tới đi lui hết phố phường nhỏ chút xíu, ngồi phiếm chuyện trên trời dưới đất. 
       Mùa Hè, mưa thì xối xả, nắng thì chang chang. Ðông đến, những ngọn gió Bấc ngang tàng thốc cát vào mặt đau rát, “bét” cả mắt, mịt mùng đường đi và xe đạp thì hết đạp nổi.

 



            Có phải vì nắng mưa khắc nghiệt mà thành phố chỉ có bốn rạp hát mà ba cứ phải thay tên đổi dạng luôn?: Rạp Modern lâu đời nhất nằm trên đường Gia Long của bà Bảy Ðẹt, vợ ông cựu Thị trưởng Phạm Ngọc Thìn, sửa sang lại đổi ra Ngọc Thúy. Rạp Bình thuận nằm ngay ngã bảy của ông Thất Ngàn làm lớn lên, đẹp hơn đổi ra Ánh Sáng. Rạp Hồng Kim trên đường Trần Hưng Ðạo, giống nhà kho của ông Hóa mập, con ông Thất Ngàn, chỉnh lại cho có vẻ rạp Ciné một chút và bề thế một chút , thay tên là Hồng Lợi. Chỉ rạp Lilas quá trẻ, chưa cần trau chuốt mới còn chữ trinh Lilas?. Có ai thời học sinh lai không ít nhất một lần “coupe course”, trốn học với bồ, hú hí trong các rạp ciné Modern, Bình thuận hay Hồng kim, Ánh sáng…,coi xuất “permanent” để bị “consigne” một mình rồi bị người yêu “quịt tình”, đau chết điếng!. Các rạp Ciné hồi đó, dù chiếu xuất hay chiếu permanent cũng phải “nghiêm chỉnh” chào cờ: “Nầy công dân ơi!, Quốc gia đến ngày giải phóng, đồng lòng cùng đi, hy sinh tiếc gì thân sống…”, trên màn ảnh tung bay lá cờ vàng ba sọc đỏ, tiếp theo sau, bài suy tôn Ngô Tổng tống: “Ai bao năm từng lê gót nơi quê người. Cứu đất nước, thề tranh đấu cho tự do. Người cương quyết chống cộng, bài phong kiến bốc lột, diệt thực dân đang rắc gieo tàn phá…”.
           Những lần ngang qua trường Nam Tiểu học, trường Trung học Tiến đức, ty Thông tin, trường Tiểu học Ðức thắng…đang chào cờ, làm sao tôi không dừng lại, giở nón, yên lặng, đứng nghiêm. Quốc kỳ, Quốc ca, Quốc thiều thẩm thấu vào lòng tôi từ hồi nào tấm bé như vậy đó, đố bây giờ làm sao nhạt phai?. Cây phượng vĩ trồng năm 1952, ngày mình bắt đầu đi học trường làng ở xóm Bánh tráng Lạc Đạo, bây giờ cao quá, xum xuê quá, xanh biếc lá mùa Xuân, đỏ rực, tươi thắm ngày tháng Hè cả một góc đường vào sân banh Lạc đạo, mới biết mình gần đất xa trời!. Nỗi buồn kỷ niệm xa xăm bay về, lòng bỗng ngẩn ngơ: 

“Nhật mộ hưong quan hà xứ thị. 
Yên ba giang thượng sử nhân sầu”.
“Quê hương khuất bóng tà dương,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai ”.

        Thật, “không nơi nào đẹp bằng quê hương”. Quê hương ở đây của tôi không phải nơi chôn nhau cắt rún ở tận ngoài Huế. Khi tôi chưa biết gì đã theo cha mẹ gồng gánh vào đây, đến bây giờ cũng đã mấy chục năm, thời mà Phan thiết đìu hiu, rồi từng ngày khác đi và tôi lớn lên. Tất cả đổi dời “thương hải tang điền” mới có Phan thiết bấy giờ mà tôi nhận làm quê hưong, mà thưong nhớ. Nước sông, sóng biển, vườn bông, rạp hát, chùa chiềng, nhà thờ, mồ mả, con đường, trường lớp, chợ búa, đồng ruộng, xóm làng, bà con, bạn bè, bồ bich, chớp bể, mưa nguồn, gió cát, rong chơi…không giống ở đâu đâu, đó là quê hương. 
       Quê hương không đơn giản và chung chung là chùm khế ngọt. Chùm khế ngot ở đâu cũng có. Ở đâu cũng không có “Château d’eau”, cũng không có giòng Mường giang, cũng không có cây Cầu Quan…chỉ có quê tôi Phan thiết. Quê hương là nơi ta tắm cả một đời người mưa nắng, muôn vạn buồn vui, sống chết từng thời khắc đi qua như mây bay, mây bay vẽ tranh “Vân Cẩu” trên cõi trời cao vô cùng, không nơi nào có được!. Bây giờ ngồi ngậm ngùi nhớ cảnh cũ, người xưa, vương vấn mong manh đâu đây, thèm thời nhật ký lưu niệm cho nhau. Người ta chỉ có một quê hương đời người một lần. Người ta không có quê hương thứ hai, thứ ba…. Quê hương của tôi là Phan Thiết mà Huế là nguyên quán và Mỹ là đất tạm cư, dù đã sống ở đây gần hai mươi năm và còn lâu bao nhiêu đi nữa mãn đời phù sinh./. 


NGUYỄN THỪA BÌNH 

(Kansas City, Missouri, 16. 8 .2009)





11 thg 7, 2020

NHỮNG HÌNH ẢNH THẾ CHIẾN THỨ II - INTERESTING PHOTO TRANSFORMATION


Mời xem
Công nghệ ảnh trong chuỗi tranh thật ngoạn mục, mạnh mẽ hơn Photoshop , nó hoạt động theo cách khác, như chúng ta có thể trẻ hóa mà không cần phẫu thuật ....
ĐỂ XEM CHÚNG 
Đơn giản và hấp dẫn .Bạn chỉ cần
Bấm chuột cuộn xuống từng ảnh một .
Chạm vào 1 bức ảnh chiến tranh, bạn sẽ thấy nó là cảnh nơi đó nhưng ngày hôm nay !
Đó là một sử dụng đáng kinh ngạc của công nghệ IT. 
Làm thế nào để du hành ngược thời gian !
 Click vào từng bức ảnh, trên bức ảnh gốc; nó trở thành một bức ảnh ở cùng một vị trí, nhưng ngày nay.
Hãy Nhấp vào ảnh năm 1944, nhấp lại ảnh vào năm 2014 
và cứ sau 1944 => 2014 => 1944 => 2014; Vân vân ...
Chúc vui.
Hãy bấm chuột vào link dưới để xem ảnh.

Trận chiến 'có một không hai' giữa lính Mỹ và Đức trong Thế chiến ...

9 thg 7, 2020

BỎ BÙA CHO SƯ

Chuyện phiếm
.
Ba cô đội gạo lên chùa
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư
Sư về, sư ốm tương tư
Ốm lăn ốm lóc, nên sư trọc đầu
Ai làm cho dạ sư sầu
Cho ruột sư héo như bầu đứt dây.
.
         Những câu ca dao trên đây, không biết đã có từ bao giờ và do ai sáng tác .Có lẽ là từ xa xưa lắm, vì những người mẹ dù lớn tuổi, khi được hỏi, cũng bảo là nghe từ tấm bé. Những câu hát ru bao giờ cũng khởi đầu bằng hai tiếng “à ơi” .Bên cái nôi,cái võng, lời ru của mẹ dịu dàng,êm ái len lỏi thấm sâu vào giấc ngủ đứa con thơ.Lời hát ru của người mẹ rất quan trọng,nó nuôi dưỡng tâm hồn con và thể hiện tình mẫu tử ruột thịt khăng khít gắn bó .Mẹ không phải là người hát ru chuyên nghiệp nhưng vẫn hát hay , giọng mẹ ru nghe quen từ nhỏ nên trẻ em nào cũng thích và nhớ.Thế nên lúc ru con, mẹ vẫn có thể làm việc, chỉ cần nghe tiếng mẹ ru quen thuộc từ xa vọng lại cũng đủ cho các bé an tâm chìm vào giấc ngủ ngon. Những bài hát ru tiếp nối nhiều thế hệ cứ thế đi sâu vào tâm hồn,tình cảm con người từ bé thơ và trở thành những kỷ niệm không bao giờ phai lạt đến tận cuối cuộc đời.
       Thuở còn thơ sống chung với ông bà nội,tôi thường được nghe bà hát ru ,nghe riết thuộc nằm lòng dù có bài nội dung chẳng hiểu mấy.Ví dụ như bài “Ba cô đội gạo lên chùa”, tôi chẳng rõ “ốm tương tư’ là gì.Lớn lên đi học được thầy giảng mới hay đây là bài ca dao nổi tiếng có hàm ý phê phán, khuyên răn sâu sắc người đời .


        “Ðội gạo lên chùa” còn là tựa đề cuốn tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh. Tác giả đã mượn tứ của bài ca dao hát ru đa nghĩa và nổi tiếng vào hàng bậc nhất trong văn học dân gian Việt Nam :Ba cô đội gạo lên chùa / một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư...cấu thành cốt truyện. Nguyễn Xuân Khánh đã dẫn dắt người đọc vào cuộc phiêu lưu kỳ lạ, vượt quãng thời gian thăm thẳm của hai cuộc bể dâu: kháng chiến chống Pháp và cải cách ruộng đất.”Ðội gạo lên chùa “ cũng là lời cảnh báo về những giá trị đạo đức đẹp đẽ của văn hóa Việt đang bị phai lạt hoặc đang dần biến mất.
Mấy năm gần đây ,một số sư thầy cũng lấy bài ca dao “Ba cô đội gạo lên chùa” rao giảng hay làm đề tài thuyết pháp nhằm quảng bá giáo lý nhà Phật giúp các phật tử nhận thức đúng đắn về nhân sinh để sống an lạc .Ngay cả bên Mỹ mới rồi cũng có sư Thích Minh Tâm giảng về “Ba cô đội gạo lên chùa” tại chùa Bồ Đề, bang Louisiana. Nhà sư lấy hình ảnh “Ba cô đội gạo” minh hoạ ẩn dụ những thói “Tham ,Sân ,Si” của người đời.
          Người viết cũng mới được bạn bè fw một truyện ngắn đượm màu sắc đạo Phật và liên quan chủ đề chuyện phiếm hôm nay. Thấy câu chuyện hay,nội dung hấp dẫn nên xin mạn phép tác giả Nguyễn Thế Duyên lồng vào bài viết này như một minh hoạ thú vị cho bạn bè đọc chơi.
Cô Gái Điếm Và Người Tu Sĩ.
          Tên cô là Bạch Liên,bông sen trắng giữa đầm lầy hôi thối và nhơ nhớp.Nhà cô đã hai đời làm điếm. Mẹ cô và bây giờ lại đến cô. Cô không biết cha mình là ai. Khi đã khôn lớn, sau một lần bị khách hàng bạo hành, cô đã hỏi mẹ :
– Bố con là ai?
Bà đã ngạc nhiên nhìn cô và hỏi lại :
– Mày muốn biết để làm gì?
– Để con mang xăng đến đốt nhà lão! - Cô nói và nhìn mẹ với một ánh mắt đầy thù hận. -Sao lại có loại bố để cho con mình ra nông nỗi này.
Vừa nói, cô vừa chìa cái váy bị khách hàng xé rách bươm ra trước mặt mẹ và dùng nó để lau hai hàng nước mắt.
       Nghe cô nói, mẹ cô bỗng run bắn lên. Người bà lảo đảo như muốn ngã. Hình như có một cái gì đó đánh rất mạnh vào trong tiềm thức của bà. Bà ôm lấy cô nghẹn ngào:
– Mẹ cũng không biết bố con là ai cả. Có lẽ là tại mẹ! Kiếp trước chắc là tại mẹ sống không ra gì, một kiếp của mẹ không trả hết nợ nên đến con vẫn phải trả nợ thay.
Sau lần nói chuyện ấy, mẹ cô tự nhiên rất chăm đi lễ chùa. Lần nào đi lễ, bà cũng dắt cô đi theo.
Nhà cô ở cạnh một ngôi chùa nhỏ. Chùa của làng. Mỗi khi đi lễ, bà bao giờ cũng bắt cô quỳ bên cạnh mình, ngước mắt lên nhìn vào pho tượng phật tổ, với ánh mắt thành kính và có một cái gì đó như một sự van vỉ, cầu xin, bà khấn nhỏ trong miệng nhưng vì ngồi bên cạnh nên cô luôn nghe thấy.
– Con chẳng dám cầu xin đức phật điều gì. Cuộc đời con, cuộc đời con con đã quá khốn nạn rồi, nhưng con xin người nếu như kiếp trước con đã làm nên tội lỗi gì thì cũng xin người hãy tha cho cháu của con.
Từ khi bà biết đi lễ chùa cho đến khi bà mất, bà luôn luôn chỉ cầu xin duy nhất có mỗi một điều ấy.
Trước khi mất, bà bảo cô dựng bà dậy, tựa lưng vào tường, bà nắm lấy tay cô:
– Con ạ! Mẹ nói điều này con phải nhớ cho kĩ. Cuộc đời những kẻ làm gái điếm như mẹ con mình chẳng hi vọng có một gia đình yên ấm đâu. Con hãy có lấy một đứa con để làm niềm vui trong cái cuộc sống khốn khổ này. Nhưng con đừng như mẹ, có con với bất cứ kẻ nào mà phải chọn lấy một người đức hạnh mà xin lấy một đứa con thì mới hi vọng may ra nó thoát khỏi số kiếp này.
Nói rồi bà nhắm mắt lại, một dòng nước mắt lo lắng trào ra lăn dài trên gò má đã nhăn nheo vì năm tháng, cực nhọc và lo lắng.
Cô là dân ngụ cư nên làng không cho đất để chôn cất mẹ mình. Cô lại không có tiền để mà mua đất.
Những người hàng xóm thương hại cô bèn bảo :
– Hay là mày sang bên chùa xin sư thày cho chôn cất mẹ trong đất của chùa.
Chẳng còn cách nào khác, hôm sau, cô mang một đĩa hoa quả vào chùa xin gặp sư thày trụ trì.
– Bạch thày! Mẹ con vừa mất hôm qua. Con là dân ngụ cư nên làng không cho chôn cất tại nghĩa trang của làng. Con xin thày cho con được chôn cất mẹ con ở trong đất của chùa. Nếu được thì từ nay trở đi con xin suốt đời quét dọn cho chùa.
Nhà sư nhìn cô với ánh mắt đầy thương cảm rồi không hiểu tại sao ông ta nhắm mắt lại, một tay lần tràng hạt, một tay đưa lên trước ngực hành lễ :
– Mô phật! Nhà chùa đồng ý cho con chôn cất mẹ mình trong đất của chùa. Nhưng con không cần phải quyét dọn chùa cả đời để đền cái ơn ấy mà con hãy lên chánh điện thắp một nén hương cắm vào dưới chân của đức phật tổ để tạ ơn ngài.
        Cô gái vâng lời lên chính điện thắp một nén hương và theo như lời dặn của sư thày, cô không cắm nén hương vào bát hương mà len người lách qua những chỗ chật hẹp để cắm được nén hương dưới chân phật tổ.Không hiểu cô động vào cái gì mà bức tượng bỗng nghiêng đi. Hoảng hốt, cô kêu lên một tiếng và ôm lấy pho tượng giữ cho nó khỏi đổ.
       Trong trai phòng, nghe tiếng cô kêu, sư thày vội vàng chạy lên và giúp cô dựng lại pho tượng cho ngay ngắn. Cô buồn rầu nói với sư thày:
– Có lẽ tại thân thể con nhơ bẩn nên phật tổ không muốn nhận thẻ hương của con chăng?
– A Di đà Phật! -Nhà sư niệm một tiếng phật hiệu rồi chăm chú nhìn cô hỏi lại.-Con không thấy bàn tay của người đặt lên đầu con sao? Không phải người không muốn nhận nén hương của con đâu mà là người cúi xuống để xoa đầu con đấy.
        Cô ngẫm lại và nhận thấy đúng là khi bức tượng nghiêng đi, bàn tay của bức tượng đặt ở đầu mình.
Tối hôm ấy, nhà chùa huy động những già trong làng đến tụng kinh cho mẹ cô suốt đêm. Sáng hôm sau, tất cả lại đưa mẹ cô sang bên chùa chôn cất bà trong khuôn viên của chùa. Đích thân sư trụ trì mặc áo vàng gõ khánh, tụng kinh dẫn đầu đoàn người. Dân làng thấy thế kéo nhau đến xem rồi không biết từ lúc nào, tất cả đều nhập vào đoàn người đưa mẹ cô đến nơi yên nghỉ cuối cùng thành ra đám ma của mẹ cô trở thành một đám ma đông nhất xã.
Sau bốn mươi chín ngày của mẹ, cô bắt đầu thực hiện lời hứa của mình. Sáng nào cô cũng cầm chổi sang bên chùa quét dọn.
         Chùa làng đất rộng nhưng khách thập phương không có nên nghèo. Mọi công việc của chùa đều do những già làng cùng góp tay lo liệu. Nhà chùa không có sư, không có tiểu, chỉ có những bà già trong làng ban ngày rỗi việc thường kéo nhau ra chùa giúp nhà chùa những việc vặt, vừa làm vừa nói chuyện với nhau cho vui tuổi già theo cái kiểu “ Trẻ vui nhà, già vui chùa”, nên chùa cũng không được phong quang sạch sẽ cho lắm. Thường các bà chỉ chú ý quét dọn mỗi cái khoảng sân chùa chỗ chính điện và trai phòng của sư thày, còn những chỗ khuất trong chùa cỏ và mạng nhện chăng đầy. Nhất là mấy cỗ tượng phật, những kẽ nhỏ khó lau bụi bám nhiều năm không ai lau chùi nên trong vô cùng thảm hại.
          Từ ngày có cô sang giúp việc dọn dẹp, chùa thay đổi hẳn. Một hôm, sau khi đã quyét dọn xong, cô đi ra chỗ mộ mẹ thắp một nén nhang. Cô ngồi xuống bên cạnh ngôi mộ trầm tư nhìn khói nhang bay lên.
Chiều buông xuống một màu tím nhạt. Mọi nhà đã bắt đầu nổi lửa nấu cơm chiều, khói bắt đầu bò lan trên những mái nhà trong xóm. Tiếng lũ trẻ con nô đùa vọng đến chỗ cô ngồi khiến tự nhiên cô gái cảm thấy trong lòng mình trống trải. Từ khi mẹ mất, cô mới hiểu rằng trong mọi nỗi khổ trong đời, cô đơn mới là điều đáng sợ nhất.
        Ngày xưa, khi mẹ còn sống, cô khổ hơn bây giờ nhiều vì còn phải nuôi mẹ. Bây giờ mẹ mất, cô cảm thấy chống chếnh. Cô cần một chỗ để làm nơi nương tựa cho tâm hồn mình. Mệt mỏi và chán nản, cô thiếp đi. Cô thấy mẹ mình đi về, đến ngồi bên cô, Bà nắm lấy bàn tay gày guộc của cô và bảo: “ Con! Hãy nhớ lời mẹ dặn” Nói xong bà biến mất. Cô bừng tỉnh thì thấy sư thày đang đứng nhìn mình.
– Mô phật!
Thấy cô thức dậy, sư thày chắp một tay trước ngực niệm một tiếng phật hiệu và bảo :
_ Con thấy mệt sao không vào trai phòng nhà chùa mà nghỉ sao lại nằm ở đây?
Cô hấp tấp đứng dậy. Nhìn vào mắt nhà sư, cô chợt nhận thấy trong con mắt ấy có một cái gì đó giăng đầy như sương như khói mênh mông và bất tận. “ Hãy nhớ lời mẹ dặn” Tự nhiên tiếng mẹ cô trong giấc mơ vang lên trong tâm trí. Cô rùng mình! Mẹ! Phải chăng mẹ muốn báo cho con biết đây chính là người ấy?
– Chùa nghèo không có gì để có thể giúp con.- Nhà sư nói với một giọng trầm buồn.- Ta rất tiếc.
           Tối hôm đó, cô trằn trọc không sao ngủ được.Tiếng mõ tụng kinh đêm từ chùa bay sang, trầm tư nhỏ từng giọt vào lòng làm cho cái cảm giác trống vắng cô đơn trở nên đáng sợ. Cô ngồi dậy nhìn sang bên chùa. Cốc! Cốc! Một làn hương trầm bay theo tiếng mõ khiến cho cô như một kẻ mộng du. Cô bám vào tiếng mõ lần đi và rồi bất chợt cô thấy mình đang đứng ở cửa chính điện. Hoảng sợ, cô thu người nép vào bên cạnh cửa.
        Chính giữa điện, một pho tượng sống đang ngồi, mặt hướng lên nhìn không chớp vào pho tượng phật tổ, một tay lần tràng hạt, miệng lẩm nhẩm tụng kinh còn tay kia thả từng tiếng mõ khoai thai vào đêm. Nhìn cảnh tượng ấy, trong cô dâng lên một cảm xúc thần bí, vừa ngưỡng mộ, vừa kính trọng. Nhưng trên hết là một ý nghĩ chợt bừng lên trong tâm trí cô “ Con phải tìm lấy một người đức hạnh mà xin lấy một đứa con”.Cô nhớ đến lời mẹ dặn. Còn ai đức hạnh hơn cái người đang ngồi kia? Mình phải quyến rũ cho được người. Cô gái tự nhủ.
Cô định bước vào trong điện để thực hiện ý định của mình. Nghe động, tiếng tụng kinh dừng lại.
– A di đà phật! Muộn rồi con còn sang đây làm gì?
Nghe nhà sư hỏi. cái mạnh bạo lúc ban đầu của cô biến mất. Cô lúng túng.
– Bạch thày…..Rồi cô dừng lại chẳng biết nói gì.
Nhà sư từ từ quay đầu lại nhìn cô với ánh mắt trang nghiêm và bao dung. Nhìn ánh mắt ấy, cô hiểu không thể dùng cái cách mà cô vẫn thường dùng với khách hàng của mình để quyến rũ người. Nhìn ra ngoài sân chùa, đêm rằm, trăng sáng vằng vặc, một ý nghĩ chợt nẩy ra trong đầu.
– Bạch thầy! Trời nóng bức quá, nhà con lại không có giếng, con xin thầy cho con sang tắm nhờ ở giếng của chùa.
Nhà sư gật đầu đồng ý.
– Từ nay con không cần phải đi gánh nước nữa. Cần con cứ sang giếng chùa mà dùng
Nói rồi nhà sư quay lại tiếp tục buổi tụng kinh tối.Giếng chùa ở xế bên góc sân đối diện với chính điện. Hơi ngần ngừ một chút. Một chút thôi, rồì gái bắt đầu trút bỏ quần áo của mình. Ánh trăng bàng bạc thoa một lớp phấn mỏng lên tấm thân vốn đã trắng nõn của cô. Cô hơi nghiêng người lại hướng toàn bộ tấm thân kiều diễm của mình về phía chính điện và lắng tai nghe.
         Cốc!…. Cốc! …..Tiếng mõ giòn và trầm tư như tan loãng trong ánh trăng, Thong thả và điềm tĩnh. Có lẽ người không biết là mình đã ở bên giếng. Cô thầm nghĩ. Cô cầm lấy cái gầu thả thật mạnh xuống giếng rồi kéo lên một gầu nước. Xối thật mạnh gầu nước lên cơ thể mình. Một cơn gió mạnh từ cuối vườn thổi đến nâng mái tóc cô bay lên. Ánh trăng trượt trên lớp nước mỏng trên cơ thể cô loáng lên như một ảo ảnh. Cô lắng tai nghe.
Cốc!…. Cốc! ….Cốc Tiếng mõ vẫn điềm tĩnh thong thả điểm từng tiếng một không hề bấn loạn.
Từ đấy, tối nào cô cũng sang sân chùa tắm. Tối nào cô cũng lắng tai nghe và tiếng mõ chưa tối nào bấn loạn.
       Đã gần hết thời kì trăng sáng, Cô gái hiểu, mình không thể quyến rũ nổi một bậc chân tu. Cô vô cùng đau khổ. Nhưng cái lòng kính trọng người thì không vì thế mà giảm đi mà ngược lại nó càng tăng lên trong cô gấp bội.
        Sáng nay cô cầm chổi đi sang quét chùa. Sư thầy đi vắng. Cô lên đại điện tỉ mẩn lau bức tượng phật tổ cho đến khi bức tượng sạch bóng. Lau xong, cô ngước lên nhìn vào khuôn mặt phúc hậu của pho tượng và thốt lên một lời cầu khẩn.
– Con xin người hãy cho con người đệ tử của người.
Nói xong, nước mắt cô tự dưng lại trào ra.
Lau xong chính điện, cô đi ra mộ mẹ thắp hương cho bà. Cô ngồi xuống bên cạnh mẹ, tựa lưng vào nấm mộ trong lòng buồn rầu khôn xiết.
– Mẹ ơi! Con không thể lay chuyển được người.
      Cô thì thầm với mẹ và rồi cô cứ thế thiếp đi. Cô mơ thấy mẹ mình trở về ôm cô vào lòng."Sao con ngốc thế! Làm sao con có thể quyến rũ được một người đã bước qua ngũ giới. Nhưng nếu con cầu xin người thì có khi lại được con ạ".
Cô bừng tỉnh. Ngay tối hôm đó cô đi sang bên chùa định theo làm theo lời mẹ dặn. Đến cửa đại điện, khi nhìn thấy cái bóng dáng ngồi nghiêm trang của sư thày trước phật tổ thì cô lại nghĩ “Không được! Đây là một việc rất thiêng liêng và hệ trọng, mình cần phải giữ mình cho sạch sẽ và sám hối những tội lỗi của mình trước đức phật thì may ra ngài mới cho mình được toại nguyện”. Nghĩ rồi, cô lùi lại, quay lưng định trở về thì nghe thấy tiếng nhà sư bảo :
– A di đà phật! Con đến có việc gì? Sao không vào mà lại quay về?
Vừa nói, nhà sư vừa quay hẳn mình lại phía cô. Cô bước vào, chắp tay quỳ trước mặt nhà sư:
– Bạch thầy! Con xin thày cho con được xám hối trước đức phật trong bảy tối để rửa sạch thân thể mình trước khi con muốn cầu xin người một việc.
Nhà sư nhíu lông mày suy nghĩ một lúc rất lâu rồi quay người lại ngước nhìn lên bức tượng phật tổ ở trên cao như muốn hỏi ý kiến của ngài.
– Con hãy ngồi xuống bên cạnh ta và hãy bắt đầu xám hối về những tội lỗi của mình từ đêm nay.
Cô vâng lời, ngồi xuống bên cạnh nhà sư, nhìn đăm đăm vào bức tượng phật tổ :
_ Con không có tội dù cho cơ thể con nhơ bẩn ! Con chỉ có một cái tội duy nhất là dám mang cái thân nhơ bẩn này để xin ngài cho con một người đệ tử băng thanh, ngọc khiết đến nhường kia.
Nước mắt cô trào ra. Lời sám hối hòa vào khói hương lan tỏa khắp đại điện.
Hết đêm thứ bảy, khi buổi tụng kinh đêm kết thúc, nhà sư đứng dậy và bảo cô lên trai phòng cùng với mình. Nhà sư bảo cô:
– Bây giờ con muốn cầu xin ta cái gì con hãy nói ra.
Cô gái quỳ xuống, lạy nhà sư ba lạy và cứ quỳ nguyên như thế cô nói :
– Bạch thày! Con nghe đức phật dạy: “ Cứu một người còn hơn xây bảy tháp phù đồ” vậy nên con cúi xin người hãy cứu vớt cuộc đời con.
– Vậy con muốn ta cứu vớt cuộc đời con bằng cách nào?
– Con xin người hãy cho con một đứa con.
Cô nói điều mình cầu xin ấy bằng một giọng điềm tĩnh. Hình như với cô, đây không phải là cái điều gì xấu xa mà là một điều cầu xin rất chính đáng không hề có một chút nhục dục bên trong.
– Con nói sao?
Nhà sư hoảng hốt hỏi lại. Cô gái nhắc lại lời cầu xin của mình và nói thêm.
– Con biết, cơ thể con nhơ bẩn không xứng để cầu xin người điều này nhưng con không còn cách nào khác.
Nhà sư thở dài một tiếng, niệm một câu phật hiệu rồi nói:
– Không phải ta chê cơ thể con nhơ bẩn. Con đã trong sạch sau bảy ngày sám hối. Nhưng sao lại là ta? Một đứa con! Điều đó con có thể xin ở bất cứ người đàn ông nào.
– Bạch thầy! Có lẽ tại kiếp trước mẹ con mắc vào tội lỗi quá nặng nên một đời mẹ con không thể trả hết mới kéo sang tận đời con. Thân con đã ra thế này thì chắc rằng con không thể có được một gia đình yên ấm. Nhưng con là đàn bà, con cần một đứa con để làm chỗ nương tựa cho tâm hồn và cuộc đời mình nhưng mẹ con sợ rằng con của con cũng lại vướng vào cái kiếp nạn này nên trước khi mất, bà có dặn con hãy tìm một người đức hạnh để xin lấy một đứa con. Ngoài thầy ra, con tìm đâu được một người đức hạnh nữa đây?
Nghe cô nói, nhà sư đứng lên bảo với cô:
– Con hãy cứ đợi ta ở đây.
Nói rồi nhà sư đi lên trên chính điện. Cô nhìn theo, dáng ông đi như lao về phía trước. Đột nhiên cô nghe thấy tiếng mõ vang lên dồn dập :
        Cốc! Cốc! Cốc!….Cốc! cốc! Cốc ….Ba tiếng một, đanh và dồn dập. Tiếng mõ như muốn phá tan đi màn đêm. Đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng cô được nghe một tiếng mõ bấn loạn. Đột ngột tiếng mõ tắt lịm. Lặng đi một lúc rất lâu, lâu đến cái mức những mảnh vỡ của đêm từ từ tụ lại để cho ánh trăng giát một mầu vàng lên nó. Rồi tiếng mõ lại nổi lên.
Cốc!….Cốc….Cốc…Từng tiếng một trầm tư và sâu lắng. một lúc sau nhà sư đi lên trai phòng bảo với cô với một giọng bình thản:
– Con cởi quần áo ra đi !
Sáng hôm sau cô ngủ dậy muộn, cô đã chết lặng khi nghe người ta bảo: “Tối qua sư thày đã quyên sinh”.
Cô chạy vội sang chùa mở cửa vào trai phòng, giữa tấm ga trải giường cô thấy một vệt máu đỏ tươi. Cô lấy kéo cắt một băng vải đúng ở chỗ có vệt máu gấp thành một cái khăn tang chít vội lên đầu rồi đi như chạy lên chính điện.
Xác của nhà sư đã được mọi người hạ xuống đặt ngay ngắn giữa phòng. Cô phục xuống bên xác ông và ngất lịm.
           Cô thấy mình bị đẩy vào một gian điện to lớn. Giữa phòng là sư thầy đang quỳ dưới nền nhà. Đứng cạnh sư thầy là một người có bộ mặt dữ tợn trông giống như những bức tượng hộ pháp mà cô vẫn thấy ở nơi đình chùa. Người ấy chắp tay vái một vái và thưa.
– Bẩm sư tổ! Tên nhà sư này đã gian dâm với một cô gái, chúng con đưa lên đây để người định liệu.
– Không phải !
Cô kêu lên và chạy lao ra giữa điện quỳ xuống bên cạnh nhà sư. Cô ngước nhìn lên và nhận ra đức phật tổ đang ngồi trên một toàn sen, chung quanh có rất đông người. Cô không chắp tay như mọi lần mà dùng hai bàn tay bóp chặt lấy ngực mình để thể hiện sự đau khổ cùng cực.
– Sư thày không phải là gian dâm mà là cứu vớt con. Cô kêu lên.
– Con đừng bào chữa cho ta. Ta đã phạm vào giới luật và ta phải chịu sự trừng phạt.-Nhà sư nói với vẻ mặt điềm tĩnh không lộ chút gì của sự lo lắng hay sợ hãi.
– Không phải vậy. Chính con….
Cô định trình bày cho đức phật tổ biết nhưng người xua tay bảo.
– Chúng ta biết cả rồi. Nói rồi ngài quay sang bên phải hỏi người đứng ngay bên cạnh:
– A nan ! Ngươi thấy thế nào?
Người ấy chắp tay lại thưa:
– Bạch thầy! Nếu đã là luật thì không ai được phép vượt qua.
– Còn ngươi ! Ca diếp?
Phật tổ quay sang hỏi người đứng cạnh bên tay trái. Người đó cũng chắp tay lại kính cẩn nói:
– Bạch Thầy! Con cũng nghĩ thế.
Sắc mặt của phật tổ tỏ vẻ tức giận. Điều đó làm cô gái lo lắng. Đức phật là người buồn vui tức giận không để lộ ra ngoài mà sắc mặt người thế kia thì sư thầy nguy mất. Nghĩ thế cô vùng đứng dậy, bao nhiêu sợ hãi biến mất. Cô dõng dạc nói to:
– “ Một trăm cái lí không bằng một tí cái tình”, Người thân là phật tổ mà còn không phân biệt được phải trái đúng sai thì sao có thể phổ độ được chúng sinh đây? Nếu có người phải chịu phạt thì người đó chính là con!
Nhà sư đang quỳ bên cạnh vội vàng kéo tà áo cô ngăn lại. Đức phật cúi xuống nhìn cô một thoáng với vẻ mặt ngạc nhiên rồi ngửa mặt lên nhìn nóc đại điện cười ha hả. Tiếng cười làm rung chuyển cả nóc điện.
– Giỏi lắm! Giỏi lắm !
Rồi ngài nhìn khắp lượt đám đệ của mình bảo.
– Các ngươi có nghe thấy cô gái này đang mắng các ngươi không? “ Một trăm cái lí không bằng một tí cái tình” Cô gái này chỉ dựa vào mỗi một câu nói đó mà làm lay chuyển cả ngũ giới của ta. Kể từ nay, ngũ giới của ta chỉ dùng để khuyên ngăn mà không phải là cấm đoán. Đáng thưởng! Đáng thưởng!
Nói rồi ngài quay lại phía sau bảo "Mang ra".
Từ phía sau lưng phật tổ, Phật bà quan âm bước lên tay bế một đứa bé.
– Phật tổ thưởng cho ngươi.
Phật bà khẽ hẩy tay, đứa bé bay về phía cô, chạm vào người cô thì biến mất.
– Còn ngươi! Phật tổ quay sang phía nhà sư :
– Ngươi dám hi sinh hạnh căn để cứu vớt một con người. Ngươi dục mà không dâm, điều đó, chính ta đây thủa chưa đắc đạo cũng không làm được. Ngươi đã đắc chánh quả.
           Mười năm sau.
      Có một người đàn bà dắt một bé gái quay về chùa làng xin xuống tóc quy y.Bà mở cánh cửa trai phòng xưa dắt con gái bước vào phòng. Mọi thứ vẫn y như cũ. Bà đứng lặng trước ảnh sư thày và chỉ vào bức ảnh nói với con gái :
– Đây là bố con!

HOA HỌC TRÒ-Trời đất dành riêng tuổi học trò.Một loài hoa đỏ rất nên thơ...

HOA HỌC TRÒ-Trời đất dành riêng tuổi học trò.Một loài hoa đỏ rất nên thơ...
Mỗi năm hoa nở mùa thi đến.Chạnh nhớ trường xưa nhớ bạn bè .Nguyenuthang ..