13 thg 11, 2018

NẠN ĐÓI NĂM 1945



NẠN ĐÓI NĂM 1945 LÀ MỘT THẢM HỌA CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM, XẢY RA CÁCH ĐÂY ĐÃ HƠN 60 NĂM. NGÀY NAY NẠN ĐÓI ĐÓ ĐÃ TRỞ THÀNH QUÁ KHƯ NHƯNG NHÂN DÂN LAO ĐỘNG VIỆT NAM VẪN CÒN SỐNG LẦM THAN CƠ CỰC. CHÚNG TÔI CHO ĐĂNG LẠI BÀI KÝ SỰ NÀY. 


Cả miền Bắc Việt-Nam lúc bấy giờ, khoảng cuối năm 1944 đến giữa tháng 5 năm 1945, đã phải gánh chịu quốc nạn nầy. Số người chết đói ước độ trên dưới hai triệu người, so với khoảng gần hai mươi lăm triệu đồng bào lúc bấy giờ, tức gần một phần mười dân số.

Thi sĩ Bàng Bá Lân đã ghi lại cảnh chết đói kinh hoàng đó như sau: 

“Năm Ất Dậu tháng ba còn nhớ mãi 
Giống Lạc Hồng cực trải lắm đau thương! 
Những thây ma thất thểu đầy đường, 
Rồi ngã gục không đứng lên vì…đói!” 

*


Kỳ 1: Thảm cảnh quê nhà
Ông Lại Thanh Hằng, người thôn Trung Tiến, 77 tuổi, kể: nạn đói tàn khốc nhất lịch sử chính thức ập đến từ vụ mùa năm 1944. Năm ấy điềm trời hung gở khác thường. Không chỉ cánh đồng mấy trăm mẫu của Tây Lương mà khắp nơi đâu đâu lúa cũng chết vàng. Lúa dâu, lúa di, lúa tám đều bị hoàng trùng (nay gọi là rầy) phá hết.
Năm đó ông 17 tuổi, sức đương trai nhưng mỗi ngày cũng chỉ có nửa bát cơm, hai củ khoai. Sau rồi mỗi sáng ông đi chăn trâu, mẹ ông cho một nắm thóc rang vừa đầy một lòng bàn tay. Ông gói qua mấy lần lá rồi vài tiếng lại lấy ra vã vào mồm nhai cả trấu, chia đều cho cả ngày dài.
Đêm đêm gia đình ông hì hụp ngoài sông Sứ cất vó tép. Ba, bốn người ngoi ngóp cả đêm may ra hôm sau đem ra chợ đổi được một chén thóc. Có hôm không ai mua thì đem về đổ vào nồi nấu cháo. Đầu tháng giêng, mẹ ông bắt đầu đem nồi đồng, mâm, ấm, lư hương, tủ thờ… đi bán.
Rồi bố ông dắt trâu xuống huyện cầm cố đem về được 2 yến thóc. Mẹ ông giấu lúa vào bì, lấy gỗ đá, cối xay chất lên làm sao để không ai có thể lấy ra được. Chỉ mình bà biết một cái lỗ thông bằng mắt trâu có thể thọc tay móc ra ít một. Thỉnh thoảng bố ông nói: “Bọn cướp đang rình nhà mình…” rồi ông kê chõng ngủ bên ngoài với một cái thuổng sắc.
Tất cả các loại cây đu đủ, dứa dại, chuối, giong… ngoài đường, trong vườn đều bị đốn ăn không còn một mống. Có gia đình đói quá nghiền trấu, trộn mùn cưa vào cháo ăn. Cháo ít hồ dần, cuối cùng toàn mùn cưa với trấu. Làng bên còn có người ăn cả đất. Lại có người ngày nào cũng chạy theo mấy con ngựa của Nhật, Tây để hốt phân của nó về đãi lấy hạt ngô chưa bị tiêu hóa để ăn…
Cái đói giày vò, đày đọa con người đến cùng cực. Nó cào ruột suốt ngày đêm. Nó mở banh con mắt không cho ngủ. Nó kéo bàn chân lê khắp ruộng, khắp làng. Nhà mình đói, làng mình đói thì nhà người ta, làng người ta cũng đói nên có gì đâu mà kiếm. Nhưng cái đói nó không cho ngồi, nó bắt phải đi. Kể cả đi đến nơi mà hôm qua vừa bỏ về.
Làng quê tan hoang xơ xác. Cỏ dại lút đầu gối mọc khắp đường đi, sân nhà, ngõ xóm. Tiếng trẻ con khóc như mèo hoang ai oán suốt đêm. Người người đổ hết ra đường, lê la ngoài bụi chuối, cánh đồng. Cái lạnh thấu xương, bóng đêm đen đặc xuyên qua cái tết lúc nào chẳng hay… Cả thế gian là một màu vàng vọt, xiêu vẹo của đói và đói… Bắt đầu đã có người chết đói trong làng.

NGƯỜI KHIÊNG XÁC
Chỉ ra vườn chuối phía sau nhà, ông Hằng nghẹn ngào nói: “Cái chết đau thương nhất đối với tôi là bác Ngảnh, đó là bác ruột tôi và cũng là một trong những người đầu tiên của thôn chết đói.
Thật ra thì bắt đầu khoảng rằm tháng giêng đã có người chết đói ngoài chợ, ngoài đồng. Những gương mặt phù thũng, những ánh mắt thất thần, những thân hình tiều tụy dúm dó bên đống rạ, bụi chuối… đã mang nặng bóng dáng của thần chết rồi. 
Nhưng nửa đêm nghe tiếng khóc khô khản vẳng ra từ nhà người thân thì tôi thật sự hãi hùng. Bác Ngảnh chết lạnh cứng đờ, người co quắp trong ổ rơm. Lật thân hình da bọc xương, dúm dó trong mấy miếng vải rách nát, tôi thấy mấy sợi rơm còn vương trong miệng bác. Đó cũng là người đầu tiên trong họ nhà tôi chết đói."
Khiêng người bác ra đồng chôn, về đến nhà lại có người nhờ bố con ông Hằng đi chôn người chết. Và bắt đầu từ đấy người chết đói trong làng đếm không xuể. Bố con ông Hằng là một trong số ít người còn đủ sức để chuyên đi chôn người chết. 
Hồi tháng hai, tháng ba, người chết còn được chôn bó chiếu. Sau đến tháng tư, năm cả làng chết đến mấy trăm người thì không ai còn sức, chẳng nhà nào còn đủ chiếu chăn thì bó xác người bằng vó, bằng lưới, vùng biển thì bằng mảnh buồm. Có khi bó một người lớn với hai ba đứa nhỏ trong một tấm vó.
Ông Hằng thấp hơn nên thường đi trước. Ông nhớ có hôm mình phải đi chôn 4-5 người, mệt quá không nhấc cao tay lên được. Cái đầu người chết thả trễ xuống đất cứ đập bình bịch vào gót chân ông theo mỗi bước đi. Ông Hằng trở thành người chuyên chôn xác đói lúc nào không hay.
Bà Hoàng Thị Chén, 87 tuổi, người thôn Hiên, nói: thôn này lúc cao điểm một ngày chết mấy chục người. Cả người thôn mình lẫn người nơi khác đến đây rồi chết.
Cứ sau mỗi đêm lạnh là lại la liệt xác người trong nhà ngoài ngõ, giữa đồng. Tuần đinh lấy dây buộc vào cổ tay, cổ chân, cổ họng người chết rồi kéo lê ra hố quăng xuống. Sau này chồng bà cùng những người khác đào hố lên thấy có những đám cả 4-5 người bị chôn ở tư thế ngồi, họng còn thắt sợi dây thép.
Ông Lê Văn Bình ở huyện Đông Hưng còn kể: bấy giờ ở những khu phố hay cổng làng nhà giàu, quan lại người ta còn phải thuê người đem xác dân chết đói đi chôn, tránh thối rữa trong làng xã, khu phố. Giá ban đầu là một đồng một xác người, sau hạ xuống 5 rồi 3 hào. Có tay làm ăn dối trá, đào hố nông choèn, vùi lấp qua loa. Vài ngày chuột, quạ, sâu bọ lại bới lên thối không chịu được.

Kỳ 2: Dưới đáy của địa ngục

“Ông Kawai, đảm nhiệm công việc giám sát chuyển gạo từ Nam ra Bắc qua tỉnh Nam Định, đồng thời là quản lý chung về gạo dự trữ, phân phối trong tỉnh, nói có những nơi vẫn còn gạo chất như núi trong kho quân đội (Nhật Bản). Không những thế, tại một nhà thờ Thiên chúa giáo trong tỉnh gạo đầy ắp trong kho. Ông đã thuyết phục cán bộ đại sứ quán Nhật Bản mở kho phát gạo nhưng họ không nghe.”
(Trích: Chiến tranh châu Á trong tiềm thức của chúng ta của Minami Yoshizawa – Nhật Bản)



Nhà hoang – làng trắng
Ông Nuôi là người đàn ông duy nhất trong dòng họ Tô của xóm Trại sống sót qua nạn đói 1945.
Bà Duy – cô ruột của ông, năm nay 87 tuổi – kể lại: “Chính trên nền đất này bố tôi đã chết hồi tháng hai năm đó. Mấy tuần sau mẹ tôi chết cứng lạnh khi ba chị em tôi vẫn ôm bà ngủ trong ổ rơm. Cả họ chết dần và đến tháng tư còn lại một mình nó (ông Nuôi)."
Ông Nuôi khi ấy mới 5 tuổi nhưng bà Duy cũng không biết làm thế nào giúp cháu. Thậm chí bà cũng không còn nhớ là có một đứa cháu bị đánh rơi, bởi chính chồng con bà cũng chết vì đói, bản thân bà cũng đã phù thũng mặt mày, nằm gục rồi lại dậy, không biết còn sống đến hôm nào.
Ông Nuôi cũng không còn nhớ chút gì về gương mặt, tình cảnh hay cái chết của bất cứ ai trong nhà mình. Ông chỉ biết rằng một mình ông hết sáng lại tối, không quần áo bò lê quanh nền bếp đầy rơm, muỗi và thạch sùng. Nhà không một bóng người. Xóm cũng không ánh đèn, không tiếng người, tiếng chó. Ông Nuôi không thể nhớ mình đã sống qua ngày ấy như thế nào, đó là địa ngục hay trần gian.
Ông nói: “Có lẽ tôi bốc tất cả những gì mình gặp để cho vào mồm. Khóc rồi bò. Bò rồi ngủ.”
Bà Hoàng Thị Chén (thôn Hiên, Tây Lương) kể rằng mỗi đêm làng lại thưa thớt thêm vài ánh đèn. Ấy là khi lại có nhà chết hết hoặc chết gần hết và bỏ đi. Thậm chí nhiều làng, nhiều xóm không còn một ai. 
Một hôm bà thấy mùi hôi thối bốc lên nồng nặc, chạy sang thì cả sáu người nhà ông Bê nằm chết dụi mỗi người một xó. Thây người thối rữa, chuột, bọ, kiến, muỗi… nhâu nhâu. Dân làng đến kéo sập mái nhà vách đất rồi châm lửa đốt… Ông Lại Thanh Hằng (thôn Trung Tiến, Tây Lương) cũng kể khi nghe báo nhà bà Lụt chết cả ba mẹ con trong bếp, chuột ăn, bọ rúc hết rồi…, dân làng lấy xẻng xúc đất lấp nhà bà Lụt.
Theo điều tra của Viện Sử học, chuyện tương tự đã diễn ra ở cả ba gia đình thuộc xã Quảng Đại, Quảng Xương, Thanh Hóa. Đó là nhà ông Cao Nhuần Sặng, Trình Văn Tự, Nguyễn Văn Tự đều chết cả nhà, không ai chôn được nên làng kéo sập nhà vùi tại chỗ. 
Dòng họ Tô của ông Nuôi có 35 người thì chết 31 người. Dòng họ Hoàng của nhà ông Hoàng Bê có 31 người – chết 26 người, còn hai người nữa sống chết nơi nào chẳng rõ. Tình trạng chết cả nhà, cả dòng họ, cả xóm, thậm chí cả làng không còn một người diễn ra ở không ít địa phương miền Bắc lúc bấy giờ.
Riêng ở xóm Bối Xuyên, xã Tây Lương có 51 hộ thì 40 hộ có người chết đói. Trong đó 18 hộ chết không còn ai. Hai dòng họ Tô và Lại gần như bị xóa sổ. Tỉ lệ chết đói là 62%. Đặc biệt xóm Trại ở thôn Thượng có 21 hộ, 82 nhân khẩu đều chết không còn một ai. Xóm bị xóa sổ.

Thảm thương hơn chết đói
Ông Nguyễn Văn Thiết (xã Tây Ninh, Tiền Hải – Thái Bình) nói: “Tôi không nhớ là nhà ai trong xã, chỉ biết rằng đôi vợ chồng trẻ ấy mới sinh được đứa con đầu lòng chưa đầy ba tháng tuổi. Đói quá, chồng chết từ mấy hôm trước. Vợ không còn sữa cho con bú, không có gì để ăn nên để con ở nhà lang thang đi kiếm ăn.
Không kiếm được gì, người mẹ biết mình sẽ chết, không thể về vì đường xa, bụng đói, sức tàn. Gặp người làng, chị nhờ trông hộ con. Nhưng khi người đó về tới nhà chị thì thấy đứa bé chỉ còn trơ cái cẳng chân tím đen ruồi, kiến bu kín. Nền nhà đầy vết chân chó và máu. Người ta nói đêm nọ nghe trong nhà có tiếng kêu như mèo con. Chắc chó hoang ở đâu đói quá vào ăn thịt đứa trẻ.”
Đoàn cán bộ điều tra nạn đói của Viện Sử học cũng ghi lại rất nhiều chuyện trẻ sơ sinh không người trông, tiếng khóc khi đói lả giống tiếng mèo nên đã bị chó hoang ăn thịt như thế.
Họa diệt thân năm ấy đến bằng đủ cách. Ông Hằng nhớ ở làng có gia đình nhà ông Tác rất giàu có nhưng cũng chết đói cả nhà. Khi nạn đói ập đến, dân tình đem đủ đồ đạc, của cải, đồ gia bảo ra chợ bán tống bán tháo để lấy tiền mua gạo. Có cái nồi đồng bình thường đổi vài tạ thóc, lúc ấy chỉ đổi được vài ống lúa.
Nhà ông Tác đem hết thóc lúa đổi của cải. Khi hết lương thực dự trữ, ông bán đồ đạc thì không ai có tiền mua nữa. Thế là cả nhà chết rục bên mấy kho của cải. Riêng xã Tây Lương cũng có tới ba, bốn nhà giàu chết như vậy, như nhà ông Nguyễn Văn Tứ, Bùi Văn Dị.
Ở Thanh Hóa còn có người đào được vàng năm 1934 và trở thành hào phú, nhưng vì mua sắm nhiều thứ của người đói bán rẻ năm 1945 nên đến lúc hết tiền, bị đói không bán đồ được cũng chết. Ông này khi chết còn mặc áo dài, đội khăn xếp co quắp ở gốc phi lao.
Đói ăn vụng, túng làm liều. Ông Hằng kể: tháng ba Ất Dậu biết tin có thuyền thóc của Hàn Thùy (một hội đồng dân biểu) chở về qua sông Trà Lý, năm, sáu ông là Xiêm, Trật, Đót, Hỷ, Uẩn, Phiên… bày mưu cướp thóc. Đêm ấy họ đã ăn trộm được mỗi người một bị lúa chừng 10kg. Lệnh quan truy nã, tội phạm không ai kịp ăn đã phải đem lúa đi chôn.
Ông Đót bị bắt trói vào cột ven đường. Tên lính Nhật vung kiếm chẻ đôi vai, máu nhuộm đỏ chiếc áo bông rách nát. Những người còn lại cũng dần bị bắt rồi chết hết. Số lúa họ cướp được đem đi chôn ở đâu không ai biết. Tài liệu của Viện Sử học còn ghi câu chuyện ông Nguyễn Văn Hợp (xã Quảng Đại, Quảng Xương, Thanh Hóa) đi lĩnh cháo phát chẩn. Chen nhau, bị hương kiểm bắt đánh đập, tẩm dầu vào tay đốt. Ông lết về đến nhà thì chết. Cả nhà cũng chết theo không còn một ai.
Cũng ở xã này, vợ chồng ông Viên Đình Thiện đói quá không chịu được cứ bốc vỏ trấu nhét mồm nhai mãi không chán. Nhai đến một lúc chồng lăn ra chết rồi vợ cũng chết theo, thối rữa ở trong nhà. Người làng đặt xác họ vào cái bồ rồi kéo đi chôn.
Ngoài thị xã Thái Bình có người bán cám cho Nhật để chúng cho ngựa ăn. Loại cám này những người bán hàng đã pha mùn cưa để bán cho người đói nhưng lính Nhật mua và cho rằng bị lừa nên đã mổ bụng ngựa, giết chết người bán cám và nhét vào bụng con vật mà khâu lại… Những câu chuyện rùng rợn và bi thương của nạn đói khiến nhiều người ám ảnh suốt cuộc đời. Họ không muốn nhắc lại vì dường như sợ những oan hồn ấy còn quanh quất đâu đây.

Kỳ 3: Hành trình của những “hồn ma”

Lũ lượt những đoàn người như hình nhân bỏ quê hương tìm lên phố xá, mong kiếm thứ bỏ vào mồm. Và cuộc hành trình ấy kéo dài từ xó nhà đến Hà Nội đã biến con người thành hồn ma xác quỉ. Hoặc là gục chết bên đường hoặc ngoai ngoác sống trong khổ nhục.
Đoạn trường đày ải
Nghe chúng tôi nhắc tới hình ảnh những người đói kéo nhau lên Hà Nội, bà Chén (xã Tây Lương, Tiền Hải, Thái Bình) cố ngước đôi mắt mù lòa, lẩy bẩy đôi chân còm nhưng đã phù đỏ để đi ra ngõ. Bà nhớ từ cái ngõ này, 60 năm trước bà đã ôm con hòa cùng đoàn người lê theo sự dẫn dắt của cái đói.
Đi đâu, về đâu thì không ai biết nhưng cứ từng đoàn từng đoàn rách rưới, giơ xương, trũng mắt như quỉ đói âm thầm, dắt díu nhau đi. Họ không phân biệt được nam nữ, già trẻ. Chỉ có thể thấy những thân hình dài ngắn không đều mà đoán trẻ con hay người lớn mà thôi. Họ đi chậm. Không ồn ào, không nói. Thỉnh thoảng có người đổ gục xuống đường không giãy giụa. Nhiều thây người bất động, mắt mở trừng trừng không biết sống hay chết.
Tại các cổng chợ, ngã ba, đầu cầu, gốc cây họ nằm ngồi la liệt chìa tay ăn xin hay bới tìm lục lọi. Ngay đầu chợ, một người đàn bà có vẻ giàu có đi ngang qua, không hiểu bà ta kinh tởm hay ốm đau thế nào mà ôm bụng gập người nôn thốc nôn tháo. Hai ba đứa trẻ vội lao vào tranh nhau bốc bãi nôn, hối hả nhét vào mồm.
Bà Chén cũng gặp nhiều người ôm con nhỏ như mình. Những đứa trẻ còn sức thì khóc, không còn thì lả gục trên vai mẹ. Một người đàn bà xin được chút gì đó để ăn, bà ta kéo đầu con để chia cho nó. Gọi hồi lâu người mẹ ấy mới biết con mình đã chết tự khi nào. Trong góc chợ lại có một người đàn bà nhe răng, trợn mắt nằm co quắp chết bên hai đứa trẻ.
Thằng bé chắc chừng một tuổi không biết gì cứ hì hục nhay vú mẹ cho đến tận lúc tối trời. Bà Chén đi hai ngày một đêm như thế thì đến thị xã Thái Bình… Một số chết, một số ở lại, còn bà Chén và những đoàn người đói rách vô hồn đó cứ như thế tiếp tục đi lên Hà Nội.
Trong Viện Sử học VN có lưu một bức thư của một tác giả nước ngoài là Vespy viết tháng 4-1945 tả về thảm cảnh của những cuộc hành trình này: “Họ đi thành rặng dài bất tuyệt, người nào người ấy rúm người dưới sự nghèo khổ, toàn thân lõa lồ, gầy guộc giơ xương, ngay cả những thiếu nữ đến tuổi dậy thì đáng lẽ hết sức e thẹn cũng thế.
Thỉnh thoảng họ dừng lại vuốt mắt cho một người trong bọn đã ngã và không bao giờ dậy được nữa, hay để lột một miếng giẻ rách không biết gọi là gì cho đúng để che thân người đó. Nhìn những hình người xấu hơn con vật xấu nhất, nhìn thấy những xác chết nằm co quắp cạnh đường chỉ có vài nhành rơm vừa làm quần áo vừa làm vải liệm, người ta thật lấy làm xấu hổ cho cái kiếp con người.”

Nhân tính tiêu tan… vì đói
Lục tìm trong tâm khảm sâu thẳm, bà Chén nói: “Ánh mắt người đói lúc đó không có màu, không có thần. Nhiều lúc họ xử với nhau như thú đói, không nhân tính…”. Bà Chén lúc ấy bế một đứa con nhỏ trên tay. Dành dụm suốt từ đầu vụ đói, bà còn được mấy hào trong túi để dành cho chuyến đi này.
Chợ Bo (thị xã Thái Bình) lúc đó là một bãi đất được căng lên những mảnh nilông, đay hay lá khô trên những chiếc cọc tre xiêu vẹo. Cả một biển người nằm ngồi lê la bới rác, xin ăn chập chờn như những bóng ma... Vài người ngồi xổm, ánh mắt láo liên đầy cảnh giác bên những cái thúng úp mẹt và thường là có thêm một, hai người đàn ông to khỏe dựng đòn gánh đứng bên.
Đó là những người bán hàng. Khoai, ngô, hay bánh cám, bánh đúc… trộn đầy trấu hoặc mùn cưa… Ai mua hàng phải chìa tiền. Đứng tới nửa ngày bà Chén mới cảm thấy có thể an toàn để lại gần người bán bánh hỏi mua. Thế nhưng đang định xé bánh cho con thì cả đám người đang nằm như thây ma vùng dậy vồ lấy mẹ con bà, tranh nhau chiếc bánh.
Những ngày sau, trên dặm hành trình địa ngục ấy, tất cả số tiền bà có đủ để mua ba chiếc bánh thì bà đều bị cướp hết. Cuối cùng bà cũng chỉ còn cách chờ nhặt rác rưởi, cọng rau, xin ăn và tham gia cướp của kẻ khác như họ đã cướp của bà để ăn. Bà không nhớ mình đi mấy ngày, mấy tuần hay mấy tháng thì tới Hà Nội.
Con trai bà Chén năm nay cũng đã ngoài 60 tuổi. Anh nói: “Những câu chuyện cướp bóc, thú tính trong nạn đói, 60 năm qua mẹ tôi không bao giờ muốn nhắc lại. Chỉ có một lần bà kể cho tôi nghe một câu chuyện kinh hoàng: khi bế con đi Hà Nội, qua sông Long Hầu bà thấy có hai bố con nhà nọ đói lả, phù thũng, chắc là sắp đến lúc chết. Người con chừng 7-10 tuổi.
Không hiểu lúc ấy họ kiếm được thứ gì, chắc là có thể ăn được nên hai người tranh nhau rất dữ. Đứa con co cả người nắm chặt tay bố. Hồi lâu đẩy con ra không được, người cha liền co chân đạp con xuống cầu. Đứa trẻ cố níu lấy thành cầu, hai mắt không rời miếng ăn trên tay bố. Người cha lúc ấy kiên quyết hơn và ông ta đã đạp được đứa con rơi xuống nước rồi ngấu nghiến nhét thứ đó vào mồm.”
Theo điều tra của Viện Sử học tại xã Quảng Đại, Quảng Xương, Thanh Hóa: ông Viên Đình Hữu đói quá quẳng con trai 4 tuổi xuống sông Đơ. Ông Hoàng Bảo ở xóm Cháy (Đông Hưng, Thái Bình) thấy bố của ông Bắc (cùng xóm) thổi nồi cơm. Ông Bắc bóp cổ bố đến chết để ăn một mình.
Suốt chặng đường khổ ải từ quê nhà lên Hà Nội, bà Chén còn gặp rất nhiều cảnh mẹ bỏ rơi con, chồng chạy trốn vợ, rồi cướp bóc, giết chóc lẫn nhau vì miếng ăn một cách đau thương và rùng rợn như vậy. Nhưng Hà Nội lúc này cũng là địa ngục.

Hà Nội – điểm hẹn sinh tồn
Ông Nguyễn Ngọc Liên, 82 tuổi, hiện trú tại phòng 105, nhà C6, khu tập thể Kim Liên, Hà Nội kể: “Ngày đó nhà tôi ở233 phố Huế. Bắt đầu từ mùa đông năm 1944, tôi đã thấy những đoàn hình nhân vô cùng thảm hại ùn ùn dắt nhau qua các phố.
Áo quần họ là miếng giẻ buộc túm dính vào những bộ xương lắc lư. Những cái đầu trơ sọ, đính hai con mắt vàng trũng thất thần. Ban đầu người hàng phố cho họ ăn những thứ có thể, nhưng càng ngày họ đến càng đông, hết lớp này đến lớp khác. Họ nằm, bò, lê và chết gục khắp đường, ngõ, vỉa hè.
Ai còn sống thì cứ lang thang xin ăn, không ít trường hợp cướp giật, móc mồm người khác giành ăn. Của bố thí không thể đủ cho đoàn người đói khát. Họ chết ngày một nhiều. Một buổi sáng tôi vừa mở cửa thì hai xác chết lạnh cứng đổ ập vào tôi. Đến tận bây giờ tôi vẫn không quên được cảm giác hãi hùng và xót thương lúc đó.”
Ông Đặng Văn Cự – 87 tuổi, hiện ở phường Giáp Bát, Hai Bà Trưng (Hà Nội) – nói: “Ban đầu cũng chia sẻ với bà con nhưng chúng tôi cũng đói, lương thực cạn kiệt và trước cảnh tàn ác của Pháp – Nhật thì cũng không dám chắc mai này mình có thoát cảnh ma đói hay không.
Trong thành phố, nhiều thanh niên, nhà hảo tâm thành lập đoàn khất thực có trung tâm ở phố Hàng Da, quyên góp cơm cháo chia cho bà con. Nhưng vì số lượng quá lớn, tổ chức chỉ là tình cảm của một số người có điều kiện nên đoàn khất thực tồn tại không được bao lâu. 
Chúng tôi cũng bị cướp giật bánh trái, ngô khoai, nhưng không ai nỡ đánh đập người đói mà chỉ tránh né. Người làng tôi bán bánh thì làm bằng đất bày ở quầy, mẹt, thúng. Ai mua thì mới đến chỗ khác lấy bánh thật ra. Ai cướp thì chỉ cướp được bánh đất mà thôi.”
Cảnh người đói sinh trộm cướp và bị giết chóc thì nhiều lắm. Ông Liên nhớ: một buổi chiều trên đường Trần Quang Khải bây giờ. Một đoàn bốn chiếc xe bò chở những bì lúa chất cao 3-4m. Mỗi xe có một người kéo và bốn người đẩy. Phía trước và sau có 9-10 tên lính Nhật súng gươm tuốt trần áp tải.
Một người trong đám phu xe, bí mật dùng một chiếc dùi thép chừng 20 phân đâm một lỗ nhỏ vào bao lúa và gí một chiếc túi vải con vào hứng dòng lúa chảy. Tên lính Nhật phát hiện. Không nói gì, hắn dùng mũi kiếm đâm xuyên lưng người móc gạo. Nạn nhân rú lên một tiếng rồi đổ gục xuống đường, lênh láng máu. Đoàn xe vẫn tiếp tục đi.
Những dòng người khất thực đã kéo nhau đi trong đói lả vật vờ… Rồi họ cũng tìm đến điểm cuối cùng của cuộc hành trình – nơi chấm dứt mọi nỗi dày vò đau đớn của một kiếp người. Của triệu kiếp người.
Kỳ 4: Chặng cuối của cuộc đọa đày
Nơi đóng cửa trần gian
Dưới chân cầu vượt là một ống cống lớn bắc qua sông Sét, chảy cắt ngang đường. Sau ống cống đó là một ngã ba có con phố rẽ tay phải dẫn đến những khu nhà đang hối hả xây dựng. Đó là những khu dân cư, các công ty và kho hàng. Ít ai biết 60 năm trước đây là điểm tụ tập đông nhất những sinh linh trước giờ chết đói: trại tế bần.
Ông Đặng Văn Cự, người dân gốc ở làng Tám (Giáp Bát), nay 87 tuổi, kể lại: thời đó làng Tám là ngoại ô, thuộc tổng Thịnh Liệt, Thanh Trì. Khu bến xe, ga tàu, bệnh viện Bạch Mai bây giờ là cánh đồng mênh mông với con sông Sét chảy vắt ngang. Từ Hà Nội đi qua cống Phố Hàn (nay là cống sông Sét nằm trên đường Giải Phóng) khoảng 20m có khu gia binh rộng 25 mẫu.
Theo Báo Bình Minh ra ngày 12-4-1945, những người VN hảo tâm khi thành lập đoàn khất thực để cứu trợ đồng bào đã chọn khu gia binh làm trại tế bần. Bắt đầu từ ngày 9-4, có 2.000 người ăn xin đã được đưa xuống đó, được phát cháo và nghỉ ngơi. Sau đó, những người ốm đau, hấp hối cũng được đưa về trại bằng xe bò.
Khi người đói chưa nhiều, trại còn có ngày hai bữa phát chẩn. Nhưng chỉ sau vài tuần số người tự tìm đến đã đông hàng vạn. Lương thực dù có nhiều đến mấy cũng không đủ cho mỗi người một bát cháo/ngày. 
Ông Nguyễn Văn Điền ở Giáp Bát kể: mọi ngả đường chết đói của thành phố đều dồn về đây, từng đoàn từng đoàn những hình nhân tưởng như bất tận. Họ ngồi chật kín trại, kín cổng trại, kín cả đường vào trại và vật vờ, xiêu vẹo trên cống Phố Hàn, gặp ai cũng chìa tay xin ăn. Từ đây trại Giáp Bát trở thành nơi chứa người chết đói.
Báo Tin Mới số ra ngày 29-4-1945 viết: “Tấm bảng treo trước cổng trại ghi: ngày 26-4: buổi sáng số người còn lại 3.020 – số người chết 16. Buổi chiều, số người mới vào 2.000, số người chết 18”. Ông Điền kể: đó là số người trong trại, còn những người chờ chực bên ngoài thì nhiều vô kể và họ chết bất cứ lúc nào. Ông nhớ mãi hình ảnh một cụ già tuy đã đói khổ nhiều ngày nhưng nhìn rất quắc thước, đạo mạo. Cụ ngồi trên cống Phố Hàn giống mọi người. Nhưng điều rất đặc biệt là cụ không xin ai một câu nào. Ai cho thì nhận. Ánh mắt cụ rất buồn, long lanh chứ không vàng nhợt vô hồn. Cụ ngồi đó mấy ngày rồi không ai thấy nữa.
Người trong và ngoài trại chết ngày một nhiều. Khẩu phần lương thực phân phát cho người đói thành muối bỏ biển và tạo nên những cuộc tranh giành thảm khốc. Nhưng rồi hàng vạn sinh linh ấy cũng “gặp nhau” trong những cuộc mai táng đau thương…
Những hố chôn tập thể
 

Suốt 60 năm sau, bà Chén (Tây Lương, Tiền Hải, Thái Bình) vẫn sống trên mảnh đất quê nhà Tây Lương. Bao dâu bể đổi dời, tâm khảm không ngừng muốn xóa nhòa quá khứ đau thương, khiến nhiều câu chuyện, nhiều dấu tích của nạn đói đã không còn lưu giữ trong bà. Nhưng bà vẫn biết rằng dưới ba thước đất, trong lòng đất quê hương, những ánh mắt trẻ, những tiếng khóc già cùng sự quằn quại của những linh hồn đói khát vẫn còn đó.
Còn đó trong những nấm mồ chôn vùi hàng chục, hàng trăm sinh mạng không hương khói, không mộ chí, không gỗ ván – ở quê hương bà đó là gò Ông Cảm, gò Lâu nằm giữa cánh đồng thôn Hiên bát ngát cánh cò.
Bà nhớ khi người chết đói quá nhiều, trai đinh, lính tuần khuân xác người trong những manh chiếu, mảnh vó buộc túm hai đầu, quăng xuống những cái hố to như cái ao rồi lấp. Hôm nay lấp hố này, mai lại lấp hố khác. Khi không còn chiếu, còn vó, còn bao bố và không còn cả sức người thì họ lấy dây thừng, dây thép buộc vào cổ, vào tay, chân những thây người khô khẳng đó, cho trâu, bò kéo lê theo đường ruộng hoặc trên bùn ướt rồi quăng xuống hố.
Trong tài liệu của Viện Sử học, rất nhiều địa phương như Hải Phòng, Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định… đã đặt tên cho những hố chôn tập thể như thế thành cồn Ma, mả Quán, mả Đói, gò Ma… Tuy nhiên nhắc đến hố chôn tập thể thì khủng khiếp nhất vẫn là ở Hà Nội. 
Ông Nguyễn Ngọc Liên (khu tập thể Kim Liên) kể: ngày ngày sếp đội mặc quần soóc, chạy ra phố huýt một tiếng, đám đông khất thực liền chạy ùa lại. Sếp chỉ tay vào chiếc xe kéo thùng gỗ hai bánh, nói vài câu rồi chia hai người một xe kéo rong ruổi suốt từ phố Hàm Long đến chợ Mơ, rồi dọc tuyến Hàng Đẫy, Tràng Tiền… về gần cầu Giấy để nhặt xác người.
Mới đầu người ta còn bọc chiếu, sau thì chỉ túm đầu, túm chân quẳng lên thùng xe. Trẻ con, người già, đàn bà, đàn ông, đầu, tay chân… lủng lẳng hoặc kéo lê trên đất. Ngày nào cũng vài chục xe như vậy rong ruổi... Mấy người kéo xe kể: nhiều hôm họ quăng xác chết lên xe, trong xe có tiếng thều thào… Có anh xe dừng lại bới đống xác thì không thấy ai kêu nữa. Có anh xe thì nói vọng vào: “Thôi đằng nào cũng ra nghĩa địa thì đi đi kẻo mai không ai chôn.”
Mọi chuyến xe đều đổ về hai nghĩa trang Hợp Thiện và Phúc Thiện nằm ở cánh đồng ngoại ô hai đầu nam – bắc thành phố. Nay Hợp Thiện thuộc quận Hai Bà Trưng, bám bên sông Kim Ngưu. Phúc Thiện nằm trong công viên Thủ Lệ. Tại nghĩa trang người ta đào những cái hố sâu 3-4m, dài rộng hàng chục mét, quẳng xác chết xuống đó rồi rắc vôi bột lên trên và lấp. Từ khi xuất hiện trại tế bần Giáp Bát với lượng người chết 30-50 người mỗi ngày thì cánh đồng xung quanh cũng trở thành những hố chôn người.
Ông Điền kể rằng sau nạn đói, cánh đồng Giáp Bát lúa năm ấy không trồng nhưng từ những gốc rạ vẫn trổ đòng xanh ngăn ngắt. Người ta tranh nhau đi gặt. Gặt xong cày bừa, tung lên bao nhiêu đầu lâu, chân tay. Còn ở cánh đồng thôn Hiên, những đêm đông rét buốt hoặc những buổi trăng rằm sương lạnh trước vụ mùa, bà Chén vẫn như nghe thấy ngoài gò Ông Cảm xôn xao tiếng người như họp chợ. Phiên chợ của những hồn ma đói khát.

QUANG THIỆN

Nhiếp ảnh gia Võ An Ninh và những hình ảnh thảm khốc nạn đói 1945

Những thân hình tiều tụy, những nạn nhân khắc khoải, mỏi mòn chờ chết, những thảm cảnh thây người chất đống trong nạn đói 1945 được nghệ sĩ nhiếp ảnh gia Võ An Ninh để lại lịch sử.

image024
Không có gì để ăn khiến người già trẻ em, thậm chí thanh niên trai tráng cũng trở nên tiều tụy. Trong ảnh trái, là một thiếu phụ với thân hình da bọc xương trong hàng ngàn thiếu phụ hiện ra khắp nơi năm 1945. Ảnh phải được nghệ sĩ nhiếp ảnh Võ An Ninh chụp tại Thái Bình, khi ông tới thì cả cha mẹ của ba anh em đã chết đói.

image025
Trên vỉa hè Nhà thờ Tin Lành phố Hà Trung, Hà Nội, một xác thiếu phụ đêm trước còn thoi thóp.

image026
Quá đói, quá mệt, không đứng nổi... Ngồi chờ tiếp tế.

image027
Những em nhỏ đói, không biết cha mẹ còn hay đã chết.

image028
Đoàn người đói, còn chút sức lực, còn đi được thì nối nhau đổ về trại Giáp Bát và nhà tế bần Sinh Từ.

image029
Những nạn nhân đói gặp gì ăn nấy. Sự khủng khiếp của cái đói nằm ở sự dày vò dai dẳng, đày đọa con người ngày này qua ngày khác. Hình ảnh được chụp tại Nam Định năm 1945.

image030
Khi xin được ít cháo, hai em bé đổ cháo vào miệng bố, nhưng cháo chảy ra ngoài, vì hàm răng đã cứng lại. Ảnh chụp tại Phủ Lý, Hà Nam.

image031
Khi nạn đói lên đến đỉnh điểm vào đầu mùa hè năm 1945, người chết la liệt, không phân biệt được nam nữ, già trẻ, các tình nguyện viên nhặt xác đến một chỗ để chờ xe mang đi chôn.

image032
Xác chết được chất lên xe bò chở đi chôn.

image033
Quá đói, đồng bào cướp xe gạo do Nhật áp tải.

image034
Trong lúc nạn đói hoành hành, với tinh thần tương thân tương ái, nhiều người tham gia từ thiện. Người có gia sản thì tổ chức những điểm cứu đói, nhiều người tham gia đi thu gom xác đưa đi chôn cất. Trong ảnh là một người làm từ thiện đang rửa xương của những nạn nhân chết đói.

image035
Xương của các nạn nhân chết đói.

image036
Những người chết đói ở trại Giáp Bát, tới năm 1950 được cải táng đem về nghĩa trang Hợp Thiện, Hà Nội. Các loại xương được phân loại sắp xếp trong bể chứa.

image037
Nhiếp ảnh gia Võ An Ninh bên đài tưởng niệm các nạn nhân chết đói năm 1945.
Loạt ảnh này từng ra mắt độc giả trong nhiều cuộc triển lãm, trên sách báo, truyền hình. Trong cuốn Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam - những chứng tích lịch sử (GS Văn Tạo - GS Furuta Moto chủ biên) đưa lại một phần những bức ảnh này, như tư liệu bổ sung cho các nghiên cứu trong sách.
Ảnh tư liệu của Võ An Ninh

  

27 thg 10, 2018

CHUYỆN ĐÔI ĐŨA TRONG BỮA ĂN NGƯỜI VIỆT


   Nếu văn hoá là cái còn sót lại, khi người ta đã 
quên hết như một tác giả nào đã nói “La culture 
      est ce qui reste, quand on a tout oublié” ), 
         thì chính đôi đũa là cái còn sót lại.
            Từ giã quê hương ra đi, những gì ta mang theo, nếu có, nhất định không phải là đôi đũa. Vậy mà ngày đầu tiên đặt chân đến miền đất mới cũng như sau nầy, trong những bữa ăn, đôi đũa vẫn xuất hiện bên cạnh ta, đi theo ta suốt một đời… nó hiển nhiên đến nỗi không còn ai biết nó từ đâu đến, tại sao có? Trong những bữa cơm nghèo nàn, muối dưa đạm bạc hay những yến tiệc linh đình, mỹ vị cao lương, người Việt ta vẫn phải dùng đến đôi đũa. Không thể dùng tay để bốc thức ăn như con người 5.000 năm trước đây của nửa phần trái đất nầy. Tuy tầm thường, thô sơ, rẻ mạt, không ai để ý, nhưng đôi đũa luôn luôn ở bên cạnh ta. Cả đến khi ta qua đời, đôi đũa cũng được so ngay ngắn để bên chén cơm cúng ta trên bàn thờ.
Image
Lan man chuyện đôi đũa

Đôi đũa là một phát minh của nền văn minh nông nghiệp cách đây hàng ngàn năm của vùng Hoa hạ (bấy giờ là nơi sinh sống của người Việt cổ) và sau đó lan tràn cả vùng Đông Nam Á. Nó vừa là một dụng cụ vừa là một chứng nhân của dòng sinh hoạt văn hóa dân gian, biểu tượng một phần của đời sống văn minh trong sự ăn uống. Riêng người Việt Nam, qua cung cách sử dụng, đôi đũa còn thể hiện nét đẹp của tinh thần gia tộc. Biết kính trên nhường dưới, biết ”ăn coi nồi, ngồi coi hướng”, biết gắp miếng ngon dâng cho ông bà, cha mẹ, nhưng đồng thời cha mẹ, ông bà cũng chia sẻ, nhường nhịn thức ăn cho con cháu. Tình gia tộc chan hoà ấm áp qua sự sử dụng đôi đũa trong bữa cơm. 
Trước khi ăn, có người còn cầm đũa xá 3 xá, để nhớ ơn người nông dân lam lũ, một nắng hai sương, nhọc nhằn vất vả, mới tạo ra được hột cơm. Và khi ăn, phải ăn cho sạch cơm trong chén – để thể hiện cái đạo lý ”Ăn trái nhớ kẻ trồng cây” của dân tộc ta. Tập quán tốt đẹp nầy hiện vẫn còn một số gia đình áp dụng. Đôi đũa còn mang lại cho ta cái thú vị trong cách thưởng thức món ăn. Cứ thử ăn món phở mà dùng chiếc nĩa cuộn tròn mấy cọng bánh đưa vào miệng… Hoặc ăn món mắm và rau mà cầm nĩa xăm từng cọng rau, con dao cắt từng miếng thịt – mắm, thịt và rau rời rạc, không còn là món ”mắm-thịt-cá-và-rau” hài hoà tuyệt diệu: ăn một miếng, ngon thấm tận vào da thịt, như âm hưởng một bản đàn đã dứt mà dư âm còn lan man mãi trong tâm hồn. Ăn mắm bằng muỗng nĩa… thì không còn thú vị gì nữa! 

Đôi dòng lịch sử về đôi đũa 


Theo nhiều sử liệu nghiên cứu về đôi đũa thì người dân vùng Hoa Nam thuộc giống dân Bách Việt là dân tộc đầu tiên phát minh ra đôi đũa dùng để gắp thức ăn. Trong quyển L’histoire culturelle de la Chine, sử gia Đàm Gia Kiện xác nhận người Tàu thời tiên Tần (trước Tần Thủy Hoàng) vẫn còn ăn bốc tức dùng tay như một đứa trẻ đưa thức ăn vào miệng. Riêng dân Trung Hoa miền Hoa Bắc – ăn bốc là một thói quen truyền thống. Vì miền nầy khí hậu lạnh lẽo, dân ở đây chỉ trồng được lúa mạch (orge) và lúa kê (millet) và ăn bánh mì, tất nhiên là ăn bốc, vì phải dùng tay để cầm bánh mì đưa vào miệng ăn. Và bánh mì của họ khác với bánh mì Tây Phương. Chỉ khi họ bành trướng lãnh thổ về phương Nam – vùng đất của dân Bách Việt (100 giống dân Việt) đất ấm áp, nơi có nhiều rừng tre và trồng được lúa nước, người Hán khám phá ra dân nơi nầy dùng một dụng cụ thô sơ bằng tre, dùng để và cơm và gắp thức ăn đưa vào miệng. 

Đôi đũa đuợc phát sinh qua hình ảnh cái mỏ con chim ngậm giữ một cách có hiệu quả hột lúa hay một con cá, trước khi đưa vào miệng ăn. Và cũng vì thức ăn có nhiều thứ ẩm nước hay nóng sôi, dùng tay ăn sẽ dơ bẩn hay bị phỏng tay, rất bất tiện… Từ đó, họ dùng 2 cái que, hình ảnh cổ xưa nhứt của đôi đũa. Họ Đàm kết luận, với những khám phá mới gần đây nhứt, đã minh chứng Đôi Đũa là sản phẩm của nền văn minh nông nghiệp của vùng Đông Á. (Đàm Gia Kiện, L’histoire culturelle de la Chine – p.769)

Lan man chuyện đôi đũa

Người Tàu còn sử dụng đôi đũa trong Toán học trước khi phát minh ra được bàn toán (boulier). Đời nhà Hán, người Tàu đã biết sử dụng những chiếc đũa viết những con số để xếp thành những phương trình đại số.. Lưu Huy (220-280) dùng những chiếc đũa màu đỏ (chỉ số dương) và những chiếc màu đen (chỉ số âm), để dạy Toán học, để xếp thành những ma trận (matrice), một ngàn năm trước cả GAUSS. Người Tàu cũng sớm biết rút căn số (extraire les racines carrées) từ thời đó. (Theo J. Claude Marzloff, Histoire des Mathématiques chinoises, 1988, p.376) 
Qua những nghiên cứu về nguồn gốc đôi đũa, luận chứng của sử gia Đàm Gia Kiện gần đây nhứt, có lẽ là đáng tin cậy hơn cả. Nhà Hán bành trướng lãnh thổ về phương Nam – vùng các tỉnh phía Nam sông Dương Tử gồm các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Phúc Kiến – là những vùng khí hậu tương đối ấm, trồng được lúa nước và có nhiều rừng tre. Thực phẩm vùng nầy là cơm nấu từ lúa gạo không phải là bánh mì như vùng Hoa Bắc (ăn bằng cách cầm tay). Ăn cơm thì phải dùng 2 cái que bằng tre để lùa cơm vào miệng và để gắp thức ăn – tiện lợi, sạch sẽ hơn dùng 2 bàn tay. 

Trên đường lưu lạc xứ người 


Bây giờ lưu lạc xứ người, cộng đồng ta là một thiểu số nhỏ bé. Môi trường khác, văn hoá khác, ngôn ngữ tập quán khác. Văn hóa mới ảnh hưởng ào ạt trực tiếp – tác động có tánh cách thượng phong, áp đảo, nhứt là đối với giới trẻ. Muốn sống còn, dù không muốn, ta vẫn phải hội nhập vào xã hội mới. Giới trẻ được giáo dục theo văn hoá sở tại. Từ nơi ăn chốn ở, cách ăn uống, nếp suy tư – là hệ quả của nền giáo dục mới. Bữa cơm Việt Nam, tất nhiên có đôi đũa, có còn giữ vững địa vị của nó trong nếp sống của nhiều thế hệ trẻ sinh ra và lớn lên tại hải ngoại không? 

Nhiều người ưu tư nghĩ rằng chỉ vài ba thế hệ sau, nền văn hoá ta sẽ chìm mất vào nền văn hóa bản địa. Trẻ con ta dần dần sẽ không nói được tiếng Việt, không học tiếng Việt hoặc có, cũng chỉ là qua loa, thứ yếu. Hậu quả tất nhiên là không đọc sách báo Việt, không thích nhạc Việt. Trẻ con thích Hamburger hơn cơm, thích khoai tây chiên hơn phở. Bữa cơm gia đình sẽ không còn canh chua cá kho, sẽ vắng bóng mắm tôm cà pháo, và đôi đũa, cũng sẽ bị dòng nước lũ văn hoá mới cuốn trôi đi mất… 

Mặc dù có rất nhiều tổ chức, hội đoàn, chùa chiền khắp thế giới hoạt động thiện nguyện, nhiệt tình, tích cực cho việc giáo dục tiếng Việt cho con em, nhưng có một sự thật không thể chối cãi là phần lớn con em sinh tại hải ngoại không đọc sách báo Việt ngữ và thích ăn Hamburger, hot dog hơn cơm và phở. 
Bảo tồn và duy trì văn hoá cũng còn tùy thuộc nơi sức nỗ lực của chúng ta – những bậc cha ông của các thế hệ sinh tại hải ngoại. Tại sao các cộng đồng Tàu còn giữ được văn hóa của họ. Thăm dò những người Tàu nhiều thế hệ sinh đẻ tại đây – hiện có người từ 60 tới 90 tuổi, họ vẫn đọc được tiếng Tàu, ăn cơm Tàu, sử dụng đôi đũa… Người Tàu đã làm được. Còn ta thì không biết ra sao! 

Đôi đũa trong bàn tiệc 


       Một người Tây Phương, Ô. G. Charles, trong tác phẩm: ”La table du dragon” hết sức ca tụng đôi đũa và thức ăn Á Đông. Ông viết: ”Người ta tự đào huyệt chôn mình bằng chiếc nĩa, nhưng ngườt ta xây dựng sức khoẻ của mình với đôi đũa” (On creuse sa tombe avec la fourchette, mais on construit sa santé avec les baguettes).

Người xưa dùng đũa cũng rất quý phái, nhưng ngày nay 

văn hóa dùng đũa đã bị mai một.

        Tác giả một mặt đề cao đôi đũa và thức ăn Á Đông, mặt khác, ông nhận xét cung cách ăn uống của mấy ông con trời: ”Bữa ăn được xem là khoảng thời gian sum họp, vui vẻ, nên người Tàu gây nhiều tiếng động ồn ào trên bàn ăn. Xương xẩu, rác rưởi bỏ bừa bãi bên cạnh chén cơm hoặc vứt đầy xuống mặt đất… và rất ít khi không thấy họ khạc nhổ xuống nền nhà. Chiếc bàn sau bữa ăn giống như một bãi chiến trường ngổn ngang xác chết…” (G. Charles, La table du dragon). 

          Người Việt ta có lẽ cũng đã từng thấy ngoài đời lẫn trong phim, người ta ăn lẩu… Họ dùng đôi đũa dính cơm, thức ăn đang nhai, gắp thịt cá nhúng vào lẩu rồi đưa vào miệng ăn. Đôi đũa dính đầy đờm dãi, xác rau, thịt cá nhai nát… nhúng vào rồi còn quậy quậy trong nước lẩu… cho thịt mau chín. Chao ơi! Mọi người dùng cái muỗng múc nước trong lẩu húp xì xụp! 
         Chính người viết bài nầy những ngày gần đây cũng đã từng trải qua nhiều lần ăn lẩu như thế: Cá bóng kèo còn sống nhảy soi sói… được bỏ vào chiếc lẩu để giữa bàn. Rau rác cũng được bỏ vào cùng lúc. Hàng chục đôi đũa chỏ vào nhúng, gắp, quậy quậy… rồi đưa vào miệng nhai, ăn… và tiếp tục dùng đôi đũa dính đầy thức ăn chỏ vào lẩu lập lại cái ”điệp khúc” nầy nhiều lần trong bữa ăn. Nước dùng trong giây lát… ngả màu, nổi màng màng. Kỳ vi, thịt cá, rau rác vụn và chắc chắc có cả nước miếng, đờm dãi trôi lều bều trong nước lẩu… Ly la ve độc nhứt trên bàn chuyền nhau… nốc ừng ực một hơi, khà một tiếng khoái trá! Những người khác trong bàn vỗ tay: ‘Dzô! Dzô! Chăm phần chăm!’ Tiếng vỗ tay rôm rốp. Tới phiên mình cũng đành phải nâng ly và cũng đành chỏ đũa, nhúng, gắp như mọi người, nếu không muốn lãnh cái cán búa. Thiệt tình! Ớn thấu trời xanh! 
Thói quen ”truyền thống” nầy đã có lâu đời nên người trong cuộc thấy rất bình thường. Nếu để ý một chút hoặc khi xem người Tàu ăn lẩu… thấy thật muốn nhợn… Ớn quá trời! Người Tây Phương lấy làm lạ trong lòng! 

            Trong tiệc cưới hỏi hay party hội họp bạn bè… người mình có thói quen dùng đôi đũa đang ăn trong miệng gắp thức ăn bỏ vào chén các vị cao niên, các bà, các cô… để bày tỏ sự kính trọng người lớn tuổi hay sự xã giao lịch lãm của mình. Tuy nhiên, qua sự thổ lộ của nhiều người, họ rất khổ tâm trước vấn đề nầy. Có nhiều điều bất tiện. Dùng đôi đũa đang ăn gắp thức ăn phục vụ cho người khác có khi làm họ không hài lòng. Vì món ăn đó không thích hợp với cái răng vừa mới thay, vì muốn tự mình gắp món nào mình thích, hoặc vì cử món đó, hay vì món đó khi được phục vụ chỉ còn đầu và vỏ (thí dụ như tôm hùm). Đôi đũa mình đang ăn, đã dính nước miếng, cơm và thức ăn nhai trong miệng, mà gắp thức ăn bỏ vào chén phục vụ người khác. Bỏ thì sợ mích lòng bạn mà ăn thì nuốt không vô… 
        Một bà bạn tâm sự: “Tui ngồi chết trân, hổng biết phải làm sao, bèn lén lén để ra dĩa lấy giấy khăn ăn đậy lại, mắt lấm lét vì sợ bị bắt gặp. Trông cho anh bồi đi tới dọn để phi tang cho lẹ lẹ.” 
Ta vẫn có thể lịch sự phục vụ người khác bằng cách sử dụng muỗng nĩa do nhà hàng dọn sẵn trong dĩa để lấy thức ăn để vào chén họ. Ta vẫn giữ được thói quen tốt đẹp nầy.. 
     Xoá bỏ một thành kiến còn khó hơn phá vỡ một thành trì. Huống chi đôi đũa trong bữa ăn người Việt còn là một tập quán lâu đời, một nét văn hoá trong đời sống ông cha hàng ngàn năm nay. Bỗng nhiên thay đổi cung cách sử dụng, dù biết đúng đi nữa cũng khó mà chấp nhận. 
        Dòng văn hóa ngàn đời của ta là gạn lọc và thâu thái. Giáo dục của ta vừa dân tộc, vừa khai phóng… Vừa bảo tồn, vừa biến đổi… Gìn giữ cái hay nhưng đào thải cái dở. Chính chúng ta là những người trực tiếp tham dự, đóng góp vào dòng văn hoá đó. Đôi đũa là một di sản dân tộc, cho đến ngàn sau ta vẫn còn sử dụng nó, nếu ta còn là người Việt. Nhưng biến đổi, cải tiến cung cách sử dụng cho thích nghi với nếp sống văn minh hiện đại là điều cần thiết, là phù hợp với dòng văn hóa ngàn đời của ông cha ta. 

Lê Quốc

16 thg 10, 2018

CẦN CÓ MỘT CÁI NHÌN ĐÚNG ĐẮN VỀ UNG THƯ : Ung thư chính là một phần của tiến hóa ?


Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionCác tế bào càng dễ phân chia, khả năng nó là tế bào ung thư càng cao.

Liệu chúng ta có thể chiến thắng trong cuộc chiến chống ung thư?
Các số liệu mới nhất cho thấy khả năng chiến thắng ung thư còn rất xa vời. Ở Hoa Kỳ, nguy cơ mắc bệnh ung thư ở đàn ông là 42% và 38% ở phụ nữ, theo Cộng đồng Ung bướu Hoa Kỳ.
Ở Anh, tình hình còn tệ hơn. Theo tổ chức Nghiên cứu Bệnh Ung bướu Anh Quốc, 54% đàn ông và 48% phụ nữ sẽ bị ung thư vào lúc nào đó trong đời.
Số lượng các ca mắc bệnh vẫn đang trên đà tăng lên. Tính đến năm 2015, có 2,5 triệu người ở Anh sống với căn bệnh này, theo Tổ chức Hỗ trợ Bệnh nhân Ung bướu Macmillan. Số ca bệnh tăng 3% mỗi năm, hay nói cách khác cứ 5 năm sẽ có thêm 400.000 ca mắc bệnh mới.
Các con số như trên cho thấy bệnh ung thư không chỉ cực kỳ phổ biến, mà còn ngày càng lan rộng hơn. Nhưng tại sao lại có thêm nhiều người bị căn bệnh này đến thế?
Để có câu trả lời, ta cần phải hiểu ung thư là một sản phẩm phái sinh không may trên con đường tiến hoá. Một loài phát triển như con người dễ bị ung thư bởi vì con người là cộng đồng rất lớn và phức tạp.
Nhưng mặc dù chính quá trình tiến hoá gây ra ung thư, thì cũng chính các ý niệm về tiến hoá giờ đây đang dẫn đường đến những phương pháp điều trị tiên phong có thể chống lại ung thư để bảo vệ sức khoẻ chúng ta.

Sinh sôi nảy nở dữ dội

Để hiểu cách ung thư tồn tại ra sao, chúng ta cần quay lại tiến trình cơ bản xảy ra trong cơ thể con người: phân chia tế bào.
Mỗi chúng ta đều bắt đầu sự sống khi trứng và tinh trùng gặp nhau và thụ tinh. Trong vòng vài ngày, trứng và tinh trùng đó phát triển thành một khối cầu có chứa vài trăm tế bào.
Chúng ta phát triển thành người lớn hoàn chỉnh sau 18 năm. Lúc này các tế bào đã phân chia quá nhiều lần đến nỗi các nhà khoa học không thể chắc chắn có bao nhiêu tế bào trong cơ thể người.
Sự phân bào trong cơ thể con người được điều khiển rất nghiêm ngặt. Ví dụ như khi lần đầu tiên cơ thể bạn phát triển bàn tay, một số tế bào sẽ “tự huỷ” - gọi là quá trình chết rụng tế bào - để phân chia ra khoảng trống giữa các ngón tay.

Bản quyền hình ảnhGETTY
Image captionTế bào ung thư ngay lập tức phát triển dữ dội đến mất kiểm soát

Ung thư cũng là quá trình phân chia tế bào, nhưng với một điểm khác biệt quan trọng. Một tế bào ung thư phá vỡ tất cả các quy luật phân chia tế bào được điều khiển mà các tế bào khác tuân thủ.
“Cứ như thể chúng là sinh vật khác vậy,” nhà nghiên cứu sinh học tiến hoá Timothy Weil từ Đại học Cambridge ở Anh nói. “Tế bào càng phân chia và lấy chất dinh dưỡng càng nhanh hơn các tế bào xung quanh, thì nó càng có khả năng là tế bào ung thư, và nó càng có cơ hội sống sót và phát triển mạnh hơn.”
Sự phân chia tế bào khoẻ mạnh luôn có kiểm soát và chừng mực, nhưng sự phân bào của tế bào ung thư cực kỳ dữ dội và sinh sôi nảy nở mất kiểm soát.
“Các tế bào người lớn luôn được kiểm soát nghiêm ngặt, Weil nói. “Về căn bản thì ung thư là các tế bào đó trở nên không thể kiểm soát được.”
Ung thư chỉ có thể phát triển theo kiểu mất kiểm soát này nếu một trong số các gene dùng để ngăn chặn sự phát triển tế bào bất thường, như gene p53, bị biến dị trong tế bào ung thư.
Tuy nhiên, cơ thể chúng ta khá hữu hiệu trong việc phát hiện ra các đột biến. Có các hệ thống sinh học bên trong cơ thể con người sẽ xuất hiện để huỷ diệt hầu hết tế bào đột biến trước khi chúng có thể gây nguy hiểm.
Chúng ta có rất nhiều gene “điều chỉnh”, là thứ sẽ gửi đi chỉ dẫn nhằm tiêu diệt bất cứ tế bào lỗi nào.
“Đã có hàng triệu năm tiến hoá cho tiến trình này,” Charles Swanton từ Học viện Francis Crick ở Anh cho biết. “Hệ thống này khá tốt nhưng chưa hoàn hảo.”
Nguy cơ đến từ một số rất ít các tế bào bị lỗi nhưng không được sửa chữa.
Qua thời gian, một trong những tế bào đó phát triển và phân chia thành hàng ngàn, sau đó thành hàng chục ngàn tế bào ung thư. Cuối cùng có lẽ phải có đến hàng tỷ tế bào ung thư trong một khối u.
Điều này gây ra một vấn đề thực sự thách thức.
Một khi tế bào bị lỗi ban đầu được phân chia và nảy nở thành khối u, người đó sẽ mắc bệnh ung thư cho đến khi tất cả các tế bào ung thư bị xoá sổ khỏi cơ thể.
Nếu chỉ một vài tế bào ung thư sống sót, chúng sẽ lại tiếp tục phân chia và phát triển thành khối u trở lại.

Liên tục đột biến mới

Các tế bào ung thư không giống nhau, thậm chí là rất khác. Bất cứ khi nào một tế bào ung thư phân chia, nó cũng có tiềm ẩn khả năng tiếp tục có thêm đột biến mới tác động vào sự phát triển của nó. Hay nói cách khác, tế bào ung thư cũng tiến hoá.

Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionKhi một tế bào ung thư tiến hóa, nó tiếp tục gia tăng sự đa dạng về gene

Khi tế bào trong một khối u tiến hoá, nó trở nên đa dạng về gene hơn bao giờ hết. Và sau đó quá trình tiến hoá sẽ phải làm việc để tìm ra đâu là tế bào ung thư nguy hiểm nhất.
Sự đa dạng về gene là “là gia vị của cuộc sống, là nền tảng của các chọn lọc tự nhiên”, Swanton nói. Ý của ông nhắc tới thuyết tiến hoá bằng chọn lọc tự nhiên của Charles Darwin, được nêu ra lần đầu tiên hồi năm 1859.
Cũng như các loài đơn lẻ, như con người, sư tử, ếch nhái hay thậm chí vi khuẩn, vốn đều phát triển đa dạng về gene theo thời gian, tế bào ung thư cũng như vậy.
“Các khối u không tiến hoá theo kiểu tuyến tính,” Swanton nói. “Chúng tiến hoá theo cách tiến hoá phân chia theo nhánh, có nghĩa là không có hai tế bào nào trong cùng khối u giống nhau.”
Hệ quả là, các tế bào bên trong khối u tiến hoá ngày càng nguy hiểm hơn. “Rõ ràng là chúng ta đang phải đối phó với rất nhiều nhánh tiến hoá tạo ra sự đa dạng và phù hợp, và cho phép các tế bào sống sót được điều trị và cuối cùng là đánh lừa các bác sĩ,” Swanton nói.
Sự thật là các khối u thường xuyên thay đổi cấu trúc gene, và đây là một trong các nguyên nhân khiến người ta khó lòng có thể “giết” được tế bào ung thư.
Đó là lý do mà Swanton và những nhà nghiên cứu khác trong lĩnh vực này theo đuổi cách tiếp cận tiến hoá để điều trị ung thư.
Swanton là chuyên gia về ung thư phổi, vừa là bác sĩ vừa là nhà nghiên cứu. Công trình của ông cho thấy điều mà ông hy vọng là có thể tạo ra cách điều trị hiệu quả, chính xác.

“Chặt” cây đột biến

Ta có thể coi tiến hoá trong khối u ung thư giống cái cây có nhiều nhánh. Ỡ thân cây là biến dị gốc đã kích thích tạo ra khối u: đột biến mà mọi tế bào ung thư trong khối u đều sở hữu.
Về mặt lý thuyết, liệu pháp điều trị tập trung vào loại đột biến nền tảng đó có thể huỷ diệt tất cả tế bào trong khối u.
Cách tiếp cận này đã được nhiều liệu pháp điều trị sử dụng. Ví dụ như một loại thuốc có tên liệu pháp EGFR tập trung vào ung thư phổi, và loại protein BRAF gây ức chế tấn công vào các gene lỗi có thể gây ra khối u ác tính.
Có một rắc rối là các liệu pháp không hoạt động tốt như chúng ta hy vọng. Thậm chí ngay cả trong các liệu pháp điều trị mục tiêu, tình trạng kháng thuốc thường xuyên xảy ra.

Bản quyền hình ảnhJOHN SHORTLANDCC BY 2.0
Image captionMột khối u ung thư cũng giống một cái cây, mà mỗi nhánh lại là các đột biến mới

“Nó xảy ra vì một trong các tế bào trong các nhánh của khối u đã đột biến để có thể kháng thuốc, cho phép nó qua mặt liệu pháp điều trị,” Swanton nói.
Hay nói khác đi, một vài nhánh của cái cây ung thư đã tiến hoá theo cách khiến chúng ít bị tác động bởi liệu pháp tấn công vào đột biến nền tảng. Chúng có thể 'qua mặt' được liệu pháp đó.
Swanton và các đồng nghiệp đã nghiên cứu vấn đề để xem liệu họ có thể cho ra một liệu pháp có kết quả tốt hơn không.
Một khối u trung bình có thể chứa một ngàn tỷ tế bào ung thư. Một trong số các tế bào đó có thể phát triển theo cách khiến chúng miễn dịch với tấn công qua đột biến gốc ban đầu.
Nhưng liệu sẽ thế nào nếu liệu pháp điều trị nhắm vào hai đột biến nền tảng cùng lúc? Sẽ có ít hơn các tế bào có thể tiến hoá và miễn dịch với cả hai kiểu điều trị.
Swanton và đồng nghiệp của ông đào sâu vào các con số để tìm hiểu xem có bao nhiêu đột biến nền tảng trong cái “thân cây” mà họ phải nhắm vào đồng thời, để đảm bảo có thể huỷ diệt thành công tất cả các tế bào ung thư.
Số ba chính là con số kỳ diệu. Tính toán của họ cho thấy nếu nhắm vào ba biến dị gốc cùng lúc họ sẽ “chặt cả thân cây” và huỷ diệt tất cả các tế bào ung thư trong khối u.
Tuy nhiên, cách tiếp cận này không rẻ chút nào; việc này đòi hỏi nhà nghiên cứu phải tìm hiểu loại ung thư đặc thù trên cơ thể bệnh nhân đó để xác định đâu là các đột biến nền tảng của khối u, từ đó mới xác định được kết hợp các liệu pháp điều trị nào cùng lúc.
“Những gì chúng tôi đưa ra là một cách tiếp cận mà ta có thể sắp xếp các khối u và sản xuất ra một loại kháng nguyên tác động đến toàn cơ thể trên cơ sở từ bệnh nhân này đến bệnh nhân khác,” Swanton giải thích.
Nhà nghiên cứu ung thư trực tràng Alberto Bardelli từ Đại học Turin ở Italy, cũng sử dụng lý thuyết tiến hoá làm nguồn cảm hứng cho giải pháp tiềm năng điều trị ung thư để tránh nguy cơ kháng thuốc.
“Tôi rất thất vọng vì tất cả các khối u đều sẽ kháng thuốc,” ông nói trong công trình khoa học trước đây. Giờ Bardelli đã sử dụng chính yếu tố kháng thuốc để phát triển liệu pháp điều trị ung thư mới.

"Chiến tranh" trong nội bộ khối u

Ông bắt đầu đánh lừa các tế bào kháng thuốc phát triển, mà ông gọi là “nhân bản”. Bệnh nhân được sử dụng một liệu pháp điều trị bằng thuốc đặc thù và sau đó được theo dõi để xem khi nào một đợt “nhân bản” các tế bào ung thư lên và chiếm số đông trong khối u vì nó phát triển để kháng thuốc.

Bản quyền hình ảnhJC REVYISMSPL
Image captionCác tế bào ung thư thường phải được điều trị nhiều lần

Sau đó Bardelli ngừng điều trị bằng thuốc. Việc này giảm đi áp lực phải tiến hoá cho phép quá trình nhân bản thành công. Không có áp lực, các loại khác của tế bào ung thư trong khối u bắt đầu có cơ hội nở rộ.
Chúng “chống lại” các tế bào nhân bản đang chiếm số đông. Hệ quả là, các tế bào ung thư bắt đầu tự đánh nhau.
Khi một vài loại tế bào nhân bản đã phát triển, đã đến lúc để tiếp tục dùng thuốc trở lại, vì các thể nhân bản mới chưa phát triển kịp kháng thuốc. Bardelli gọi đó là “cuộc chiến của các nhân bản”.
“Chúng tôi sử dụng các nhân bản tế bào để chống lại chính các bản sao, chúng tôi đợi tìm ra kẻ thắng, sau đó gỡ bỏ tác nhân kích thích là thuốc.
Kẻ thắng cuộc lúc này không thích nghi và bắt đầu biến mất, và sau đó những kẻ khác chiến thắng. Vì thế chúng tôi để khối u đánh nhau với chính nó.”

Bản quyền hình ảnhALFRED PASIEKASPL
Image captionMột số loại thuốc nhắm vào khối u có thể làm tế bào ung thư bị phân rã

Tôi muốn sử dụng một phần các tế bào không bị thuốc tác động để chống lại các tế bào khác.”
Đến giờ thì chúng ta vẫn chưa biết liệu phương pháp này có tác dụng không. Nhóm nghiên cứu của ông sẽ bắt đầu thử nghiệm điều trị vào mùa hè 2016.

Cái gì gây ra ung thư?

Các tiếp cận về mặt tiến hoá cho thấy nhiều hứa hẹn, nhưng cùng lúc cũng rất quan trọng để hiểu có bao nhiêu tác nhân ban đầu khiến ung thư xuất hiện.
Vào năm 2013, một trong những nghiên cứu lớn nhất về gene đã có bước tiến quan trọng trong việc tìm hiểu vấn đề này. Các nhà nghiên cứu truy tìm trong gene bệnh nhân để tìm ra “dấu ấn” của hơn 30 đột biến ung thư phổ biến nhất.
Các dấu hiệu này cho thấy các biến đổi hoá học nhỏ lên DNA trong ung thư bao gồm ung thư phổi, da và buồng trứng.
Andrew Biankin, một bác sĩ phẫu thuật ở Đại học Glasgow ở Anh Quốc, là một trong những nhà nghiên cứu tham gia dự án này. Ông nói có thể quan sát được “sự xâm hại vào DNA”, là thứ cho thấy những dấu hiệu bị tổn thương.
“Với ung thư da như u ác tính, chúng tôi thấy có bằng chứng của việc bị tác động bởi tia cực tím (UV), ở ung thư phổi có thể thấy các dấu hiệu do thuốc lá gây ra,” Biankin giải thích.
“Chúng tôi có thể thấy dấu hiệu cho thấy những xâm hại này đã dẫn đến tình trạng mất khả năng sửa chữa DNA.”

Bản quyền hình ảnhPAUL WOOTTONSPL
Image captionUng thư để lại dấu hiệu rất rõ nét trên DNA của con người

Cùng với các dấu hiệu đó của ung thư, nhóm nghiên cứu có thể thấy các kiểu hình thành ung thư bất thường mà nguyên nhân vẫn chưa rõ do đâu. "Tới giờ, có rất nhiều nỗ lực để tìm ra nguyên nhân là gì,” ông nói.
Thách thức cơ bản với các nhà nghiên cứu như Biankin và Tổ chức Nghiên cứu Ung bướu Anh Quốc vốn tài trợ cho dự án là để hiểu chính xác nguyên nhân nào đã dẫn đến những những biến đổi về gene đó.
Quan trọng là phải hiểu được nguyên nhân gây ra ung thư và tìm cách điều trị mới, nhưng đồng thời người ta cũng phải tập trung vào tránh các nguyên nhân gây ra áp lực. Bởi vì giờ đây đã có những nguy cơ được biết đến là góp phần gây ra đột biến tế bào gây ung thư, như việc hút thuốc hay bị cháy nắng.
Otis Brawley, Giám đốc Y tế từ Hiệp hội Ung bướu Hoa Kỳ, cho biết tập trung vào vài nguy cơ có thể giúp tránh rất nhiều trường hợp tạo tế bào ung thư ban đầu. Ông trích dẫn hai số liệu gây sửng sốt: vào năm 1900 tỷ lệ chết vì ung thư ở Hoa Kỳ là 65/100.000 người, nhưng tỷ lệ này đã nhảy lên 210/100.000 người chỉ sau đó 90 năm.
“Nếu có gì mà đã tăng lên nhanh như vậy sau 90 năm, thì thứ đó chính là nguyên nhân gây bệnh,” Brawley cho biết. “Nếu bạn có thể loại bỏ nguyên nhân thì có thể giảm tỷ lệ ung thư.”
Ở Hoa Kỳ, tỷ lệ tử vong do bệnh ung thư đã giảm 25% trong hai thập niên qua. “Hơn một nửa tỷ lệ giảm là nhờ vào các hoạt động phòng ngừa ung thư,” Brawley nói.
Điều này cho thấy một vài loại ung thư chết người trước đây đã có thể phòng tránh được. Ví dụ như gần một phần ba số ca chết vì ung thư ở Hoa Kỳ liên quan đến hút thuốc lá. Điều này khiến thuốc lá “là nguyên nhân gây chết người có thể tránh được dễ nhất trên thế giới”, theo Tổ chức Nghiên cứu Ung bướu Anh Quốc.

Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTắm nắng nhiều có thể khiến các DNA bị nguy hiểm

Mặc dù rõ ràng có dấu hiệu tốt là tỷ lệ chết đã giảm, nhưng số lượng người bị chẩn đoán có ung thư lại đang trên đà gia tăng.
Một phần của sự gia tăng này là vì người ta đã chẩn đoán tốt hơn các ca bệnh ung thư, và vì thế có nhiều ca được xác định và tính vào. Điều này đúng với ung thư tuyến tiền liệt.
Nhưng một trong những nguyên nhân được nhắc đến nhiều hơn là sự gia tăng tuổi thọ ở con người.
Tính trung bình, con người hiện nay sống thọ hơn trước. “Nếu bạn sống đủ lâu, bạn sẽ mắc ung thư,” Biankin nói.
“Nếu chúng ta sống đến hơn 70 tuổi, thì ta phải chấp nhận mình sẽ bị một loại ung thư nào đó, chỉ là sớm hay muộn thôi,” Bardelli nhận định. Căn bệnh là không tránh khỏi vì các tế bào của cơ thể người không tiến hoá để duy trì ổn định ở các DNA chừng nào ta còn sống, ông nói.
Brawley thậm chí còn đi xa hơn, cho biết tất cả mọi người sau tuổi 40 đều sẽ xuất hiện một đột biến có thể gây ung thư vào thời điểm nào đó.
Tin này nghe có vẻ đáng báo động, nhưng may mắn thay cơ chế bảo vệ tự nhiên trong cơ thể vẫn có khả năng huỷ diệt các tế bào đột biến trước khi chúng phát triển thành một khối u hoàn chỉnh.

Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionHút thuốc lá là một trong những nguyên nhân gây ung thư

Mặc dù sự trỗi dậy của bệnh ung thư là hệ quả không thể tránh khỏi, nhưng các tiến trình tìm ra phương pháp chữa trị tốt hơn vẫn đang tiếp tục có các bước tiến dài.
Và việc nhìn lại cách sự sống vận hành để “chống lại tiến hoá bằng tiến hoá” có thể đưa ra những đột phá xa hơn.
“Cơ thể của chúng ta phải sử dụng các nguồn lực đã phát triển từ hàng triệu triệu năm trước,” Bardelli nói.
“Vẫn có hi vọng. Tôi không nghi ngờ gì về việc ta có thể đánh bại bệnh ung thư, không nghi ngờ gì hết,” ông nói.
“Đôi khi ta thất bại vì ta không xác định được đúng vấn đề. Đó không phải là lỗi của ai cả. Đó là cách khoa học vận hành.”
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
MỜI ĐỌC THÊM BÀI LIÊN QUAN 
HOÁ TRỊ UNG THƯ CẦN ĐÁNH GIÁ CHO ĐÚNG  :
 https://nguyenuthang.blogspot.com/2018/10/hoa-tri-ung-thu-can-anh-gia-cho-ung.html

HOA HỌC TRÒ-Trời đất dành riêng tuổi học trò.Một loài hoa đỏ rất nên thơ...

HOA HỌC TRÒ-Trời đất dành riêng tuổi học trò.Một loài hoa đỏ rất nên thơ...
Mỗi năm hoa nở mùa thi đến.Chạnh nhớ trường xưa nhớ bạn bè .Nguyenuthang ..