22 thg 4, 2017

THƠ TẾU VỀ ĐỊA DANH SÀI GÒN


                

             CÁC ÔNG, CÁC BÀ


             Chuyện rằng từ thuở xa xưa
             Ông bà ta đã dây dưa ái tình
             Bởi thế nên tục truyền rằng    :


  Ông Lãnh, Ông Tạ, Ông Đồn
  Ba người bạn thiết sớm hôm một nhà
  Ông Lãnh bản chất thiệt thà
  Thầm yêu nét đẹp mặn mà Bà Đen
  Nhưng nào ông dám bon chen


     
                                                                         Núi Bà Đen

 Sáng đêm chong đèn nhung nhớ thiết tha
 Ông Đồn bản tánh nguyệt hoa
 Chờ Ông Lãnh kẹt, cà rà Bà Đen
 Hai người xả láng một phen


Thị Nghè

Sinh ra bé gái đặt tên Thị Nghè
Ông Lãnh nghe nói, thuê ghe
Đi thăm cho biết Thị Nghè ra sao
Ngó gần nó cũng bảnh bao
Nhìn xa nó cũng hao hao Ông Đồn
Bà Đen từ dạo sinh con
Vốn đã đen sẵn nay còn hơn xưa
Ông Đồn nhìn vợ hết ưa
Bỏ lên Long Khánh say sưa miệt mài
Bà Đen ngẫm nghĩ chán thay
Cũng đi lên núi đêm ngày thở than
Thương cho đứa cháu lầm than
Ông Lãnh hào hiệp cưu mang đem về
Buồn cho cuộc sống ê chề
Một già một trẻ bốn bề cô đơn
Ông bèn thẳng xuống Hóc Môn



                                                            Chợ Bà Điểm

Cưới luôn Bà Điểm để chôn cuộc đời
Qua bao vật đổi sao dời
Bà Đen ở vậy cho vơi nỗi lòng
Chỉ còn Ông Tạ lông bông
Bạn bè lấy vợ nên chồng đã lâu
Cô Giang sắp sửa ăn trầu
Cô Bắc cũng đã từ lâu theo chồng
Ông bèn đi xuống Cầu Bông
Hỏi thăm Bà Chiểu có chồng hay chưa
Bà Chiểu nghe nói bèn thưa:
“Chỉ còn Bà Quẹo là chưa có chồng
Bà Điểm tay bế tay bồng”
Buồn tình, Ông Tạ phải lòng Bà Hom
Ông bèn bao cuốc xe ôm

                
                                                  Lăng Cha Cả

Về lăng Cha Cả lo hôn lễ liền
Phụ rể có cậu Bảy Hiền
Nữ trang Chú Hỏa bạc tiền thiếu đâu
Bà Hạc thì làm phụ dâu
Chú Ía bưng quả, buồng cau, khay trầu
Bà Hom tròn mối duyên đầu
Thương cho Bà Quẹo âu sầu đắng cay
Ế chồng mấy chục năm nay
Chỉ vì cái tội thích hay làm tàng
Buồn cho nghiệp chướng bẽ bàng
Bà đành an phận chẳng màng hơn thua
Mặc cho thế sự ganh đua
Bà liền xuống tóc vô chùa Bà Đanh
Bỏ ngoài tai việc chúng sanh
Cam đành vui thú tu hành điền viên
Buồn nhất là ở Phú Yên
"Ông Chừ" hổng có tình duyên mặn mà
Tự trách số phận “con gà” (mắc dây thun)
Ông qua Cam Bốt cưới “Bà La Môn”.


Cầu Ông Chừ

Chưa hết:
Ông qua Cam Bốt cưới Bà La Môn
Tuổi em thì cũng sồn sồn
"Vệ Xa""Sát Đế" một bồ Hindu
Ngẫn ngơ vào một chiều Thu
Ông ra Thiên Mụ khấu đầu đi tu.
 ........................................................................................................................................
 Để hiểu rõ nguồn gốc những địa danh trên mời bạn đọc thêm bài viết :

           "Một số tên gọi, địa danh ở Sài Gòn mang tên Bà, Ông "

           Trong entry trước có anh bạn "nick" là Alaykum Salam, vào hỏi về những tên gọi, địa danh mang những thành tố Ông, Bà thường thấy. Bạn hỏi (đại ý), ý nghĩa thế nào về tên những dịa danh ấy? Chẳng hạn có những cầu, những chợ mang tên Bà có phải mấy Bà bỏ tiền xây cầu, chợ. hay mấy Bà hiển linh? Về tên gọi, hay địa danh có thành tố Ông như cầu Ông Dầu (trên quốc lộ 13 từ Sài Gòn đi Bình Dương), hay cầu Ông Tố (ở quận 2), bạn cũng hỏi thế.

Tôi cũng thường hay tìm hiểu về những vấn đề này, qua thực tế sống, và phần nhiều qua sách vở, xin chép ra ở đây để tạm gọi là trả lời câu hỏi của bạn Salam, và cũng là để trao đổi với các bạn, có thể các bạn sẽ có những hiểu biết khác, hoặc căn cứ những sách vở đã đọc mà có những ý kiến khác thì thật hay. Cái khó khi viết về những vấn đề có tính chất chữ nghĩa này là không thể viết theo kiểu văn chương, tùy bút, tùy cảm hứng, mà cần phải có nhiều nguồn tham khảo: tham khảo thực tế (đi điền dã tìm hiểu), tham khảo tư liệu sách vở... Càng có nhiều nguồn tham khảo để so sánh, ta càng đến được gần cái đúng.

Tôi sẽ viết về một số tên, địa danh như thế ở Saigon, là nơi tuy không sinh ra, nhưng có lẽ sẽ gắn bó với nó cả đời, để lý giải phần nào.

Ở Saigon như ta đã thấy có khá nhiều tên gọi, địa danh có từ Bà, Ông trong chữ, tôi xin kể về từ Bà trước, hì hì!  Xin kể một số từ, chẳng hạn, về từ Bà có: chợ Bà Chiểu, chợ Bà Hoa, chợ Bà Điểm, rạch Bà Nghè (tên cũ của rạch Thị Nghè), cầu Thị Nghè, rạch Bà Môn, rạch Bà Bèo, Bà Quẹo, cống Bà Xếp, Bà Hom (địa danh)... Về từ Ông có: cầu Ông Dầu, cầu Ông Tố, Ngã ba Ông Tạ, cầu Ông Lãnh, chợ Cầu Ông Lãnh,  rạch Ông, cầu Ông Lớn, cầu Ông Bé, vườn Ông Thượng, đình Ông Súng... 

1/- Một số tên gọi, dịa danh mang tên Bà:

- Chợ Bà Chiểu, Bà Chiểu: là chợ và vùng đất ở quận Bình Thạnh, khu Lăng Ông, chợ có thể mang tên một người phụ nữ.

- Chợ Bà Hoa: chợ ở phường 11, quận Tân Bình, lập năm 1967, trong một khu vực có rất nhiều cư dân đến từ Quảng Nam (chợ có bán nhiều đặc sản vùng Quảng Nam). Nhưng theo người địa phương, thì người lập chợ là một người miền Bắc di cư, tên là Nguyễn Thị Hoa, hiện bà sinh sống tại Mỹ.

- Chợ Bà Điểm, Bà Điểm: để chỉ chợ và vùng đất thuộc huyện Hóc Môn, tương truyền bà Điểm là tên bà chủ quán nước chè  tại vùng này.

- Rạch Bà Nghè, cầu Thị Nghè, chợ Thị Nghè: rạch, cầu, và chợ để chỉ phụ nữ. Sách vở chép, tương truyền cầu Thị Nghè ban đầu bằng gỗ, do bà Nguyễn Thị Khánh, con gái Khâm sai Nguyễn Cửu Vân xây dựng, cho chồng là một thư lại qua lại khi đi làm việc (người dân gọi chồng bà là ông Nghè), khúc sông ở đây cũng được gọi là rạch Thị Nghè theo tên cầu. Ngôi chợ Thị Nghè bên dưới cầu phía bên Bình Thạnh cũng được gọi thế. gần đó còn có nhà thờ Thị Nghè.

- Rạch Bà Môn: ở huyện Bình Chánh, người địa phương (ông Nguyễn Văn Trấn) cho biết âm gốc là Bàu Môn (cái bàu có trồng cây môn nước), đọc trại mà thành.

- Rạch Bà Bèo: cũng tương tự như rạch Bà Môn, có thể là từ Bàu Bèo mà ra (bàu nước có nhiều bèo).

- Bà Quẹo: địa danh ở quận Tân Bình đi Hóc Môn. Con đường tại khu vực này có khúc quẹo rất rõ, có thể do từ Bàu Quẹo, hoặc Bờ Quẹo mà ra.

- Cống Bà Xếp: địa danh ở quận 3 khu vực có ga xe lửa Hòa Hưng, nơi có một cái cống chính của khu vực ăn thông ra kênh Nhiêu Lộc. Không rõ nguồn gốc chữ Xếp có phải là từ tên phụ nữ hay không? Nhưng có từ "Xếp" cho nên có sách giải thích "Bà Xếp" đây có thể là bà vợ ông "Sếp ga xe lửa" (Chef de gare). Có thể ngày trước ở đây có cái cống, nơi đó có nhà một bà mà ông chồng là sếp ga  xe lửa nên gọi  thế? Nhưng tại sao không gọi là "Cống Ông Xếp"? Hay "Bà Xếp" này là người bỏ tiền ra làm cái cống đấy? Như Bà Nghè làm cầu Thị Nghè? Dù sao cũng có thể xem như một cách giải thích.

- Bà Hom: địa danh ở quận 6, Bà Hom có lẽ là từ Bàu Hom (bàu ngâm hom tre) nói trại mà thành, như Bà Môn, Bà Bèo, Bà Quẹo...

2/- Một số tên gọi, địa danh mang tên Ông:

- Cầu Ông Dầu: cầu thuộc phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức trên quốc lộ 13 đi Bình Dương (Thủ Dầu Một). Không rõ có phải cầu mang tên người không? Từ tên Thủ Dầu Một (chữ Dầu ở đây để chỉ loại cây gỗ to), cũng có người suy đoán chữ Dầu là để chỉ cây, nhưng tại sao lại là "Ông Dầu"? Chữ Ông Dầu này có giống như Ông Súng viết phía dưới không?

- Cầu Ông Tố: tên đầy đủ là cầu Giồng Ông Tố ở quận 2 (Giồng Ông Tố là một địa danh). Sách vở viết Ông Tố có tên thật là Trương Vĩnh Tố, mộ ông còn ở gần chợ Bình Trưng, quận 2. không thấy chép lịch sử bản thân ông Tố.

- Chợ Ông Tạ, Ngã ba Ông Tạ: chợ và địa danh ở quận Tân Bình, nơi này có một ngã ba giao giữa 2 đường Cách Mạng Tháng 8 và Phạm Văn Hai, nên ngã ba này được gọi là Ngã ba Ông Tạ. Ông Tạ tên thật là Trần Văn Bỉ (1918-1983), lấy hiệu là "Tạ Thủ" (cánh tay nâng đỡ người bệnh), sinh thời là một nhà sư và thày thuốc nam nổi tiếng trong vùng.

- Cầu Ông Lãnh, chợ Cầu Ông Lãnh: cây cầu một bên là quận 1, một bên là quận 4, cầu do ông Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng thời triều Nguyễn xây dựng, cũng có một con đường mang tên Lãnh Binh Thăng ở quận 11. Trước đây dưới chân cầu phía bên quận 1 có một cái chợ, chợ được lấy tên cầu để gọi là chợ Cầu Ông Lãnh, phường ở khu vực này cũng gọi là phường Cầu Ông Lãnh, như vậy chợ Cầu Ông Lãnh và phường cầu Ông Lãnh là từ tên cầu Ông Lãnh mà ra.

- Rạch Ông, cầu Ông Lớn, Cầu Ông Bé: là con rạch giáp ranh quận 7 và quận 8, nguyên tên là rạch Ong Lớn (con ong), vì ngày trước 2 bên rạch có nhiều cây cối thành rừng ong đến làm tổ, người dân lấy mật ra bán cạnh cầu, nói trại thành rạch Ông. Hiện nay có 2 cây cầu ở khu vực này tên là cầu Ông Lớn và cầu Ông Bé, từ tên gốc rạch Ong Lớn mà ra.

- Cầu Ông Lớn: cầu bắc qua kênh Chợ Lớn (kênhTàu Hũ) ở quận 6, khác với cầu Ông Lớn, Ông Bé vừa kể, Ông Lớn ở đây là Tổng đốc Đỗ Hữu Phương (người dân quen gọi là Tổng đốc Phương, trước năm 1975 có đường Tổng đốc Phương ở quận 5 nay là Châu Văn Liêm), một trong bốn người giàu có được truyền tụng ở Saigon đầu thế kỷ 20, qua câu "Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Định". Chữ Lớn trong từ Ông Lớn chỉ để nói về chuyện làm chức lớn của Tổng đốc Phương, không có nghĩa tôn kính như Ông Thượng.

- Vườn Ông Thượng: tên cũ dân gian gọi vườn Tao Đàn ở quận 1, Ông Thượng là tên người dân gọi Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt. Trước năm 1975 con đường Cách Mạng Tháng 8 thuộc quận 1 chạy ngang qua vườn Tao Đàn được gọi là đường Lê Văn Duyệt. Lăng Ông ở quận Bình Thạnh trên cổng có dòng chữ Nho "Thượng Công Miếu" (  ). Có người cho rằng tên gọi vườn Ông Thượng, do tại vườn hoa này trước đây có gánh hát bội của Tổng trấn Gia Định lập, thường hát cho quan lại và dân chúng xem. Sinh thời Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt rất thích hát bội, đá gà. Tên gọi Ông Thượng (Thượng Công), với ý tôn kính như "chúa thượng". Thượng không phải chức vụ như tên gọi Ông Lãnh (Lãnh là chức Lãnh binh). Ở miền Tây có Cù lao Ông Chưởng, thì Chưởng là chức Chưởng cơ, để chỉ Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh.

- Đình Ông Súng: tại quận 3 gần khu đối diện nhà thờ Vườn Xoài, trên đường Lê Văn Sỹ đi ngang còn thấy tấm bảng đề tên Đình Ông Súng, có một cái giá để một cây súng nhỏ đã bị gãy, kiểu súng thần công ngày trước. Như vậy có thể thấy Ông Súng, tên gọi của ngôi đình này là một khẩu súng thần công ngày xưa chứ không phải tên người.

Trên đây là một số tên gọi, địa danh có thành tố Bà, Ông ở Saigon. qua những tên gọi, địa danh này ta có thể thấy:

a/ Tên gọi mang tên Bà, Ông:

- Như chợ, cầu do những người mang tên xây dựng hay lập ra, như cầu Thị Nghè (Bà Nghè), hay chợ Bà Hoa, hoặc cầu Ông Lãnh do Ông Lãnh, như đã dẫn. Những tên gọi xác định này thường được chép trong sách vở, hoặc trong dân gian biết rõ còn lưu truyền. 

- Để chỉ người, nhưng không phải lập ra nơi có tên gọi, chẳng hạn như chợ Cầu Ông Lãnh, chợ Ông Tạ, vườn Ông Thượng, chợ Thị Nghè, nhà thờ Thị Nghè... Trong khi nhà thờ Huyện Sĩ do ông Huyện Sĩ Lê Phát Đạt bỏ tiền xây dựng. Có những tên gọi khác mà ta có thể đoán để chỉ người, như rạch Ông Cai (quận 2), rạch Ông Đội (quận 7), cầu Ông Nhiêu (quận 9), những tên Cai, Đội, Nhiêu ngày trước để chỉ chức vụ của người. Kênh Nhiêu Lộc, thì Nhiêu là Nhiêu học, Lộc là tên người.

- Cũng có những tên có thể để chỉ người (Bà) nhưng không xác định được rõ ràng, như tên gọi Bà Điểm, Bà Chiểu, hoặc như tên cống Bà Xếp.

b/ Tên gọi mang tên người (Bà) nhưng có thể do gọi trại từ nghĩa khác, như Bà Môn, Bà Bèo, Bà Quẹo, Bà Bướm (rạch ở quận 7), có thể từ Bàu Bướm nói trại ra (Bàu nước có nhiều con bướm)...

c/ Tên gọi có từ Ông, nhưng không phải chỉ người, mà để chỉ vật, như Đình Ông Súng. Dầu trong Cầu Ông Dầu có phải như trường hợp này?

Còn nhiều những tên gọi, địa danh ở Saigon mang yếu tố chỉ người, nhưng không xác định được rõ ràng có phải là để chì người hay không, vì những tên tuy gọi là Bà, Ông nhưng rất chung chung, không có thông tin từ sách vở, từ dân gian, bản thân tên gọi không gợi lên được những ý nghĩa có thể suy đoán như Bà Xếp, Bà Môn, Bà Bèo, Bà Bướm, hay như Ông Cai, Ông Đội... Ta có thể kể: rạch Bà Tàng (quận 8), rạch Bà Đô, cầu Bà Đô (quận 5), rạch Ông Cốm (Bình Chánh), sông Ông Tiêu (Cần Giờ)...

Qua những gì vừa kể, ta có thể thấy việc đặt tên gọi, địa danh ngày trước ở Saigon không theo một nguyên tắc nào cả. Bản thân tên gọi, địa danh khi có tên như thế cũng chẳng theo nguyên tắc nhất định. Cho nên khi xét ý nghĩa, nguồn gốc của tên gọi, địa danh, cần phải xem xét từng trường hợp (chẳng hạn để phân tên gọi đó vào nhóm nào trong mấy nhóm kể trên để xem xét), không thể mang cách giải thích (dù hợp lý) này để giải thích trường hợp kia (như tôi đã từng nghe có người nói Lê Văn Duyệt xưa làm chứcThượng thư, chắc họ lầm chữ Thượng trong Thượng Công Lê Văn Duyệt là chức vụ Thượng thư).

Nhân đây xin nói vui, dân nhậu có thể tếu táo nói chơi cầu Bà Đô, thì bà Đô là một bà tập... Gym (thể hình), hay cầu Bà Tàng, thì bà Tàng là một bà... dở hơi. Vậy mà đã có trường hợp tương tự được trích dẫn viết trên sách báo hẳn hoi, ấy là chuyện ông Lãnh và các bà vợ. Có thể ban đầu như đã nói, là chuyện tếu táo của mấy ông nhậu, hay chuyện tán dóc của dân lê la cà phê vỉa hè. Người ta viết như thế để minh chứng cho người dân Saigon ngày trước rất giỏi về làm kinh tế (làm ăn buôn bán). Chuyện đại khái bản thân ông Lãnh lập ngôi chợ Cầu Ông Lãnh, ông này có tới bốn, năm bà vợ, lập cho mỗi bà vợ một ngôi chợ đứng tên các bà để buôn bán, như chợ Bà Chiểu, chợ Bà Điểm, chợ Bà Hom, chợ Bà Rịa... Đến nỗi học giả Vương Hồng Sển, một người cố cựu Saigon, từng viết 2 quyển sách về Saigon là Sài Gòn năm xưa, Sài Gòn tả pín lù phải cười ngất.


Tài liệu sưu tầm trên net ( from ngochieppham.blogspot)

18 thg 4, 2017

TÔI ĐI THĂM ĐỀN THỜ LÝ THƯỜNG KIỆT


                        Viết tặng các bạn : Uthang,Chiêu,Ph.Y.
                                                       
---
"Nực cười châu chấu đá xe
Tưởng rằng chấu ngã ai ngờ xe nghiêng"

Tôi khởi hành từ Hà Đông bằng chuyến xe buýt số 2 . Khi xe chạy đến khu phố sầm uất ở đường Nguyễn Lương Bằng - quận Đống Đa, từ xa tôi đã thấy những lá cờ ngũ sắc tung bay phất phới trước cổng đình như  báo hiệu cho ngày lễ hay ngày hội lớn sắp hoặc đang diễn ra… Hình ảnh rực rỡ nhiều màu sắc đã lôi cuốn tôi  tập trung chú ý. Khi xe chạy đến gần ,nhìn trên cổng lớn hàng chữ “Đình Nam Đồng, nơi thờ Quốc công - Thái úy Lý Thường Kiệt”  đập vào mắt tôi. A, đúng đúng đây rồi ! Tôi vội vàng xin tài xế cho xuống xe ở trạm gần đó rồi mang hành trang đi bộ ngược lại chừng  200m để vào Đình.



Một cảm xúc khoan khoái tuyệt vời chạy khắp châu thân khi thấy Đền thờ Lý Thường Kiệt đang ở trước mắt mình , ngôi đền mà bao lâu ở miền Nam tôi từng ao ước, mong mỏi có dịp thăm viếng nhưng tiếc là trong những lần ra  Bắc trước đây  chưa có thời gian  ghé qua.
Việc đầu tiên của tôi là tìm gặp người giữ đền để tìm hiểu cặn kẽ về nguồn gốc. Đó là một ông lão tuổi khoảng thất tuần có gương mặt hiền lành, đầu chít khăn đống màu đen cổ truyền.


Qua chất giọng từ tốn và ấm áp, ông nói như người kể chuyện cho tôi nghe về lai lịch của đền.Thì ra ngôi đền này trước đây tọa lạc tại làng Thái Hòa, sau đó được chuyển về Ấp Nam Đồng . Ngày xưa Đình chỉ là một đền thờ nhỏ nằm ở giữa cánh đồng hoang vắng.Thủa ấy khung cảnh còn hoang sơ với những mảnh ruộng lúa, ao, chuôm…rải rác.Sau này chúng được san lấp và cải tạo thành mặt bằng rộng lớn để xây cất nhà cửa, chợ búa, dinh thự, nhà tập thể kiên cố như bây giờ .Những năm tháng dài đằng đẵng trôi qua đến nay tính ra đã hơn 300 năm.
Khuôn viên đền trước đây có chiều rộng chừng 150m và dài độ 250m. Trải qua thời gian cùng với các biến cố của chiến tranh, đất đền thờ bị dân làng lấn chiếm để xây dựng nhà cửa, cứ hẹp dần cho đến ngày  nay diện tích hiện hữu của đền còn rất hẹp.


Cổng đền thờ Lý Thường Kiệt tiếp giáp với đường Nguyễn Lương Bằng.Hai trụ cổng được xây cao 5m bằng gạch  có trạm trổ hoa văn. Một tấm bảng dài đúc bằng xi măng bắt ngang qua hai trụ cách nhau khoảng 6m, trên đó được gắn các hàng chữ lớn màu vàng đậm in trên nền đỏ rất đẹp. Cạnh cổng đền có một cây đa cổ thụ tỏa ra bóng mát dễ chịu, các rễ phụ mọc um tùm treo lơ lửng từ các cành trên không trải xuống gần mặt đất. Giữa sân đền có một lư hương lớn để mọi người thắp nhang chiêm bái. Tiếp đó là hai cây đèn đá đặt ở hai bên. Trước đây có thiết kế bóng đèn điện, nay đã hỏng chưa được trùng tu nên ngày lễ hội phải thắp tạm bằng đèn cầy.
Phía sau có hai con Nghê (linh vật có 4 chân) bằng đá vôi ở thế nằm giữ đền. Trước đây hai con Nghê này bằng đá đen xanh, loại đá quý,nhưng lúc trùng tu do sơ suất nào đó không rõ đã khiến cho chúng bị đổi chác thành đá vôi như bây giờ. Một sự thất thoát cổ vật thật đáng tiếc của ngôi đền.
Hai dãy nhà trệt có thờ các bài vị thần linh chạy dài, song song trên mỗi dãy ghi "Uống nước nhớ nguồn", còn dãy kia thì ghi "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây".
Trên vách phải đền có một bảng lớn ghi Thần tích Thành Hoàng làng Nam Đồng - Anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt.
Một bức tranh cực lớn bên trái vách có hình tượng vị tướng Lý Thường Kiệt oai nghi ngồi trên lưng ngựa, tay cầm đao. Bên cạnh có 4 câu thơ thần ở bờ sông Như Nguyệt (Sông Cầu). Đây cũng là bản tuyên ngôn độc lập siêu kinh điển đầu tiên của dân tộc Việt Nam.

      Sông núi nước Nam

Sông núi nước Nam, vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.



Bên trong đền:

Hai hàng cột song song, mỗi hàng có 6 cây, tổng cộng tất cả 12 cây cột gỗ cực lớn quý hiếm từ ngàn xưa có đường kính một người ôm không xuể.

Ở chính giữa điện thờ:

- Có bàn thờ Trình quan thần linh, các bài vị được sơn son thiếp vàng.
- Hai bên trưng bày các loại vũ khí (thương, đao…) của Thần Sấm Sét.
- Con ngựa đỏ có long bào trên lưng.
- Bên phải là kiệu rồng, có 2 cái lộng che để cung thỉnh kiệu rước tướng quân đi vi hành hay công tác.
- Trên cột có các câu đối để tôn vinh tướng quân:
                                         Thánh cung vạn tuế
                                         Thánh thọ vô cương
           Thượng đẳng tối linh
Bàn thờ trình các quan thần linh. Đây là nơi để khách thập phương chuẩn bị lễ vật cúng tế và trình diện các thần linh.
- Bên trái có con ngựa trắng (bạch mã) cùng với các vũ khí của thần sấm sét.
- Cùng các bài vị các bậc tiền nhân anh hùng và những người có công với tổ quốc.
Ở hậu cung, bàn thờ chính diện thờ Thái úy Lý Thường Kiệt, tượng ngài cao độ 3m sơn son thiếp vàng, trước bàn thờ có lư hương và hai con chim hạc. Bên trái có thần thiện cầm đao, bên phải có thần ác cầm thương để bảo vệ ngôi đền. Cảnh giới thật trang nghiêm và oai nghi, càng làm cho mọi người phải kính cẩn nghiêng mình trước oai lực của đình thờ.
Để có tài liệu thật chính xác, tôi xin trích lục các dữ liệu được ghi trên bảng Thần tích Thành Hoàng làng Nam Đồng - Anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt tại quận Đống Đa - Hà Nội, cũng như tri ân các ý kiến chọn lọc của thân hào nhân sỹ, các giáo sự chuyên gia đầu ngành văn hoá và xã hội đã đêm biết bao nhiêu kiến thức và óc mỹ thuật cùng nhau đóng góp để có kết quả hoàn thiện và tuyệt với như ngày hôm nay.
Tóm lược lịch sử, chiến công của Ngài được Tổ quốc  và lịch sử ghi công.
"Lý Thường Kiệt là một nhà quân sự, chính trị kiệt xuất thời Lý. Sinh năm Kỷ Mùi (1019), mất tháng 6 năm Ất Dậu (1105). Sử cũ ghi nơi quê ông ở phường Thái Hòa, nhưng công trình nghiên cứu mới cho rằng" đó là nơi sau khi ông đã làm quan và nổi tiếng. Còn chính quê ở làng An Xã cũ, huyện Quảng Đức tức khu vực phía Nam thành Thăng Long (khu làng An Xã sau dời ra bãi Sông Hồng, quanh bãi Phúc Xá ngày nay đổi tên là Cơ Xá nay thuộc Hà Nội).
Vào triều từ năm 23 tuổi với chức Hoàng Môn Chi Hậu, trải chưa đầy một kỳ, nổi tiếng khắp nội đình. năm 1061 nhận lệnh cầm quân đi trấn yên Thanh Nghệ. Năm 1069 được phong chức nguyên soái Đại Tướng chỉ huy đội tiên phong trong cuộc tấn công dài ngày vào các vùng phía Nam do Vua Lý Thánh Tông thân chinh. Sau khi toàn thắng được vua ban các chức Phụ Quốc Thái Phó và Phụ Quốc Thượng Tướng quân. Ít lâu sau ông lại thăng Thái úy Đồng Trung Thủ môn Hạ Bình Chương Sự là chức danh thứ hai trong triều. Năm 1072 vua Lý Thánh Tông mất, Lý Thường Kiệt tích cực đứng về phía mẹ nguyên phi Ỷ Lan và con là Lý Nhân Tông đánh bại phe Thái Hậu Thượng Dương và Thái Sư Lý Đạo Thành được gia phong chức Đôn Quốc Thái Úy Đại Tướng quân, Đại Tư Đồ và tước hiệu Thượng Phụ Công nắm toàn quyền cả văn và võ.
Nhờ nhìn xa trông rộng ông đã kịp thời giải hòa với nguyên Thái Sư Lý Đạo, xây dựng lại đoàn kết trong triều đình, mở khoa thi nho học. Năm 1075, trước âm mưu xâm lược ráo riết và những việc khiêu khích của triều đình nhà Tống, Lý Thường Kiệt chủ động tấn công lên mặt Bắc, phá tan đồn lũy các châu Khâm, Liêm, Ung Bạch và Dung và các trại Vĩnh Bình, Thái Bình Thiên Long, Cổ Vạn, tiêu hủy phần lớn những căn cứ hậu cần và những lực lượng do Tống dự trữ ở đây để xâm lược Đại Việt. Năm 1077 ông lại tổ chức thắng lợi phòng tuyến sông Như Nguyệt (tức Sông Cầu), bẻ gãy cuộc hành binh cướp nước ta của tướng Quách Quỷ nhà Tống buộc phải rút quân.
Truyền thuyết kể lại rằng: Một đêm bên bờ sông Như Nguyệt từ đền Thần Tam Giang (thờ Thần Trương Hống, Trương Hát) thấy vang lên lời thơ Thần :

  "Nam quốc Sơn Hà Nam đế cư
  Tuyệt nhiên định phận tại Thiên Thư
  Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
  Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư"

Nguyên bản chữ Hán

南 國 山 河

      
      
      
      

Nghĩa là:
               "Sông núi nước Nam Vua Nam ở
              Rành rành định phận ở sách trời
                  Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
                  Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời"

Nghe thơ binh sĩ ta thêm nức lòng, tinh thần chiến đấu càng cao.
Tháng 3 - 1077 quân Tống bị đánh tan. Sau chiến thắng Lý Thường Kiệt lo việc nội trị, tu bổ đê điều, cải tổ lại bộ máy hành chính trong toàn quốc.
 Từ năm 1082 - 1101 ông thôi giữ chức Tể Tướng và trông coi Trấn Thanh Hóa. Đầu niên hiệu Long Phú (1101) ông được gọi trở về lại Triều Đình. Những năm cuối đời Ngài còn cầm quân đi đánh Lý Giác Diễn Châu (1103) dẹp quân Chiêm quấy nhiễu ở Bố Chính (1104). Tổ chức lại bộ máy quân đội, duyệt đổi lại các đơn vị từ cấm binh đến dân quân. Với công lao hiển hách của mình Lý Thường Kiệt đã từng được cả Triều Đình nhà Lý quý trọng. Ngay lúc ông còn sống Lý Nhân tông đã cho làm bài hát để tán dương công trạng. Ông được lịch sử công nhận là một Anh hùng dân tộc kiệt xuất, một con người đã hiến dâng tất cả tâm hồn, sức lực cho một sự nghiệp duy nhất. Sự nghiệp độc lập Tổ quốc ở buổi đầu thời tự chủ. Tài năng quân sự đột xuất của ông đã làm kẻ thù khiếp phục. Bốn câu thơ Thần: Nam quốc sơn hà là xuất hiện trên phòng tuyến sông Cầu đã kết tinh từ lòng yêu nước và căm thù giặc của dân tộc ta chất chứa trong hàng nghìn năm. Bài thơ đó như một sức nén của ngôn từ, đã có một âm vang đặc biệt dội vào tâm hồn nhiều thế hệ, có cái khí thế của người Anh hùng đè bẹp kẻ thù.
Theo các cụ lão thành kể lại rằng: "Ngài được nhân dân Nam Đồng tôn là Thành Hoàng Nam Đồng" vì không những Ngài có công với nước với dân là anh hung dân tộc nước Việt mà Ngài còn là người đã đưa dân đến đây lập trại, dạy bảo dân làm ăn.
Trước đây nơi này gọi là Nam Đồng Trại thuộc Tổng An Hạ, huyện Hàn Long, tỉnh Hà Đông; nay là làng Nam Đồng thuộc đường Nam Đồng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Đình làng Nam Đồng là nơi thờ Ngài đã nhiều thế kỷ qua. Hàng năm mở hội vào ngày 17/2 và ngày 2/6 âm lịch để tưởng niệm Ngài. 
                                    *****
Tôi trở lại thăm đền thờ Thái úy Lý Thường Kiệt thêm một lần nữa vì quá ngưỡng mộ và muốn nói lên lòng chân thành biết ơn tiền nhân của tôi.
Đứng trước bàn thờ thiêng liêng, tôi quỳ xuống dưới chân Ngài, hai tay cầm nén hương, khói bay nghi ngút để lễ bái, tâm trí tôi tập trung hết vào bốn chữ "Uống nước nhớ nguồn", ôn lại lịch sử để thấy xuyên suốt công ơn to lớn của Ngài đối với đất nước ,Tổ quốc và lịch sử Việt Nam.
- Lý Thường Kiệt là một vị tướng kiệt xuất, tài giỏi, mưu lược. Ngài nhìn xa thấy rộng, đã hiến dâng trọn vẹn cả đời mình cho Tổ quốc. Từ  tuổi thanh xuân (23 tuổi) Ngài đã vào triều phục vụ cho đến tuổi cổ lai hy (86) . Tuy tuổi già nhưng phong cách Ngài vẫn oai nghi, can trường tay cầm đao, ngồi trên mình ngựa điều khiển ba quân viễn chinh phá Tống  bình Chiêm .
- Ngài còn là một nhà chính trị lỗi lạc, một nhà đạo đức có tấm lòng vị tha và khoan dung. Biết phò tá lập minh quân Lý Nhân Tông.Biết xây dựng sức mạnh đại đoàn kết dân tộc thành một khối bằng lòng vị tha quân tử, hòa hợp với các đối thủ trong triều đình, quên mối thù riêng mà xây dựng đại nghĩa.
- Ngài là một nhà kinh tế đại tài, làm cho dân giàu nước mạnh. Ngài cho xây dựng thêm thôn làng, tu bổ đê điều, khai hoang lập ấp trấn giữ phần đất Thanh Nghệ để mở mang bờ cõi về phía Nam, ngăn chặn quân Chiêm Thành, kẻ thù sách nhiễu.
- Bốn câu thơ Thần bên bờ sông Như Nguyệt là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam đã làm cho kẻ thù mất vía và run sợ.
Gương của tiền nhân sáng tỏ, vĩ đại như vậy lẽ nào thế hệ chúng ta ngày nay sao không lấy đó soi chung, để cùng nhau xây dựng đất nước.
       Bài viết xin được kết thúc ở đây.Qua bài viết,tôi mạnh dạn bày tỏ đôi điều suy nghĩ,cảm xúc, có thể còn nông cạn, sơ sót nhưng là thành ý .Mong nhận được hồi âm từ bạn bè và thân hữu dù là chia sẻ, đồng tình hay phản biện ?

                        Hà Nội, ngày 17 tháng 4 năm 2017
                             Nguyễn Thế Tân - Vũng Tàu ba lô                                           (thetan1944@gmail.com)

HOA HỌC TRÒ-Trời đất dành riêng tuổi học trò.Một loài hoa đỏ rất nên thơ...

HOA HỌC TRÒ-Trời đất dành riêng tuổi học trò.Một loài hoa đỏ rất nên thơ...
Mỗi năm hoa nở mùa thi đến.Chạnh nhớ trường xưa nhớ bạn bè .Nguyenuthang ..