11 thg 5, 2012

Một ngày không thể quên


ĐỌC TRONG NGÀY CỦA MẸ  13 / 5

 

          Hôm nay là ngày quyết định sẽ đưa mẹ vào Viện dưỡng lão. Cả đêm qua thao thức không ngủ được, Phượng trằn trọc xuốt đêm, nghĩ ngợi lan man hết chuyện này sang chuyện khác, lòng rối như tơ vò. Gần sáng nàng mới mệt mỏi thiếp đi, nhưng vừa chợp mắt được một lát, Phượng bỗng choàng tỉnh dậy vì một mùi khét từ nhà bếp xông lên làm nàng tỉnh hẳn ngủ. “ Thôi chết rồi, mẹ lại quên tắt bếp ” Phượng nói thầm như vậy, rồi không kịp xỏ dép, nàng hốt hoảng chạy thật nhanh xuống nhà dưới. Căn bếp mù những khói, hơi khét từ cái nồi đang nấu trên bếp bay tỏa khắp căn phòng, lửa xanh vẫn liếm quanh đáy nồi. Phượng vội vàng tắt bếp gas, bê cái nồi đặt qua một bên, rồi mở tất cả các cửa cho khói bay ra, may quá, nàng xuống kịp, nếu không cả nhà lại bị một phen hoảng vía. Từ khi mẹ bị bệnh lú lẫn, Phượng phải khoá ống gas mỗi khi đi làm, nhưng hôm nay nàng ở nhà nên không khóa, vì có dè đâu bà cụ lò mò xuống bếp sớm thế. Phượng đứng im, định thần một lúc cho tim bớt đập, rồi mới chậm rãi bước ra cửa sau.

        Nàng gặp mẹ từ ngoài vườn đi vào, tay cầm một nắm lá gì dài dài, xanh xanh. Thấy con gái, bà Trình mỉm cười vui vẻ:
- Sáng bảnh mắt rồi, giờ này mới ngủ dậy à? May cho cô, tôi là má ruột, nếu là má chồng, thể nào cô cũng bị rầy.
Phượng nhìn lên bầu trời trắng đục, vừng đông chưa ló dạng, bóng đêm còn lảng vảng, cô khoan khoái hít một hơi thật sâu làn không khí mát mẻ của buổi ban mai, rồi quay sang mẹ, hỏi:
- Má ra vườn chi sớm thế?
- Má ra hái ít hành ngò để bỏ vô nồi cháo…
Vừa nói bà vừa đưa nắm lá lên khoe, Phượng suýt bật cười, nhận ra đó chỉ là một nhúm cỏ, nàng thở ra một hơi dài:
- Má lại quên tắt bếp, mà má định nấu món gì vậy?
- Má nấu cháo gà. Lâu lâu cũng nên đổi món, sáng nào cũng ăn bánh mì hoài, khô khan quá.
Phượng nhìn vô trong nồi, chỉ thấy lổn nhổn một ít gạo sống, và hai con gà bằng nhựa, đồ chơi của mấy đứa nhỏ, mẹ nàng đã bỏ tất cả vô một cái nồi với một chút nước, và bật bếp… Bây giờ tất cả đều cháy thành than, nhưng còn nhận diện ra được, Phượng nhăn mặt:
- Sao má để lửa lớn thế?
- Má muốn nấu cho lẹ để ba ăn xong còn kịp đi làm. Thôi, con lên lầu đánh thức ổng đi, má ở dưới đây pha cho ba ly cà phê.

Thấy Phượng vẫn đứng im, bà dục: – Sao không đi đi, còn đứng đó? trễ giờ rồi.
Phượng đau xót nhìn mẹ: – Má, nhớ lại đi! ba đi xa rồi mà, ba đâu có nhà?
- Thiệt à? ba đi xa thiệt à?
      Bà mẹ lập lại một cách ngớ ngẩn, nét mặt chùng xuống, rất buồn. Một cơn gió lạnh lọt qua song cửa, làm lay nhẹ mấy tấm rèm, bà rùng mình, ngẩng nhìn ra bên ngoài, hàng cây maple bên kia đường đã rụng hết lá, vậy là mùa đông sắp tới rồi. Tim bà se lại, ông ra đi vào một ngày chớm đông, ông đi không bao giờ về nữa… Từ đó, bà sợ mùa đông, tuyết rơi chỉ gợi đến sự chia ly, màu tuyết trắng quá, trắng lạnh như màu áo tang, tuyết rơi phủ ngập khắp nơi, giá băng cũng phủ ngập đời bà. Xa nhau đã mấy đông rồi, bà chẳng còn nhớ, nhưng bà vẫn đợi, những đêm không ngủ, nằm nghe tiếng gió gọi, bà tưởng như tiếng thì thầm của người xưa. Ông đang ở đâu? đêm dài lạnh lẽo, ông có thấy cô đơn không ông? ở nơi xa xăm nào đó, chắc ông cũng đang nhớ đến tôi, sao ông không về? ông ơi…
       Bà cố nhớ lại, trong ký ức đã phai mờ của bà, những hình ảnh cũ vẫn hiện ra, nhưng lộn xộn, không theo một thứ tự nào hết. Bà nhớ hôm đó không biết là ngày gì mà nhà bà đông người lắm, khách khứa ra vô tấp nập, đủ mặt bà con họ hàng và cả những người bạn bè. Gia đình hai đứa con trai lớn của bà từ hai tiểu bang khác cũng về họp mặt đông đủ. Lũ cháu nội, con của Sơn, Hải hiệp cùng hai đứa cháu ngoại con của vợ chồng Phượng thành một đám giặc, rượt đuổi nhau lung tung khắp nhà, làm bà chóng cả mặt. Nhưng bố mẹ chúng trái lại, rất khẽ khàng, họ chỉ thì thầm bàn tán, người nào cũng có vẻ mặt quan trọng, người nào cũng mặc quần áo trắng lùng thùng, trông chẳng ra làm sao. Phượng cũng đưa cho bà một bộ quần áo trắng bằng vải sô, và biểu bà mặc vô. Bà hỏi chi vậy? nó nói mặc áo vô để đi tiễn ba. A! bà hiểu rồi, đây là lúc tiễn ông lên đường, vì ông sắp phải đi xa… Bà nhớ mấy hôm trước, bệnh ông có mòi thuyên giảm, không thấy ông rên rỉ, những cơn đau hình như cũng rút lui, không còn hành hạ ông như mọi ngày. Bà ngồi bên giường, canh cho ông ngủ. Ông nằm im lìm, mắt nhắm nghiền, một cái mền mỏng đắp lên tới ngực, che thân hình ốm nhom chỉ còn da bọc xương thấy tội quá, căn bệnh ung thư quái ác đã lấy đi của ông hết da thịt. Ông ngủ không yên, lúc tỉnh, lúc mơ, thỉnh thoảng lại ú ớ…
       Nhưng đến trưa, thì ông hoàn toàn tỉnh táo, ông cầm tay bà dặn dò: – Tôi sắp phải đi xa, bà đừng khóc nhé? Hãy can đảm lên…Ông còn nói nhiều nữa, nhưng bà nghe tiếng được, tiếng mất, vì ông nói không rõ, ông chỉ thều thào… Bà tưởng ông nói sảng, chứ đang đau mà đi đâu? vợ chồng chưa bao giờ xa nhau, lần nào đi xa, ông cũng cùng đi với bà, chẳng lẽ cuộc hành trình lần này, ông lại đơn độc một mình? Bà khuyên ông nằm nghỉ, không nên nói nhiều, ông nhìn bà lờ đờ, rồi ông thở ra một hơi dài, nhắm mắt lại. Sau bà, đến lượt các con xúm quanh giường nghe ông dặn dò, đứa nào mắt cũng đỏ hoe. Rồi ông thôi không nói nữa, ông nằm im, từ từ chìm sâu vào giấc ngủ, giấc ngủ cuối cùng của đời người, mắt ông khép kín, nét mặt thanh thản không chút ưu phiền. Các con lặng lẽ rút kui, để mẹ riêng tư với cha. Bà nghĩ chắc ông mệt nên ngủ say lắm, không thấy ông trở mình. Bà sờ thử, thấy tay chân ông lạnh ngắt, bà vội vàng lấy thêm mền đắp cho ông, trời mùa đông rét mướt, những người già thật khổ, nhất là ông lại đang bệnh… Bà chờ ông tỉnh dậy, để nghe ông xác nhận rằng ông chỉ nói chơi thôi, nhưng ông cứ ngủ hoài.
Bà rón rén, không dám cử động mạnh, sợ phá giấc ngủ của chồng, chả mấy khi ông ngủ được yên giấc. Bà muốn ngồi đây hoài, không muốn rời ông, để khi ông tỉnh, trông thấy bà, ông yên tâm. Tội nghiệp, từ dạo đau nặng, ông đổi tánh giống như con nít, hay hốt hoảng, sợ hãi, hơi một tí là giận hờn… Bà ngồi bên ông không biết bao lâu, cho tới khi một đứa con kéo bà đứng lên, nói:
- Má ơi! gần tối rồi, má phải đi ăn, từ sáng tới giờ má chưa ăn gì cả.
        Bà đâu có thiết ăn? bữa cơm không có ông mới buồn làm sao, bà nói: – Tụi bay và mấy đứa nhỏ cứ ăn trước đi, đừng để phần cho má. Má không thấy đói, má muốn ngồi đây với ba thêm một lúc nữa.
Nhưng chúng nó cương quyết kéo bà ra khỏi phòng, nói ba mệt để cho ba nghỉ. Thằng Sơn còn kéo cái mền phủ kín cả mặt ba nó, cái thằng thiệt vô ý, vô tứ quá, trùm kín thế làm sao ông thở được? – Trời ơi! có bỏ ra không? ba bây ngộp mất thôi.
          Bà la lên phản đối, bắt Sơn phải kéo cái mền xuống như cũ, bà mới chịu ra khỏi phòng. Từ lúc đó, tụi nó thay phiên nhau canh gác, không cho bà vô với ông nữa, nói đã có tụi con… Bà vẫn không tin rằng ông sẽ đi xa, vậy mà ông đi thiệt mới lạ chứ? sự thật mà cứ ngỡ như trong một giấc mơ… Cuộc tiễn đưa khá long trọng, có cả kèn trống. Bà và các con mặc áo trắng tiễn ông đi. Trời mưa sụt sùi, các con đi cạnh bà cũng sụt sùi, bà không bằng lòng, gắt: – Ba không bao giờ bỏ má đâu, ổng đi rồi ổng lại về, tụi bây khóc lóc chi vậy? để ba bây nóng ruột.
Thiệt tình bà không trông thấy lúc ông đi, và ông cũng chẳng bao giờ thơ từ về nhà. Nhưng bà biết ở một nơi xa xăm nào đó, ông vẫn hướng về bà, vẫn nhớ đến bà, vợ chồng đầu gối, tay ấp mấy chục năm trường, đi xa sao khỏi vấn vương?         

      Bà kiên nhẫn đợi ông về, chỗ ngồi của ông trên bàn ăn, bữa nào bà cũng bầy chén, đũa, để ông nhớ rằng ông vẫn còn chỗ trong gia đình này.Nhưng sao ông đi đâu mà lâu quá? Bà ngậm ngùi nói với con gái: – Dạo ba con ở nhà, sáng nào ba cũng chở thằng Thái đi học, còn má ở nhà coi con Uyên…
      Rồi sực nhớ ra điều gì, bà hối: – Con lên coi tụi nhỏ dậy chưa? bồng con Uyên xuống đây cho má thay tã. Phượng nhìn mẹ thương xót, Uyên đã chín tuổi rồi, mà sáng nào bà cũng đòi bồng đi thay tã, trí nhớ của bà dừng lại ở ngày ông vĩnh viễn ra đi. Phượng ôm vai mẹ đi vô trong nhà, nàng bật TV lên rồi nói: – Chắc cháu Uyên còn ngủ. Má ngồi đây coi chương trình truyền hình Việt Nam, đừng xuống bếp nữa nghe má? để con lên lầu coi tụi nhỏ ra sao.
Bà Trình gật đầu, vơ lấy cuộn len và cái áo đan dở lên ngắm nghía: – Được, con đi đi! má vừa coi TV vừa đan nốt cái áo cho ba. Mùa đông sắp tới, ba cần có áo ấm, mà mấy cái kia đã cũ cả rồi. Tánh bà tham công tiếc việc, chẳng muốn ở không, bà coi việc chăm lo miếng ngon, áo ấm cho chồng, cho con, cháu là bổn phận và cũng là một thú vui của bà. Ông mất đã tám năm, mà ngày nào bà cũng đan áo cho ông, đan gần xong, rồi lại tháo ra đan lại, như vậy cả mấy chục lần.
        Phượng lên lầu, vào buồng mẹ, kiểm soát lại một lần chót cái va li lát nữa sẽ đem theo. Va li đựng toàn quần áo và những vật dụng cá nhân của bà Trình. Khi biết chắc không còn quên món gì, Phượng đóng nắp lại, ngồi thừ người rất lâu. Lúc soạn cái va li này, nàng đã không cầm được nước mắt, mỗi món đồ của mẹ đều gợi lại những kỷ niệm. Nhìn chiếc ghế đu mẹ vẫn thường ngồi, Phượng tưởng như được nghe tiếng ru của mẹ. Trên cái ghế ấy, bà đã ru cháu, lúc còn bé thơ, Thái và Uyên không chịu ngủ nếu không có tiếng ru của bà. Ngày xưa, cũng những tiếng ru “ ầu ơ, ví dầu” đó đã đưa Phượng vào giấc ngủ êm đềm, bây giờ thì đến các cháu…
      Những buổi sáng tinh mơ, khi các con cháu còn nằm trong chăn ấm, bà đã thức dậy, lui cui nấu nướng, lo bữa sáng ngon lành cho cả nhà. Những buổi tối mùa đông rét mướt, bà thức rất khuya, ngồi bên lò sưởi đan áo ấm. Những khi trái nắng, trở trời, bà không quản ngại thức suốt đêm, trông chừng, dỗ cho cháu ngủ yên giấc… Bà đã nuôi con, nuôi cháu lớn lên bằng tất cả tình thương của bà. Tình mẹ bao la như một dòng sông, nước chảy miên man, vô tận. Qua bao nhiêu thăng trầm của cuộc sống, mẹ lúc nào cũng sát cánh bên đàn con, tận tụy hy sinh, bảo vệ, che chở, giúp đỡ… Gia đình lúc nào cũng đầm ấm, yên vui, mọi người quây quần đông đủ dưới một mái nhà, thế mà lúc cuối đời, mẹ lại phải đơn độc một mình. Ôi chặng đường cuối cùng, bao giờ cũng là một chặng đường buồn thảm. Phượng rơi nước mắt, nghĩ đến phút chia tay lát nữa.
        Con về mẹ ở lại đây Chia tay là đứt lìa dây mẫu từ Ngàn năm biết có bao giờ Có dòng ước mắt ngược bờ chảy lên?
Phượng hiểu nỗi cô đơn của mẹ trong những ngày sắp tới, nàng thấy lòng xót xa. Ý định đưa mẹ vô viện dưỡng lão thật ra đã manh nha có từ lâu, kể từ khi bà Trình có triệu chứng lú lẫn và có những hành động có thể gây nguy hiểm. Nhưng Phượng còn nấn ná chưa chịu thi hành, tại thương mẹ nên không nỡ. Cho tới mấy tháng gần đây, tình trạng trở nên tồi tệ, khi bà Trình hay mặc quần áo ngủ đi lang thang ra phố một mình và không biết đường về, hàng xóm phải đi tìm dùm. Một lần, bà suýt bị đụng xe lúc băng qua đường, may người tài xế thắng xe lại kịp, bà chỉ bị trầy trụa sơ sài. Bà mỉm cười ngu ngơ lúc được cảnh sát đưa về, mọi người hỏi bà đi đâu? bà nói bà đi đón ông. Tội nghiệp, ngày nào bà cũng đi đón ông, nhiều lần bà thức dậy từ hai, ba giờ sáng, vô phòng đánh thức mấy đứa cháu, biểu sửa soạn đi đón ông ngoại. Từ đó, sợ các con mất ngủ, mỗi buổi tối, sau khi đưa mẹ vô phòng riêng, Phượng phải khoá cửa lại. Có đêm nàng nghe tiếng đập cửa thình thình, mẹ đòi mở cửa cho bà đi chợ…

           Bà Trình thích nấu nướng lắm, phải công nhận ngày trước, bà nấu ăn rất ngon, nhưng từ dạo bị mất trí nhớ, bà chẳng bao giờ tắt bếp. Mấy lần, bà suýt làm cháy nhà vì cái tật hay quên đó, vì vậy, trước khi đi làm, Phượng đã phải tắt ống gas và khoá cửa, sợ mẹ ra ngoài rồi gặp nạn. Như vẫn chưa yên tâm, nàng khoá cả ống dẫn nước vì mẹ hay mở vòi nước mà không tắt, làm nước chảy lênh láng khắp nhà, ướt cả thảm, may sao bà chưa trợt chân té ngã. Phượng đi làm mà trong bụng cứ phập phồng, không yên…
        Tình trạng này không thể kéo dài, không thể để bà cụ ở nhà một mình được nữa. Một cuộc họp gia đình đã diễn ra giữa Phượng và hai người em trai ở tiểu bang khác. Vì sinh kế, không ai có thể bỏ việc để ở nhà săn sóc mẹ, nên tất cả đều đi đến quyết định là phải cho mẹ vào nhà dưỡng lão, nơi đó bà cụ sẽ được chăm sóc tử tế. Phượng đã đi thăm dò nhiều nơi, sau cùng nàng chọn cho mẹ một nhà dưỡng lão có người Việt Nam để mẹ đỡ cô đơn. Cuộc hẹn đưa mẹ vô viện sẽ là 11 giờ sáng nay.
     Phượng vô phòng đánh thức hai đứa con để chúng ăn sáng và sửa soạn đi học, xong nàng bước vô phòng ngủ của hai vợ chồng. Dũng đã thức và đang cạo râu, chàng nhìn vợ qua gương và hỏi: – Nãy giờ em ở dưới nhà à?
Phượng gật đầu, kể cho chồng nghe về nồi cháo, và nói má đòi thay tã cho con Uyên, khiến Dũng bật lên cười. Thường ngày Phượng không bao giờ cảm thấy khó chịu vì những tiếng cười vô tư của chồng khi chứng kiến những hành động ngây ngô, nhiều khi rất con nít của mẹ, nàng biết chồng không có ý châm biếm, chàng cười chỉ vì buồn cười mà thôi. Dũng mồ côi mẹ từ thuở nhỏ, chàng thiếu tình mẫu tử nên rất quí mẹ vợ. Phượng cho là mình may mắn, và vẫn thầm cám ơn chồng, nhưng không hiểu sao hôm nay Phượng lại thấy bực mình vì tiếng cười vô tư của chồng, mà nàng thấy là không đúng lúc, Phượng có cảm tưởng như chàng là người ngoại cuộc, nàng cau mày trách: – Anh có im đi không? em đang rối ruột đây!
      Dũng ngạc nhiên ngó vợ, nhưng rồi chợt nhớ ra hôm nay là ngày gì, chàng lập tức ngưng ngay tiếng cười vô ý thức của mình. Im lặng một lúc, chàng mới nói, giọng băn khoăn:
- Hôm nay anh không thể nghỉ làm để đưa má đi được. – Không sao, tự em sẽ đưa má đi, như vậy tốt hơn. Anh đưa hai đứa nhỏ tới trường và đón về dùm em, vì không biết em sẽ phải ở lại với má bao lâu… – Được, được, em cứ thong thả lo cho má. Xong việc, nhớ điện thoại vào sở ngay cho anh, cho biết tình hình ra sao. Phượng đứng trên đầu cầu thang, nhìn hai đứa nhỏ ôm hôn bà ngoại trước khi đi học, có cảm tưởng như đó là những cái hôn vĩnh biệt, lòng nàng đau như dao cắt. Đợi cho chồng và hai con đã ra khỏi nhà, Phượng mới xuống bếp sửa soạn bữa ăn sáng cho mẹ. Ý nghĩ đây là bữa ăn cuối cùng của mẹ ở nhà, khiến Phượng thấy tim se lại, nàng nhớ tới một đoạn phim được xem đã lâu, nói về bữa ăn cuối cùng của người tử tội, nàng bỗng thấy lòng rưng rưng. Phượng tự nhủ thôi đừng nghĩ đến chuyện ấy nữa, cứ để việc gì phải tới, sẽ tới. Vừa làm nàng vừa hát nho nhỏ, cố tìm hiểu ý nghĩa của lời ca, nhưng không thể. Dọn bàn xong, nàng mời mẹ ra ăn. Bà Trình nhìn mặt bàn ê hề những thức ăn, hỏi con: – Sao con làm nhiều đồ ăn thế?
Phượng nhìn đi chỗ khác, nói: – Má ăn đi, thay cho bữa trưa luôn thể. – Con cũng cùng ăn với má chứ?
Phượng gật đầu, nàng ngồi vào bàn, nhưng không tài nào nuốt được. Nhìn mẹ ăn ngon lành, nàng có mặc cảm phạm tội vì đang đánh lừa mẹ. Đợi bà ăn xong bữa, Phượng ngập ngừng mãi, mới mở miệng nói dối: – Má có muốn đi phố một lúc không? vô phòng thay đồ đi, con chở má đi chơi. – Đi chơi thiệt sao? thích quá.
Mắt bà mẹ sáng lên với vẻ vui mừng, được đi ra ngoài, bà sung suớng lắm. Thường ngày cứ bị nhốt ở nhà, bà thấy bực bội, năm thì mười hoạ mới được con chở đi chơi, những dịp ấy đối với bà vui như một ngày hội. Thấy Phượng xách theo va li, bà hỏi: – Đi du lịch à?
      Vừa nói bà vừa nhìn quanh khắp căn nhà, như để kiểm soát một lần cuối cùng, theo thói quen trước khi đi xa. Không hiểu sao Phượng có cảm tưởng những tia nhìn của mẹ có vẻ lưu luyến rất tội nghiệp, chắc bà có linh cảm sẽ không được trở về đây nữa? Không muốn kéo dài giây phút đau lòng, nàng vội vã đưa mẹ ra xe. Phượng ngồi vào tay lái, tâm trạng bất an nên Phượng lái xe mà đầu óc để tận đâu đâu, mấy lần bị xe khác bấm còi inh ỏi. Bà mẹ bất chợt lên tiếng: – Dũng lái xe giỏi hơn con, sao không để cho nó lái?
Rồi như chợt nhớ ra điều gì, bà hỏi giọng lo lắng: – Đi du lịch mà sao không có Dũng và hai đứa nhỏ?
Phượng ậm ừ, tránh không trả lời, nàng cho xe ra khỏi xa lộ và tìm hướng vào thành phố. Viện dưỡng lão kia rồi, từ xa đã thấy một toà nhà đồ sộ sơn màu vàng nhạt, trông như một cái bệnh viện. Khi quẹo xe vô cổng, Phượng nhìn đồng hồ, 11 giờ 15, trễ mất mười lăm phút. Nàng hoảng lên, trời! làm thế nào nếu họ không tiếp và cho một cái hẹn khác? chắc nàng không có can đảm… Đậu xe xong, Phượng kéo mẹ đi như chạy tới phòng hướng dẫn, nơi đó người ta chỉ cho nàng phải đi lối nào. Viện dưỡng lão có ba dãy nhà bao quanh một khu vườn rộng có trồng hoa, và nhiều cây lớn cho bóng mát. Nơi đây có nhiều cụ già chống gậy đi thơ thẩn một mình, hoặc túm năm tụm ba ngồi trò chuyện trên những băng đá, đó là các cụ tương đối còn mạnh khoẻ. Cũng có những cụ già ngồi trên xe lăn, đang được những người khán hộ đẩy đi quanh vườn để sưởi nắng. Khi hai mẹ con sắp bước tới cái cửa tự động để vô tòa buyn đinh chính giữa, bà mẹ bỗng chùn lại không chịu đi nữa, bà hỏi với một giọng lo lắng: – Đây là đâu? trông không có giống khách sạn tí nào. Má không muốn vô, con đưa má về đi, má không muốn đi du lịch nữa. Phượng dỗ: – Vô một chút thôi má, vô làm giấy tờ xong rồi về.
      Tới phòng nhận bệnh, Phượng trình giấy tờ và được mời vào, cửa được đóng lại ngay sau lưng. Bà y tá người da trắng, trông có vẻ hiền lành tử tế, mời hai mẹ con ngồi, rồi tự giới thiệu: – Tôi là Ingrid, y tá trưởng ở đây. Còn đây là…
Phượng vội đỡ lời: – Bà Nguyễn Thị Trình, mẹ tôi. Xin lỗi cô Ingrid, mẹ tôi không nói được tiếng Anh… – Không sao cả, ở đây có bốn y tá là người Việt và cũng có một số bệnh nhân là Việt Nam, mẹ cô sẽ không cô đơn đâu. – Được vậy tôi rất mừng.
       Sau khi chờ cho Phượng điền một lô những giấy tờ liên quan đến bảo hiểm y tế, tên tuổi, tình trạng sức khoẻ, bệnh tật và những thuốc men mẹ nàng đang dùng, cô Ingrid cầm xem sơ qua một lượt rồi nói: – Sáng mai chúng tôi sẽ đưa bà cụ đi khám bác sĩ để lập hồ sơ bệnh lý. Bây giờ tôi cho người đưa bà cụ đi nhận phòng. Nói xong, cô Ingrid bấm chuông, và một người y tá mới xuất hiện, Phượng gật đầu chào và hỏi: – Tôi đi theo được chứ? – Dĩ nhiên! mời hai người theo tôi.
    Cô y tá đi trước dẫn đường, hai mẹ con lúp xúp theo sau, bà mẹ đi sát vào con gái như tìm sự che chở, bà chỉ yên tâm khi có con ở bên cạnh. Họ đi thang máy lên lầu hai, tới trước căn phòng sơn màu xanh, có đề bảng số 204 B, cô y tá dừng lại, gõ nhẹ vào cửa hai tiếng, rồi mở toang cửa phòng: – Đây là phòng của mẹ cô, ở chung với một bà cụ cũng người Việt Nam. Rồi cô quay đi, sau khi chỉ cho Phượng chỗ để quần áo, cô ghé sát vào tận tai nàng thì thầm: – Hai mẹ con từ giã nhau đi nhé, lát nữa tôi sẽ quay lại.

      Phượng thấy tim nhói lên một cái, nàng đưa mắt nhìn mẹ, bà Trình đang nhìn theo cô y tá với một vẻ sợ sệt. Đợi cô ta đi khỏi, Phượng mới đưa mắt quan sát, căn phòng tương đối sáng sủa, tường sơn màu xanh dịu mắt, có một cái cửa sổ trông xuống vườn hoa. Ngoài một cái TV ở chính giữa, treo ở trên cao, và một cái bàn hình vuông có bốn cái ghế kê ở cuối phòng – chắc dùng làm chỗ tiếp khách – những đồ đạc còn lại, thứ nào cũng có hai cái: hai tủ đựng quần áo, hai bàn đêm và hai cái giường, một cái để trống dành cho mẹ nàng, và trên cái giường kia có một bà cụ đang nằm xây mặt vào tường. Nghe có tiếng động, bà ta quay lại, nở một nụ cười méo mó: – Người mới hả? ở đây tụi tui kêu là… con so. Tui tên Năm, ở đây trên ba năm rồi. Không sao đâu bà cụ! vô đây làm bạn với tui cho vui, nằm một mình buồn lắm. Cái giường kia bỏ trống cả tháng nay, người nằm đó chết rồi, chết vì chứng ung thư máu…
Bà Trình rùng mình, kéo tay con gái: – Ở đây toàn người bịnh, sợ quá, má muốn về nhà. Đi về lẹ lên đi con! mình ở đây khá lâu rồi đó, đã tới giờ con đi rước mấy đứa nhỏ, còn má phải sửa soạn bữa cơm chiều…


   

 
       Phượng thở dài, lòng cô chùng xuống, tội nghiệp mẹ luôn luôn nhớ bữa cơm chiều… Đối với mẹ, bữa cơm chiều là quan trọng nhất, vì là giờ phút xum họp của tất cả mọi người trong gia đình trở về nhà, sau một ngày làm việc mệt nhọc. Bằng tất cả thương yêu, trìu mến, mẹ chăm sóc miếng ngon cho cả nhà, hạnh phúc của mẹ là được nhìn thấy các con cháu sung sướng. Nếu mẹ biết sẽ chẳng bao giờ còn có những bữa cơm gia đình, sẽ chẳng bao giờ mẹ còn được tựa cửa ngóng trông con, cháu trở về? Phượng thấy lòng bất nhẫn quá, nhưng nàng biết sẽ phải cương quyết, nếu không, sẽ không còn cơ hội nào nữa. Tim đập nhanh trong lồng ngực, Phượng dìu mẹ ngồi xuống giường… Đây là giây phút quan trọng nhất, Phượng ngập ngừng mãi, không biết phải mở đầu như thế nào. Sau cùng, nàng hít vô một hơi thật sâu để lấy thêm can đảm, rồi bằng tất cả cố gắng, nàng nắm lấy tay mẹ, giọng run run: – Má nghe con nói! Đây là phòng của má, má hãy ở đây đêm nay, ngày mai con và Dũng sẽ đưa mấy đứa nhỏ vô thăm má… – Ồ không… con ơi! Mẹ nàng kêu lên thảng thốt, vùng ôm chặt lấy con gái như sợ cô chạy mất, má không muốn ở đây, má chỉ thích cái phòng riêng của má, cái giường của má. Má nhớ hai đứa nhỏ, nhớ cái bàn thờ có hình của ba con…
       Phượng ứa nước mắt, nàng cũng ôm mẹ thật chặt: – Má hiểu cho con, con cũng đâu có muốn xa má. Nhưng tình thế bắt buộc, má cần người săn sóc, mà con thì không thể… Má ở đây con yên tâm hơn, vì luôn luôn có các bác sĩ, y tá thường trực ngày đêm, chăm lo sức khoẻ cho má, cũng như tất cả mọi người.
       Bà mẹ vừa khóc vừa nói: – Má không cần bác sĩ, má chỉ cần các con cháu. Giọng bà bỗng dưng tỉnh táo một cách lạ lùng, má biết dạo này má già cả, lẫn cẫn, không còn giúp ích gì cho mọi người, má vô dụng rồi. Chắc con giận má hay sơ ý, mấy lần suýt làm cháy nhà? Má cũng ân hận lắm, hãy cho má thêm một cơ hội nữa, má hứa sẽ không gây phiền phức cho con nữa đâu. Má hứa sẽ nhớ tắt bếp, má cũng sẽ không đi lang thang ra đường một mình, má sẽ ở nhà suốt ngày đợi con, cháu về…
          Tới đây thì Phượng không thể chịu đựng nổi nữa, nàng cũng bật khóc lên thành tiếng, nước mắt chảy ròng ròng: – Ồ không phải vậy đâu má, nhưng mà…
Phượng nghẹn ngào, không biết sẽ phải tiếp tục ra sao, hai mẹ con ôm nhau, cùng nức nở… Bỗng cánh cửa bật mở, cô y tá hồi nãy trở lại, thấy cảnh đó thì thở dài, làm việc ở đây đã lâu, những cảnh này đối với cô quen thuộc quá, nhưng mỗi khi phải chứng kiến, lòng cô không khỏi se lại. Chờ cho hai mẹ con bịn rịn thêm một lúc nữa, cô mới nhẹ nhàng an ủi: – Mới đầu thì ai cũng vậy, nhưng chỉ dăm bữa, nửa tháng nữa thôi, mọi việc rồi sẽ đâu vào đấy cả.
        Rồi cô quay qua, nói riêng với Phượng: – Sáng mai sẽ có y tá người Việt Nam, hy vọng bà cụ sẽ thấy thoải mái. Cô yên tâm, chúng tôi sẽ săn sóc mẹ cô tử tế. Bây giờ cô nên về đi, như thế sẽ dễ cho chúng tôi hơn.
Bà cụ nằm giường bên bỗng lên tiếng: – Dùng dằng mãi cũng chỉ đến thế, chẳng ích gì. Cô cứ về đi, không sao đâu, tôi sẽ an ủi mẹ cô dùm cho. – Vâng cháu xin nhờ cụ.
       Bà mẹ nghe thấy thế, thì vội vàng níu chặt lấy áo con gái. Phượng nhẹ nhàng gỡ tay mẹ ra, dỗ dành: – Má thấy chưa? bác Năm tốt lắm, các cô y tá cũng vậy, ở đây ai cũng chỉ muốn giúp đỡ má thôi mà. Má yên tâm đi, chẳng việc gì phải sợ hãi cả. Bây giờ con phải về đón mấy đứa nhỏ nghen má. – Thế con có trở lại không? – Có chứ, nếu má đừng gây lộn xộn, chiều mai con sẽ đưa các cháu vô thăm má.
         Phượng dịu dàng đặt một cái hôn lên trán mẹ, nàng ôm xiết mẹ một lúc rồi buông ra: – Má! con phải đi, mai con sẽ trở lại. – Con sẽ không bỏ má ở lại đây một mình chứ? – Con sẽ vô thăm má thường xuyên mà. Phượng nói với mẹ mà như một lời nhắc nhở với chính mình, con hứa mỗi cuối tuần sẽ đến đón má về. Thôi bây giờ má đi nghỉ đi, con phải về lo cho các cháu. Nói xong, Phượng đứng dậy, cô y tá lẹ làng đứng chen vào giữa hai mẹ con, và đẩy nhẹ lưng Phượng: – Cô đi ngay đi, lẹ lên! Cô ta nắm lấy cánh tay bà mẹ, nhưng bà dằng ra, run rẩy chạy theo con ra cửa: – Con ơi! đừng bỏ má, van con đừng bỏ má!

     Phượng ngập ngừng, quay lại, nhưng cánh cửa đã được khép lại sau lưng nàng, như một bức tường ngăn cách giữa hai mẹ con, ngăn cách những con người già nua, bệnh tật khốn khổ đang chờ chết ở bên trong, với thế giới vui tươi, sinh động ở bên ngoài. Phượng nghe tiếng mẹ gào lớn: – Con ơi! con ơi… Phượng rùng mình, có cảm tưởng như vừa nghe tiếng kêu cứu của người tử tội trước khi bị lên máy chém. Nàng bịt tai lại, vùng bỏ chạy, nhưng những tiếng gọi của mẹ vẫn đuổi theo. Phượng biết suốt đời nàng sẽ không bao giờ quên được tiếng gọi “ con ơi ” ai oán của mẹ. 
                                                                                                                                                                         ( Phương Lan )
Mời nghe một bài hát về Mẹ

10 thg 5, 2012

HẸN NGÀY TÁI NGỘ - SEE YOU LATER


Chuyện phiếm dành cho những người “thất thập cổ lai hy”


                                                      Nguyên tác : “ĐI TÌM CÕI NGÀN TRÙNG"
                                                         Của Nguyễn Hữu Chi -Tiến Sĩ Tâm Lý

Ðời này ai dại, ai khôn?
Sống mặc áo rách, chết chôn áo lành
.
                                              Ca dao
           Ðược tin ông bạn già bất thình lình “ra đi”, tôi vội mang vòng hoa đến chào từ biệt. Ông bạn tôi mặc bộ đồ rất đẹp, bình thản nằm đó. Tôi mừng thầm cho ông bạn đã “ra đi” một cách nhẹ nhàng trong lúc đang ngủ ngon lành. Sau đó, trên đường lái xe về nhà, tôi suy tư về khoảng thời gian còn lại trong đời tôi. Dù sao năm nay tôi đã trên bẩy chục tuổi đầu rồi. Theo thống kê ở Canada, người đàn ông trung bình có thể sống tới năm 76 tuổi mới được phép “ngao du vùng tiên cảnh”. Có nghĩa là tôi còn có thể sống được chừng 5 năm nữa. Vì thế, tôi nghĩ rằng đã đến lúc tôi phải phác họa ngay một “chương trình ngũ niên” cho tôi, kẻo lúc “ra đi” lại tiếc rẻ khôn nCũng may hiện nay tôi vẫn còn khỏe mạnh, tiền hưu trí cũng đủ để “phè phỡn với đời”. Vấn đề quan trọng bây giờ là phải “phè phỡn” làm sao cho “phải đạo”? Chuyện “ong bướm” ư? Mục này tôi không còn khả năng để “đụng” tới. Những người đến tuổi sắp “ra đi” như tôi không nên quá tham lam. Chúng ta hãy để đám con cháu có dịp “thi thố tài năng”, không nên tranh dành với thế hệ trẻ. Biết nhường nhịn như vậy mới được người đời kính nể.
          Ðối với tôi, ăn uống cũng không còn là một mục khoái lạc đáng để ý tới. Có mấy cái răng hàm thì rụng gần hết, huyết quản thì bị mỡ bám đầy, máu thì ngọt như mật ong. Theo tôi nghĩ, ông Trời cho mỗi người một số lượng đồ ăn nhất định để sinh sống trong suốt cả cuộc đời của mình. Người nào dùng hết “khẩu phần” của mình là phải “ra đi”. Ông Trời đâu có cho phép chúng ta kéo dài cuộc sống để “ăn ké” vào khẩu phần của người khác. Nói tóm lại, “ăn nhiều, ăn nhanh, ăn mạnh, vét cho sạch nồi cơm”, không phải là bí quyết trường sinh. Các bác sĩ ở các nước Âu Mỹ cũng đã nhận ra điều này, nên đã luôn luôn khuyên già trẻ cũng như nhớn bé phải ăn uống chừng mực. Hơn nữa, chúng ta cũng đã từng được nghe các cụ nhắc nhủ nhiều lần: “Ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn”, hoặc “tham thì cực thân, Phật đã bảo thầm thì chớ có tham [ăn]”.
         Thế là tôi đã mất hai trong bốn mục khoái lạc mà người đời gọi là “tứ khoái”. Sau cùng, tôi chỉ còn thấy có hai thú vui hợp với túi tiền và sức lực của tôi: đó là đọc sách, và đi du lịch. Tôi thấy, đi ngao du những nơi danh lam thắng cảnh là thuận tiện nhất: ban ngày thì đi tham quan đó đây, tối về khách sạn ngồi đọc sách. Ðối với người có tuổi như tôi, thời giờ rất là cấp bách, làm “công đôi ba việc” như vậy mới “tranh thủ được thời gian”. Thế là hai vợ chồng tôi bàn nhau đi ngao du vùng nắng ấm để trốn mùa lạnh ở Canada. Ôi, mùa đông ở xứ “tình nồng” này, sao mà lạnh thế! Càng về già, tôi càng cảm thấy lạnh, lạnh từ ngoài vào tới tận đáy lòng con người.
         Tối hôm đó, tôi chui vào mền nằm nghĩ đến ngày mai tới Miami sưởi nắng... Ðang say sưa mơ màng thì vợ tôi đánh thức:
– Dậy đi anh. Ðến giờ ra phi trường rồi, máy bay không đợi anh đâu. Em đã chọn cho anh một bộ quần áo rất đẹp để mặc đi đường.
Bỗng nhiên tôi nhớ đến ông bạn già của tôi đã được Nhà Ðòn mặc cho một bộ quần áo rất đẹp trước khi lên xe “ra đi”. Tôi nhìn vợ tôi xếp quần áo của tôi vào va-li, tôi vội hỏi:
– Ủa, em không đi cùng với anh hay sao?
– Em còn bận công việc nên đành phải ở lại. Anh đã đến tuổi có quyền được đi ngao du, nay đây mai đó. Anh cứ đi chơi thanh thản là em mừng rồi.
      Cuối cùng tôi đành phải lên xe taxi ra phi trường một mình. Tôi quay đầu nhìn lại mái nhà thân yêu của tôi cho đến khi nó mờ dần sau màn tuyết trắng, mầu trắng tang tóc làm tôi khẽ rùng mình. Phải chăng kẻ “ra đi” thường nghĩ tới kẻ “ở lại”?
        Quả thiệt máy bay không đợi tôi. Tôi vừa ngồi xuống ghế thì máy bay bắt đầu cất cánh. Lòng tôi buồn rời rợi vì tôi đang bay về vùng nắng ấm trong khi họ hàng thân yêu tôi còn phải ở lại vật lột với băng tuyết từ Bắc Cực ù ù thổi về. Khi máy bay hạ cách xuống phi trường Miami, xe của hãng du lịch đã chờ sẵn để đưa tôi về khách sạn R.I.P (“Resort of International Peace”, mà tôi tạm dịch là “Lưu Xá Hòa Bình Thế Giới”). Mới nhìn thoáng qua tôi đã nhận thấy phong cảnh thành phố này quả có đẹp, đúng như những bích chương quảng cáo du lịch đã trình bày. Hai bên đường là những cây cao vời vợi, cành lá um tùm. Xung quanh khách sạn của tôi là những biệt thự xinh xắn nằm sau những hàng rào hoa đủ mầu đủ loại.
         Ngồi uống trà trong vườn của khách sạn, tôi thoải mái nghe chim hót líu lo và nhìn mấy con bướm bay tung tăng trong nắm ấm. Một lát sau, người hướng dẫn du lịch mời tôi lên xe đi xem phong cảnh thành phố. Ðó là một chiếc xe buýt chở chừng 50 du khách đủ loại người. Ða số là người có tuổi như tôi, nhưng cũng có vài người rất trẻ. Ngoài một số người Mỹ ra, tôi còn nhận thấy vài người ngoại quốc mặc quần áo cổ truyền của nước họ. Ông tài xế cho biết là xe sẽ dừng nhiều nơi nổi tiếng trong thành phố, du khách có thể xuống bất cứ chỗ nào để tham quan, một giờ sau đó xe sẽ trở lại đón để đưa đi thăm viếng nơi khác, hoặc chở về khách sạn R.I.P.
          Xe đi vòng vòng trong thành phố và vùng ngoại. Xe ngừng nhiều nơi nổi tiếng của vùng này: có những khu biệt thự sang trọng lộng lẫy, có những bãi cát vàng óng ả chạy dài xuống biển xanh mầu ngọc thạch, có những trung tâm thương mại xầm uất, v.v... Mỗi khi xe ngừng lại, thì có vài du khách tíu tít xuống xe. Khi xe tới Tropical Garden (Vườn Bách Thảo Nhiệt Ðới), tôi bèn xuống xe vì muốn sống lại trong khung cảnh xanh tươi của đất nước tôi khi xưa. Tôi sung sướng khi thấy lại những cây đa cổ thụ cao ngất từng mây, những cành hoa phượng vĩ rực rỡ dưới nắng chan hòa, những con chuồn chuồn vui đùa giữa những cụm bông sen trên mặt hồ phẳng lặng...
          Tôi đang thẩn thơ hưởng khung cảnh tĩnh mịch gần như thoát tục, thì bỗng nhiên nghe có tiếng người gọi tên tôi. Quay lại thì thấy anh Tùng, người bạn chí thân của tôi từ ngày học đệ thất. Ðả hơn bốn chục năm rồi bây giờ mới lại gặp nhau. Chúng tôi bắt tay nhau thiệt lâu, mừng mừng tủi tủi. Chúng tôi dạo chơi dưới bóng mấy cây liễu già bên hồ, kể lại cho nhau nghe những kỷ niệm vui buồn khi xưa. Sau khi học hết bậc trung học, anh Tùng đi động viên, nay đây mai đó, theo tiếng súng của thời cuộc ở nơi tiền tuyến. Còn tôi được may mắn được đi ngoại quốc du học. Tuy vậy, chúng tôi vẫn liên lạc mật thiết với nhau bằng thư từ. Lá thư cuối cùng của anh tôi nhận được hồi cuối năm 1967. Trong thư anh cho tôi biết là anh đang hành quân ở Quảng Trị, và trong vài tuần nữa anh được nghỉ phép để về Cần Thơ ăn tết và nhân tiện cưới vợ luôn một thể. Thế rồi trận Mậu Thân bất thình lình xẩy ra. Từ đó tôi không nhận được tin tức gì về anh. Tôi cho rằng anh đã bị tử trận. Bây giờ lại gặp được anh, tôi mừng muốn khóc. Trong khi đi bách bộ trong vườn, chúng tôi nói chuyện huyên thuyên, không để ý đến thời gian. Ðến lúc xe buýt tới, chúng tôi đành phải chia tay nhau. Tôi lên xe ra đi. Anh ở lại vì anh muốn tiếp tục cuộc du ngoạn trong vườn mà anh ví “như vườn Tao Ðàn ngày xửa ngày xưa, nơi mà chúng mình thường tới chơi trong những giờ trốn học”. Bắt tay anh, tôi hẹn với anh ngày tái ngộ. Anh cười vui vẻ, rồi thốt ra một câu triết lý bâng quơ:
– Vũ trụ này thực ra bé nhỏ lắm, chúng mình đi loanh quanh, luẩn quẩn, mãi rồi sẽ có ngày cũng lại gặp nhau.
       Ðến lúc lên xe chạy ra ngoài phố, tôi mới sực nhớ là đã quên hỏi địa chỉ của anh. Tuổi già lẩm cẩm, hay quên. Thiệt là vô tích sự!
Xe chạy vào khu ăn chơi buôn bán nổi tiếng trong vùng. Tôi tò mò xuống xe đi xem cảnh “ngựa xe như nước, áo quần như nêm.” Ðường phố đông nghịt những người. Họ đi ngắm nhau, hoặc ngắm những hàng hóa đắt tiền bầy trong tủ kính. Tôi mỉm cười nhìn một bà Mỹ to béo đang chăm chú nhìn một bộ áo dạ hội mỏng dính với bảng giá “Special Sale: 299.95 dollars.” Tôi cảm thấy tội nghiệp cho cái “cái cối xay” đang bị thôi miên bởi cái áo “hớ hênh,” vừa hở lưng đằng sau, vừa hở rún đằng trước. Ðã thích ăn cho mập xù, lại còn thích mặc quần áo khiêu gợi! Ðang ngẫm nghĩ về cái ham muốn quá đáng của con người, thì tôi đã bước tới trước cửa một tiệm kim hoàn. Tôi đứng ngắm những vòng ngọc đủ mầu, những dây chuyền vàng chạm trổ tinh vi, những chuỗi hạt trai sáng rực dưới ánh đèn trong tủ kính. Bỗng nhiên có tiếng ồn ào trong tiệm, rồi có bóng một thanh niên chạy vọt ra ngoài, đằng sau là những tiếng hô hoán ầm ĩ. Hai tiếng súng nổ liên tiếp làm tôi giật mình quay lại. Tôi thấy một cô cảnh sát cầm súng thản nhiên đứng nhìn người thanh niên đang nằm quằn quại trên vũng máu, tay còn nắm chiếc đồng hồ vàng nạm kim cương. Khách bộ hành tò mò nhìn cảnh chết chóc như đang xem chương trình Miami Vice trên ti-vi. May sao vừa lúc đó thì xe buýt của hotel tới, tôi vội chạy lên xe, để trốn cảnh si mê và tàn bạo.
Xe ngừng bánh nhiều nơi cho du khách xuống du ngoạn. Nhưng tôi vẫn ngồi yên trên xe vì tôi thấy mất hết cảm hứng đi ngắm cảnh phồn hoa giả tạo. Cuối cùng xe cũng về tới khách sạn R.I.P khi thành phố bắt đầu lên đèn. Tôi mệt mỏi xuống xe và rất ngạc nhiên khi thấy bố mẹ tôi mừng rỡ chạy ra đón tôi, và ôm tôi vào trong lòng. Mẹ tôi vỗ về tôi, rồi nhẹ nhàng trách tôi:
- Con mải đi chơi ở đâu mà mãi bây giờ mới về, làm bố mẹ mong chờ.
Tôi cảm thấy hối hận vô cùng, tôi gục đầu vào vai mẹ tôi khóc nức nở như ngày tôi còn bé...
       Bỗng nhiên tôi nghe văng vẳng có tiếng gọi tôi:
- Dậy đi anh. Anh nằm mơ cái gì mà khóc lóc thảm thê vậy?
       Tôi chợt bừng tỉnh, nước mắt hãy còn rỏ xuống gối. Sau đó, tôi nghĩ nhiều lắm. Tôi nghĩ đến ông bạn già của tôi mặc bộ quần áo rất đẹp đang nằm trong nhà quàn. Tôi nghĩ đến chuyến du ngoạn mà tôi đã thực hiện được trong giấc mơ. Tôi nghĩ đến giờ phút kỳ lạ cho phép tôi gặp lại những thân nhân của tôi đã bỏ tôi “ra đi” lâu lắm rồi. Tôi nghĩ đến cái sống và cái chết. Sau khi tôi “ra đi,” tôi sẽ đi về đâu? Là “người trần mắt thịt,” làm sao tôi biết được. Chỉ những “chuyên gia” nghiên cứu về linh hồn hay duyên kiếp mới “biết rõ ràng” những chuyện gì “chắc chắn” sẽ xẩy ra khi chúng ta sang “bên kia thế giới.” Những vị này thường cho chúng ta biết rằng: sau khi chết đi, con người sẽ khốn khổ lắm nếu không biết thành kính thờ phụng Chúa hoặc ra chùa tụng kinh giải oan. Có người lại nghĩ rằng sau khi chết đi, con người sẽ trở thành cát bụi, chứ không đi đâu hết. Trái lại, giấc mơ kỳ lạ mà tôi đã trình bày ở trên làm cho tôi nghĩ rằng cuộc sống cũng như sự chết không khác gì một cuộc ngao du. Linh hồn chúng ta có thể là một hành khách trên một chuyến xe buýt du ngoạn. Xe buýt tới thì ta phải lên xe “ra đi.” Làm sao mà biết được xe sẽ ngừng ở nơi nào. Khi xe tới trạm, ta phải xuống. Trạm xe bus có thể là một khu “Vườn Nhiệt Ðới,” có thể là một trung tâm thương mại phồn thịnh giả tạo đầy si mê và tội lỗi, có thể là một khu tối tăm, nghèo nàn, có thể là một ổ trộm cướp đầy sì ke, ma túy...
         Nếu cho sự chết là một du ngoạn, tại sao chúng ta không sửa soạn cuộc “ra đi” của chúng ta cho chu đáo. Khi chúng ta vượt biên, chúng ta sửa soạn rất kỹ càng. Nhưng khi chúng ta đến tuổi phải “ra đi,” chúng ta lại không tính toán như người vượt biên, dù rằng chúng ta vẫn còn đủ tỉnh táo để sửa soạn cuộc “ngao du” của chúng ta. Chúng ta không chịu sửa soạn trước khi “ra đi” vì chúng ta sợ chết, nên chúng ta không dám nghĩ đến cái chết cho đến khi chúng ta thở hơi cuối cùng. Thế là chúng ta “đẩy” trách nhiệm đó cho những người thân thiết có nhiệm vụ cáng đáng thân xác của chúng ta. Trong lúc “tang gia bối rối,” người nào càng thân thiết với chúng ta bao nhiêu, thì lại càng bối rối bấy nhiêu. Khi bối rối như vậy, làm sao họ có thể tính toán một cách hợp lý được. Kết quả là người thương yêu của chúng ta sẽ bị các Nhà Ðòn lợi dụng triệt để.
        Chuyện này rất dễ hiểu: vì thương tiếc “người ra đi,” nên những người thân thích tưởng rằng càng tiêu nhiều tiền cho chuyện ma chay bao nhiêu, thì “người ra đi” càng sung sướng bấy nhiêu. Thiệt là nhầm to. Những bài kinh giải thoát, những sớ cầu siêu không hóa giải được những tội lỗi của con người. Một cuộc mai táng huy hoàng không làm cho “người ra đi” được “mát mặt” thêm một chút nào. Tuy vậy, những người thân thích luôn luôn muốn có một đám tang thiệt là linh đình và tốn kém để tỏ lòng thương tiếc của mình đối với “người ra đi.” Trong trường hợp này, “người ra đi” chỉ còn biết thở dài (sau khi thở hắt ra). Rồi người đến viếng cũng muốn mua một vòng hoa thiệt to, thiệt đắt tiền để tỏ tình bạn hữu với “người ra đi” và nhất là để chứng minh cho bà con lối xóm biết rằng mình là “người đàng hoàng, có thủy, có chung.” Thấy cảnh này, “người ra đi” cũng lại thở dài, chỉ muốn thốt ra câu từ biệt: “Này bạn ơi, đã quá trễ rồi. Sẽ có ngày tái ngộ,” và “tức cảnh” làm bài thơ như sau:
Khi một thằng nằm xuống
Lại có thằng luống cuống đứng lên
Vái lạy thằng nằm xuống
Hy vọng khi mình nằm xuống
Lại có thằng khác luống cuống đứng lên.
Vái lạy thằng nằm xuống

         Ðiều mà chúng ta biết chắc là đa số những người sắp “ra đi” đều lo lắng thiết tha cho “người ở lại,” và nghĩ rằng mình còn có thì giờ thu xếp mọi việc trước khi “ra đi.” Tiếc thay, khi xe buýt bất thình lình tới đón đi “ngao du,” chúng ta vội vàng lên xe nên không giúp gì cho những “người ở lại.” Trong khi đó, “người ở lại” đau đớn muôn phần. Khi bố mẹ tôi lần lượt qua đời, một mình tôi “ở lại,” tôi lịm người đi vì thương tiếc. Rồi khi tôi loáng thoáng được tin anh bạn chí thân của tôi bị tử thương, tôi buồn ngẩn ngơ, tội nghiệp cho số phận long đong của người trai thời loạn. Tôi bối rối vì tôi cảm thấy hối hận vì tôi cho rằng mình đã cư xử không đầy đủ tình nghĩa đối với “người ra đi,” không có dịp tổ chức một đám táng trọng thể đưa người quá cố sang “Bên Kia Thế Giới.” Ngoài ra, trong thâm tâm, tôi cảm thấy lo sợ vì không biết những thân nhân của tôi sẽ đi về đâu: có được “về với Chúa không”? có thoát khỏi “vòng nghiệp chướng” hay không?             
       Ðó là những phản ứng tự nhiên của những “người ở lại.” Vì thế, chúng ta thường thấy những vụ ma chay linh đình để “người ở lại” có dịp “trả nghĩa” đối với “người ra đi” (thà “trả nghĩa” trễ hạn, còn hơn là bị mang tiếng “bạc tình, bạc nghĩa”). Chúng ta lại còn thấy trong những cuộc cúng lễ nguy nga, mọi người thiết tha cầu xin Trời hay Phật giúp “người ra đi” được lên Thiên Ðàng hay vào Cõi Niết Bàn. Mọi tín đồ đều “biết chắc chắn” rằng một linh hồn đầy tội lỗi khó có thể siêu thoát được nếu thân nhân không thành khẩn cầu xin Ðấng Tối Cao nhủ lòng khoan hồng đại lượng với “người ra đi”! Phải chăng vì chúng ta nghĩ rằng cái quá khứ của “người ra đi” thiếu đạo đức, nên chúng ta mới phải làm lễ cầu siêu cho “người ra đi” như vậy? Thiệt là tội nghiệp cho người “ra đi”: Ðã “nằm xuống” rồi mà còn bị người đời gán cho cái tội “thiếu đạo đức.”
       Nói cho cùng, “người ở lại” đáng thương hơn “người ra đi.” Trong khi “người ra đi” thản nhiên nằm đó, thì “người ở lại” không những bị xúc động tinh thần mà còn phải xả thân cáng đáng công việc tiễn đưa “người ra đi.” Vì thế, tôi không thắc mắc về việc tôi sẽ “ra đi,” nhưng tôi nghĩ rất nhiều, và lo lắng rất nhiều cho “người ở lại.” Tôi muốn “người ở lại” khỏi phải quàng lên vai một gánh quá nặng nề về tinh thần cũng như vật chất khi tôi “nằm xuống.” Có lẽ ít người nghĩ như tôi và làm như tôi, vì đến lúc gần ngày tận số, mỗi người nghĩ một kiểu, và người nào cũng cố gắng làm những việc mà mình cho rằng thỏa đáng nhất. Do đó, tôi không dám khuyên ai. Những điều tôi trình bày sau đây chỉ là một thí dụ không điển hình, một lối nhìn đời “không giống ai.”
          Trước hết, tôi không muốn những bạn bè thân thuộc tôi quá u sầu về chuyến “ngao du” của tôi. Do đó, tôi đã trình bày cho mọi người biết rằng khi “chuyến xe buýt” tới, tôi sẽ thản nhiên “ra đi” như tất cả mọi người khác đã từng “ra đi.” Tôi sẽ “đi” về đâu? Có lẽ tôi sẽ về với bố mẹ tôi. Có lẽ tôi sẽ ngao du vùng tiên cảnh cùng với bạn bè tôi. Dù sao đi chăng nữa, tôi không cần biết tôi sẽ “đi” đâu, vì có biết hay không biết thì tôi và những người thân thuộc của tôi cũng chẳng làm được gì cả.
        Sau đó, việc tôi phải làm trước khi “ra đi” là sửa sang lặt vặt trong nhà, vì vợ tôi không phải là một người khéo tay biết sửa chữa nhà cửa. Ngoài ra, những gì của tôi mà tôi thấy không cần dùng cho bản thân tôi hoặc cho “người ở lại,” tôi mang đi cho người khác, hoặc đổ vào thùng rác. Khi tôi quẳng đi gần hai ngàn quyển sách của tôi, tôi cảm thấy nhẹ nhõm trong người. Trái lại, vợ tôi rất xúc động, và hỏi tôi:
– Những cuốn sách này là kỷ niệm gần 40 năm dạy học, tại sao anh vất đi?
– Anh không cần nữa.
– Thì cứ để đấy, đôi khi anh muốn đọc lại thì sao?
– Ðọc đi, đọc lại làm gì? Người ta lại tưởng rằng anh dốt, học mãi mà chưa thuộc bài.
          Sau khi dọn dẹp nhà cửa, tôi bắt đầu nghĩ đến phí tổn chôn cất. Tôi thấy ở Ottawa mấy gia đình mà tôi quen biết đã chi phí trên 15 ngàn dollars cho mỗi vụ ma chay. Tôi tính nhẩm trong đầu thì thấy rằng chỉ trong vài chục năm nữa, cộng đồng người Việt ở Ottawa (hơn bốn ngàn nhân mạng) sẽ phải chi cho Nhà Ðòn và nghĩa địa một tổng số vào khoảng 60 triệu dollars (không kể tiền chi cho các vị tu sĩ cúng lễ, cùng tiền bạn bè bỏ ra mua hoa phúng viếng). Như vậy, phí tổn ma chay cho nửa triệu người Việt đang sinh sống ở Bắc Mỹ sẽ lên tới gần 8 tỷ dollars.Thiệt là oai hùng! Thiệt là vĩ đại!
        Ðể biết rõ chi tiết của vấn đề, tôi bèn mời một đại diện Nhà Ðòn quen biết ở Ottawa tới bàn chuyện ma chay cho tôi. Ông “tiếp thị” (salesman), quần áo chỉnh tề, mặt trang nghiêm và đầy kính cẩn, ăn nói nhẹ nhàng và từ tốn trong khi trình bày giá cả cho tôi nghe. Tập tài liệu về giá biểu in rất đẹp như tờ thực đơn của một tiệm ăn sang trọng ở Paris (năm sao). Ðiều quan trọng mà mọi người nên biết là “người mua” không được kỳ kèo về giá cả, vì Nhà Ðòn làm ăn đàng hoàng “trước sau như một,” không khác gì nhà nước đối xử với dân chúng.
          Tôi đọc kỹ tờ giá biểu, rồi tham khảo với các bạn bè, tôi thấy rõ phí tổn nặng nề mà “người ở lại” phải chi cho Nhà Ðòn ở Canada (có lẽ cũng tương tự như ở bên Mỹ). Ðể có một thí dụ cụ thể, tôi xin liệt kê sau đây các “món hàng” căn bản mà Nhà đòn Tubman đã trình cho tôi:
(1) Dịch Vụ Chuyên Môn (Professional Services)
• 900$ – dịch vụ do các chuyên viên Nhà Ðòn cung cấp (professional and support staff services);
• 250$ – giấy tờ lên quan đến vấn đề khai tử (documentation);
• 125$ – dịch vụ ở nghĩa địa hoặc công việc trao lọ đựng tro cho thân nhân (gravesides service or delivery of urn as arranged).
(2) Dịch Vụ Chăm Lo “Người Ra đi” (Prrofessional Care of Deceased)
• 200$ – tắm rửa và làm vệ sinh cho “người ra đi” (sanitary care of deceased);
• 570$ – ướp xác và trang điểm “người ra đi” (embalming and cosmetology of deceased).
(3) Phòng Ốc Và Dụng Cụ
• 400$ – xử dụng Nhà Ðòn (basic use of funeral home);
• 990$ – xử dụng phòng thăm viếng, phòng làm lễ và những dụng cụ (visitation room, chepel, and/or service equipment);
• 225$ – xử dụng phòng sửa soạn và gìn giữ xác “người ra đi” (use of facilities for preparation of deceased and/or shelter of remains).
(4) Xe Cộ Và Vận Chuyển (Automotiles and Transportation)
• 295$ – chuyển xác về Nhà Ðòn (transfer from place of death ố radius 40 km);
• 200$ – xe cộ cần dùng cho các nhân viên Nhà Ðòn (vehicles required for administrative tasks, clergy, funeral director);
• 270$ – xe chở quan tài ra nghĩa địa (funeral coach);
• 125$ – xe limousine chở thân nhân.
Chi phí căn bản cho Nhà Ðòn là $5,604.03 (gồm cả thuế)
(5) Chi Phí Cho Thành Phố
• 75$ – khám nghiệm tử thi.
• 52$ – thuế vệ sinh cho thành phố.
(6) Phí Tổn Mai Táng
• 3,700$ (trung bình) – Tiền mua quan tài tùy theo loại sang hay hèn, đúng theo giai cấp: từ thứ rẻ nhất là vải quấn xác (890$) cho tới quan tài rẻ tiền bằng gỗ ván ép (1,695$), tới loại quan tài vừa đẹp vừa bền dành cho các nhà giầu thích sài sang (11,000$);
• 5,500$ – Tiền mua chỗ “An Nghỉ Ngàn Thu” (R.I.P - Rest In Peace ) tại nghĩa địa: miếng đất to hơn cái giường đáng giá khoảng chừng 5,500$;
• 1,000$ – Tiền dựng mộ bia tùy theo túi tiền của mỗi người (từ 1,000$ cho tới 5,000$, hoặc nhiều hơn nữa).
Chi phí mai táng trung bình khoảng chừng $13,000
       Tôi đọc tờ giá biểu thấy nhân dân ta bị Nhà Ðòn và Nhà Nước làm tiền một cách rất là quy củ. Không những thế, ông “tiếp thị” lại còn khuyến khích tôi “mua” nhiều món “hàng” khác vừa đắt tiền, vừa... vô dụng. Tôi bèn chặn lại với một câu hỏi rất ư là “rẻ tiền”:
– Mai táng kiểu nào rẻ tiền nhất?
       Hắn ngỡ ngang vì đang “rao hàng” thì bị cụt hứng. Nhưng ngay sau đó, hắn mỉm cười, rồi nhìn tôi một cách rất ư là đại lượng:
– Ông thích chơi trò rẻ tiền thì ông nên chọn con đường hỏa táng, vì ông sẽ không mất tiền chi phí chôn cất và mua đất ở nghĩa địa.
– Ngoài tiền hỏa táng ra, còn có mục chi phí nào khác nữa không.
– Có chứ. Thân xác của ông sẽ được tắm rửa, thoa son đánh phấn, và được đặt trong một cỗ quan tài thiệt đẹp. Chúng tôi sẻ tổ chức linh đình cho ông. Ai trông thấy nằm đó cũng phải thèm cái địa vị của ông.
– Nếu tôi thích đi con đường hỏa táng, thì tôi đâu có cần mua quan tài làm gì cho tốn tiền?
           Lần này hắn nhìn tôi một cách khinh thường ra mặt, và nói với một giọng mỉa mai:
– Ông cũng cần phải được trang điểm và nằm trong một cỗ quan tài đàng hoàng khi bạn bè thân thuộc đến thăm viếng ông lần cuối cùng. Trưng bày thân xác ra như vậy mới là người đàng hoàng chứ! Tuy nhiên, nếu ông thích bủn xỉn, thì cũng không sao. Chúng tôi cũng có thể chiều ông được. Ðáng lẽ ông mua một cỗ quan tài rẻ tiền, ông có thể thuê một cỗ quan tài sang nhất hạng. Cỗ này đáng giá 11,000$. Những người giầu sang mua loại này, rồi mang đi chôn hay đốt cùng với cái xác của họ. Nhưng nếu ông mướn cỗ quan tài này, để nằm vài ba bữa, lấy le với bà con lối xóm, thì ông chỉ phải trả tiền thuê là 2,850$. Thiệt là rẻ mạt! Làm sao mà người đời biết được rằng ông là người hà tiện, đến lúc “nằm xuống” mà còn không dám bỏ tiền ra mua một cỗ quan tài để nằm cho thoải mái.
– Nhưng tôi không muốn “trình làng nước” cái thân thể xám ngắt của tôi cho mọi người chiêm ngưỡng thì sao?
            Hắn thở dài đến sượt một cái như một thầy giáo làng nhìn thằng học trò bướng bỉnh lại còn có tật cù nhầy:
– Làm như vậy cũng bớt được vài ngàn: tiền son phấn, tiền thuê quan tài, tiền thuê Nhà Ðòn v.v.. Mà ông cũng không cần phải chi cho các vị tu sĩ đến tụng kinh gõ mõ tùm lum trong Nhà Ðòn của chúng tôi làm gì. Thế là ông đỡ thêm được vài ba trăm nữa. Ðối với hạng người “rẻ tiền” như ông, đỡ được trăm nào hay trăm đó, có phải không?
          Thằng cha “tiếp thị” cho tôi là người bủn xỉn nên có vẻ bực mình lắm. Hắn chỉ muốn thu được nhiều tiền cho chủ Nhà Ðòn để được ăn nhiều tiền hoa hồng do gia đình “người ra đi” cung phụng. Vì thế, mỗi lần tôi bớt được món chi phí nào là hắn có vẻ đau đớn như đang bị bà nha sĩ nhổ một cái răng hàm bự trong mồm. Cuối cùng, tôi chọn một chương trình hỏa táng hợp với ý tôi. Tổng số tiền tôi phải chi ra là 2,709.24$ cho những mục như sau:
• tiền giấy tờ (khám nghiệm xác chết, giấy khai tử, v.v.);
• tiền xe đưa xác tôi từ nhà xác đến Nhà Ðòn;
• tiền hòm bằng giấy cứng (50$) đựng xác chết để mang đi hỏa táng;
• tiền đưa hòm xác tới lò đốt (không có vụ bầy biện thân xác ra cho mọi người “dòm ngó”);
• tiền đốt xác;
• tiền hộp đựng tro để trao cho vợ tôi mang đi thả xuống biển (tôi mua loại rẻ tiền nhất nên chỉ tốn có 20$; còn loại sang và đẹp thì lên tới 500$);
• tiền thuế trả cho thành phố, tiểu bang, và liên bang.
            Người “tiếp thị” đại diện Nhà Ðòn Tubman và tôi cùng ký vào tờ khế ước (bốn bản). Sau đó, tôi hân hoan trao cho hắn tấm ngân phiếu 2,709.24$. Tôi phải trả tiền trước. Ðối với tôi, điều này rất thuận tiện, vì sau này giá cả có gia tăng thì Nhà Ðòn ráng mà chịu, chứ những “người ở lại” không còn phải lo lắng điều gì cho “người ra đi.”
        Khi vợ tôi đi làm về, tôi hý hửng đưa cho cô nàng xem tờ khế ước. Thế là cô nàng khóc bù lu bù loa, rồi hỏi tôi một câu mà tôi cho là lãng nhách:
– Trong cả cuộc đời của anh, anh chỉ thích chơi sang. Tại sao đến cuối cuộc đời, anh lại định chết một cách rẻ tiền như vậy?
– Em hỏi một câu thiệt là lãng nhách! Thế nào là chết rẻ tiền? Chết sang thì đi đến đâu? Mang tiền ra cúng Nhà Ðòn và Nhà Nước làm gì? Chúng nó làm gì có quyền cấp visa cho anh vào Thiên Ðàng, hay vào Vùng Cực Lạc. Việc gì mình phải “đút lót” chúng nó? Dù sao anh cũng “save” hơn 12,000$, chứ đâu có phải là ít.
– Em không cần món tiền đó đâu!
– Nếu em không cần số tiền đó, thì em mang nó đi giúp người nghèo, có sao đâu? Ða số dân ta hiện đang sống trong cảnh nghèo túng. Em có biết rằng nếu em mang 12,000$ về Việt Nam, em có thể nuôi hơn 60 em mồ côi trong một năm. Như vậy, anh là người “chết sang” hay là người “chết rẻ tiền”?
         Thấy tôi lý luận như vậy, cô nàng vừa lau nước mắt vừa cười đùa:
– Thôi, anh muốn chết kiểu nào cũng được. Cái đó tùy anh. Nếu anh “ra đi” trước em, em sẽ chúc anh theo kiểu Tàu: “Thượng Lộ Bình An,” và xin anh “Bảo Trọng.”
– Vậy, trước khi “ra đi,” anh sẽ chào em theo kiểu Mỹ: “Hẹn Ngày Tái Ngộ” – “See You Later.”

3 thg 5, 2012

Bức Tranh Rất Nổi Tiếng Của Tàu

          Mời các bạn mở link dưới đây để xem bức tranh rất nổi tiếng của Tàu.

          Người ta nối đuôi hàng giờ ở bảo tàng Thượng Hải để ngắm bức tranh này .



 Bức tranh được vẽ khoảng 1085-1145. Tranh được phục chế vào triều đại Quing. Bức tranh có chiều rộng là 5m28 và chiều cao là 24m8. Được xem như một trong những quốc bảo của Tàu, và được trưng bày trong viện bảo tàng mỹ thuật Hongkong năm trước. Mời các bạn dành thời gian để đi dạo theo bức tranh này.( Lưu ý hình ảnh trong bài viết copy lại không sử dụng chuột để di chuyển hoặc nghe âm thanh được )
  • Bước 1 - Bấm vào link dưới đây :

            http://www.npm.gov.tw/exh96/orientation/flash_4/index.html

  • Bước 2 - Các bạn dùng chuột điều khiển vận tốc di chuyển.
 Thí dụ di chuyển chuột về trái càng nhiều, tranh sẽ di chuyển về phải càng nhanh, hoặc ngược lại.
Đến những khung vuông màu trắng thì nhấp chuột vào cho có âm thanh và hình ảnh di động xem thật thú vị.

15 thg 4, 2012

PHO TƯỢNG KỲ LẠ NHẤT VIỆT NAM

           Một người bạn fw cho tôi một bản tin mang nội dung về pho tượng lạ ,độc đáo của Việt Nam : pho tượng chùa Hoè Nhai với hình ảnh một ông vua nằm phủ phục và có Phật Thích Ca ngồi trên lưng.Xem xong tôi hơi bị “nóng trong người ” bởi bài viết có câu “Có lẽ nhiều người ở Hà Nội không hề hay biết rằng giữa thủ đô có một bức dị tượng không giống với bất kì bức tượng Phật nào khác.”Nói cho vui vậy chứ tôi sao dám tự nhận là người dân thủ đô khi đã sớm rời xa Hà Nội vào Nam ngay từ tấm bé lúc học chưa hết bậc tiểu học.Nhưng chợt nghĩ chắc cũng còn không ít người chưa biết về pho tượng kỳ lạ này nên tôi mày mò sưu tầm, thêm một số chi tiết cùng hình ảnh liên quan để giới thiệu trên blog ,như một việc làm “thừa giấy vẽ voi” nhưng biết đâu lại có thể giúp ích cho những ai cần tìm hiểu.
 
 Vài nét về Chùa Hòe Nhai 


 

           Chùa Hòe Nhai có tên chữ là Hồng Phúc tự , cũng vì vậy được gọi là chùa Hồng Phúc. Chùa thuộc địa phận  phường Hòe Nhai,tổng thượng, huyện Vĩnh Thuận, kinh thành Thăng Long;nay ở số 19 phố Hàng Than, phường Nguyễn Trung Trực – Quận Ba Đình - Hà Nội .Tương truyền chùa được xây dựng từ thời Lý.Chùa đã sửa chữa và xây lại nhiều lần vào các năm  1699,1703,1812,1894,1920,1946.Căn cứ vào tấm bia dựng vào năm Chính Hòa 24 (1703) do tiến sĩ Hà Tông Mục soạn có ghi rõ chùa được dựng tại bến Đông Bộ Đầu,nên giới sử học nhờ đó xác định được trận đánh quân Nguyên ngày 29 – 1 -1528 là gần chùa Hòe Nhai hiện nay .

        Chùa được xây dựng theo kiểu chữ công.Phía trước là chính điện, phía sau là nhà tổ và tăng phòng, xung quanh là hành lang.Thượng điện còn giữ được nhiều bức chạm hình tứ linh và các cửa võng sơn son thếp vàng. Chùa có nhiều tượng Phật được bày làm 6 lớp. Tổng số tượng ở chùa Hòe Nhai gồm 68 pho, được làm bằng nhiều chất liệu khác nhau như đồng hun, gỗ quý, đất nện, được sơn son thếp vàng. 


      Chùa có một quả chuông mang niên hiệu Long Đức 3 (1734). Sân chùa có hai ngọn tháp cao 3 tầng. Trong chùa còn có đến 28 tấm bia, cổ hơn cả là bia dựng năm Chính Hoà 24 (1703) ghi rõ vị trí chùa ở phường Hoè Nhai, tại Đông Bộ Đầu tức Bến Đông.Chính nhờ bia này mà giới sử học ngày nay xác định được vị trí trận chiến thắng ngày 29 tháng 1 năm 1258 của quân nhà Trần mà sử chép là chiến thắng Đông Bộ Đầu, đuổi quân Nguyên, giải phóng kinh thành có vị trí ở khu vực gần chùa Hoè Nhai ngày nay.
         Chùa có nhiều tượng Phật sơn son thiếp vàng mang phong cách của Thế kỷ 18. Đặc biệt  gian bên phải của chính điện hiện có pho tượng Phật  ngồi trên lưng một ông vua đang phủ phục – Duy nhất chỉ có ở chùa Hòe Nhai.Chùa có Quả chuông mang niên hiệu Tự Đức 17 ( 1864  ) một khánh đồng cao 1,5 m , đúc nămGiáp Dần niên hiệu Long Đức 3 ( 1734 ) đời Lê Thần Tông .



        Sân chùa có hai ngọn tháp cao 3 tầng,chùa mới dựng ngọn tháp Ấn Quang năm 1963 để kỷ niệm Hòa Thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu phản đối chế độ Ngô Đình Diệm đàn áp Phật Giáo .
        Trong chùa có rất nhiều tấm bia.Qua đó chúng ta được biết chùa là trụ sở của một trong những tông phái Phật Giáo lớn của Việt Nam đó là Phái Tào Động.Phái Tào Động có sư tổ thứ nhất là Hòa Thượng Thủy Nguyệt , tổ thứ hai là Thiền sư Chân Dung … Tính đến năm Nhâm Thân (1932) thiền sư Tam Nghĩa Thích Nhân Từ , phái Tào Động đã trụ trì ở đây được 47 đời . Nhiều Thiền Sư đã được vua sắc phong. Hiện chùa còn giữ được một đạo sắc phong do vua Lê Hiển Tông phong cho thiền sư Trần Văn Chức vào năm Cảnh Hưng Thứ 11 ( 1750 ). Thời Gian cuối đời Đức Đệ nhất Pháp chủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam – Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Đức Nhuận đã ở đây.
         Chùa Hòe Nhai trải qua nhiều lần sửa chữa lớn vào các năm 1687,1899 và 1952. Phạm vi chùa trước kia khá lớn, sang thờiPháp thuộc bị thu lại như hiện nay.Vừa qua chùa mới được Đại Đức trụ trì  Thích Tâm Hoan cùng tín đồ Phật tử trong và ngoài nước với sự giúp đỡ của chính quyền các cấp đã tu sửa nhà tổ,nhà khách,nhà thờ Thất Phật ,quy hoạch lại khuôn viên tháp Ấn Quang .. thật là tố hảo .Trong thời gian tới  sẽ tiếp tục trùng tu lại Thượng điện thờ Tam Bảo.Thật xứng với lời tụng “ Chùa Hồng Phúc ở Hà Thành , núi Nùng như vạt áo,sông Nhị như giải lưng,hồ Trúc Bạch chắn ngang,dòng Tô Lịch vòng lại,đây thật là chốn tùng lâm lâu đời của đất Thăng Long “ ( Văn bia 1703 ). 

 Lai lịch pho tượng kỳ lạ

         Pho tượng này là kết quả từ một cuộc pháp nạn của các tăng ni Phật giáo Việt Nam năm 1678. Khoảng thời gian hậu Trần đó, Phật giáo không còn được đứng ở vị trí quốc giáo nữa, thay vào đó là Nho giáo thịnh hành hơn bao giờ hết.Đỉnh điểm là đến thời vua Lê Hy Tông đã có một sắc lệnh đuổi hết các sư sãi lên rừng, ai không đi sẽ bị trừng trị nặng nề. Đạo Phật khi đó đã phải trải qua một thời kỳ nhọc nhằn. Một trong số những hòa thượng đắc đạo pháp danh Tông Diễn,được biết đến với tên Tổ Cua,Tổ Cáy cũng bị buộc phải đi qua con đường hoặc sinh hoặc tử này.

   
         Theo lời kể của nhà sư Thích Tâm Hoan,Thượng toạ trụ trì tại chùa hiện nay,pho tượng này là kết quả từ một cuộc pháp nạn của các tăng ni Phật giáo Việt Nam năm 1678. Khoảng thời gian hậu Trần đó, khi Phật giáo không còn được đứng ở vị trí quốc giáo nữa, thay vào đó là Nho giáo thịnh hành hơn bao giờ hết. Phật giáo Việt Nam đã trải qua một giai đoạn bị cho rằng không có lợi gì cho xã hội, các tăng ni phật tử sống trong chùa lười nhác và ăn bám xã hội. Đỉnh điểm là đến thời vua Lê Hy Tông đã có một sắc lệnh đuổi hết các sư sãi lên rừng, ai không đi sẽ bị trừng trị nặng nề. Đạo Phật khi đó đã phải trải qua một thời kỳ nhọc nhằn.Một trong số những hòa thượng đắc đạo pháp danh Tông Diễn, được biết đến với tên Tổ Cua, Tổ Cáy cũng bị buộc phải đi qua con đường hoặc sinh hoặc tử này. 

          Hòa thượng Tông Diễn là thế hệ thứ hai của phái Tào Động tại Việt Nam. Việc ông thả toàn bộ mớ cua mẹ mua được xuống ao khi nhìn thấy chúng khóc (sùi bọt) là lý do ông mang tên Tổ Cua,Tổ Cáy.Cũng sau sự kiện phóng sinh cua, ông đã lên chùa theo Phật, được biết đến như một danh tăng lỗi lạc của kinh thành Thăng Long lúc bấy giờ.Không cam tâm thấy tăng chúng phải trải qua pháp nạn quá nặng nề đó, hòa thượng Tông Diễn đã tìm cách len lỏi trở lại kinh thành Thăng Long,tìm cách giáo hóa vị vua Lê Hy Tông đầy quyền uy và kì thị, vị vua mà sau này, nguyện phủ phục dưới Phật để sám hối những lỗi lầm đã phạm.
         Hòa thượng Tông Diễn đã dùng một "phương tiện" để có thể gặp được vua Hy Tông, ông nói dối rằng có một viên ngọc quý muốn dâng tặng. Tuy nhiên, vua Hy Tông kiêu ngạo chỉ cho người ra lấy ngọc. Hòa thượng Tông Diễn bèn cho một tấm biểu đã viết sẵn vào một chiếc hộp chuyển vào cho vua Hy Tông. Trong biểu chỉ có những điều đơn thuần dễ hiểu như: hãy nhìn vào đời Trần, đời Lý, các vua hết sức coi trọng đạo Phật và rồi quốc gia thịnh trị, đạo Phật khiến người ta biết ăn uống đúng mực, không sân si, không giết người cướp của, nó như một viên ngọc quý của quốc gia, vậy tại sao cho đến giờ đạo Phật lại bị cho rằng không mang lại lợi ích gì cho xã hội...
         Vua Hy Tông mở chiếc hộp và đọc chiếu mới bừng tỉnh, cho vời hòa thượng Tông Diễn vào trò chuyện. Sau khi nghe hòa thượng thuyết pháp, bèn rút lại sắc lệnh đã ban. Vua Hy Tông từ đây hết sức sửa mình, tự nguyện đề nghị với hòa thượng Tông Diễn rằng nên làm một bức tượng mà trong đó, vua phủ phục dưới Phật, để thể hiện sự sám hối và sửa mình một cách cẩn trọng của ông. Đây là bức tượng độc đáo nhất của văn hóa Phật giáo Việt Nam, mang tính cách Việt và lịch sử Việt, không nơi nào trên thế giới có một mã văn hóa như thế.

Bài học sửa mình

        Đây là bức tượng độc đáo nhất của văn hóa Phật giáo Việt Nam, mang tính cách Việt và lịch sử Việt, không nơi nào trên thế giới có một mã văn hóa như thế.Trong triết học nhà Phật, nghĩa gốc của chữ tu là sửa, con người hàng ngày thể nào rồi cũng đụng chạm đến đời sống của chúng sinh hoặc làm những điều bị ngăn cấm.Vua Lê Hy Tông đã vi phạm một điều rất lớn là phá đạo, trong khi đạo Phật luôn chủ trương đường lối không dùng sự thủ tiêu và tàn nhẫn, đó là một cách "cai trị" mà không cần vũ lực.TS Hán học Cung Khắc Lược, cán bộ nghiên cứu của viện Hán Nôm, nhận xét :"Dáng nằm như gãy đó thể hiện một sự quy phục tuyệt đối, dáng mẫu mực của sự thuần phục, ra sức, nó hơn hẳn sự thành khẩn của mọi nền phê bình.Đó là sự chân thành, một sự thay đổi xuất phát từ sâu sắc trong tim chứ không gượng ép và do đó, đây không phải là một sự trừng phạt.Pho tượng này là để muôn đời chứ không phải là để hoài cổ, như một di tích.Vị vua này đã nghĩ đến một mai hậu của tấm lòng con người, rằng muốn phát triển và thúc đẩy thì phải thay đổi, phải nhận ra mình và cung kính sửa bỏ, thành thực và có một thái độ, nghị lực lớn thì mới đạt được trí tuệ để thay đổi nhân quần xã hội."
         Đất nước chúng ta đang trên đà đổi mới, các lãnh vực khoa học kỹ thuật, kinh tế phát triển rất nhanh nhưng chưa bao giờ đạo đức xã hội lại xuống cấp như hiện nay. Vì sao vậy ? Trong cơn lốc của nền kinh tế thị trường,giới trẻ khó đứng vững được trước những thay đổi chóng mặt của nó.Họ mải chạy theo những giá trị vật chất,những thứ đảm bảo cho một cuộc sống thoải mái tiện nghi.Với xu thế đó,họ không có thời gian để thưởng thức những giá trị tinh thần cao đẹp,lao đầu vào dòng đời ngược xuôi tốc độ,cạnh tranh.Trong đầu óc giới trẻ,ai bình chân lương thiện người đó sẽ chết đói bởi “thật thà ăn cháo, láo nháo ăn cơm”;nếu cứ sống lương thiện thì áo chẳng có mặc,cơm chẳng có ăn,nói chi “ăn no mặc ấm, ăn sung mặc sướng”.Bên cạnh đó lối sống buông thả,gian lận thương trường,tham ô tham nhũng của người lớn được du di cho qua đã khiến họ nghĩ “làm sai cũng chẳng sao cả”, vì đâu có thấy những hành vi đó bị trừng phạt thích đáng.
       Thật nguy tai nếu giới trẻ nhận thức phiến diện như thế.Chúng sẽ không coi trọng việc học và lơ là rèn luyện đạo đức làm người để rồi ra đời lại sẽ dẫm chân vào vết cũ của cha ông.Thực tế cho thấy mối hiểm họa trên đã được nhiều nhà giáo,nhà nghiên cứu xã hội nhìn ra từ xa,trước khi nó phát triển.Thế nhưng họ đã làm được những gì ? Phải chăng là những lời kêu gọi sáo rỗng hoặc những đợt cải cách đạo đức lẫn giáo dục dẫm chân nhau mà chả cải mới được gì.Toàn xã hội cần phải làm gì đây?Câu trả lời xin để mọi người đọc suy ngẫm.Người viết chỉ xin phép được nhắc lại lời chỉ dạy của nhà sư Thích Tâm Hoan khi nói về vua Hy Tông:”Sống trên đời ai cũng có lỗi lầm nhưng ít người chịu nhận,có nhận thì họ cũng chỉ tự nhận với mình hoặc nhận với nhau,những người sẽ không đánh giá và quy tội họ,hoặc có người nhận thì chỉ là nhận suông thôi,không chịu sửa.Vị vua này, người mang quyền lực tối cao trong một nhà nước đã biết nhận lỗi, sửa lỗi.Sự sám hối này không chỉ cho mình ông,mà còn để răn dạy bao thế hệ về sau nữa."

10 thg 4, 2012

MỘT BUỔI SÁNG Ở HUẾ


     ĐI TẬP THỂ DỤC DỌC BỜ SÔNG HƯƠNG
         Tôi thức giấc lúc nhưng không dám ngồi dậy vì trong nhà chưa có ai dậy cả.Trời vẫn còn tối.Ánh sáng vàng vọt của các bóng đèn đường thưa thớt không đủ thấy rõ mặt đường,chắc nó chỉ có tác dụng dẫn đường cho những ai đi khuya.Tiếng xe máy rền vang giòn giã lướt qua nhà phá tan sự tĩnh lặng của khu phố Nguyễn Bỉnh Khiêm đang say ngủ. Nhìn đồng hồ thấy mới  4g sáng thôi.Ai mà đi đâu sớm thế nhỉ ?
       Phải đến 20 phút sau,đến khi anh Dinh dậy thì chúng tôi mới cùng ra ngoài sân đánh răng súc miệng bên lu nước cạnh nhà.rồi bắt đầu đi bộ thể dục dọc theo con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm ra bờ sông Hương về hướng chợ Đông Ba.
       Suốt con đường,mùi hương nguyệt quế từ vườn nhà ai thoảng ra thơm lựng mũi.Gió từ sông thổi vào mát rượi.Tiếng nước vỗ nghe dạt dào nhẹ và êm đềm làm sao!Toàn cảnh sông Hương chỉ tuyền một màu xanh đen thẫm,láng một lớp ánh bạc lung linh,nhấp nhô theo từng con sóng nhỏ.


       Bên bờ kia là Cồn Hến đang nằm co ro trong một lớp áo gió màu xanh đen đặc tạo nên bởi hàng cây bao boc xung quanh,tìm mãi không ra một đóm sáng.Có lẽ Cồn Hến đang say ngủ.Xa xa về phía cầu Trường Tiền,những đốm sáng  lập loà của các toà cao ốc soi mình trên dòng Hương tạo thành những vệt sáng lung linh mờ ảo.Phía cầu Chợ Dinh vẫn đang im lìm bỗng xuất hiện tiếng phành phạch to dần của một vài con đò máy đang lướt dần về phía chợ Đông Ba.Bầu trời Huế vẫn còn đang ngái ngủ vội thức giấc soi sáng cho mọi thứ trên trần gian này.


      5h đúng.Bình minh ló dạng xua tan cái bóng đêm đang còn nấn ná ở tận cùng mọi  ngõ hẹp.Tiếng chân người đã bắt đầu rộn rã trên mọi nẻo đường.Có những người ra bờ sông để hít thở bầu khí Huế trong lành lúc tinh mơ.Những chiếc xe thô sơ vội vã ngược xuôi mang hàng ra chuẩn bị bán quà sáng cho khu phố cổ.Vạn vật đã lấy lại sinh khí sau một giấc ngủ đẫy đà mộng mị.
 
         THƯỞNG THỨC BÚN BÒ HUẾ CHÍNH GỐC

         Đi tập thể dục về,tôi ngồi nghỉ để hồi sức và cũng là để ngắm nhìn phố sá trước cửa nhà.Bỗng một chiếc xe ba gác lạch cạch dừng lại.Người đàn ông vội vã mang những thứ trên xe xuống đặt ở bên trái sân nhà.Đó là một tấm bảng hiệu nhỏ màu xanh vẽ tay những dòng chữ đỏ khiêm tốn : “Mừng – BÚN BÒ - GIÒ HEO - CUA CHẢ VỊT – Kính mời”.Cạnh đó là một tủ kính nho nhỏ rồi một số bàn ghế nhựa màu nâu đỏ bạc màu và lỉnh kỉnh vật dụng bếp núc nồi niêu,rổ rá . . .
        _Chào các bác ! Các bác ra chơi Huế à ?”
        Bà chủ quán tên Mừng sởi lởi hỏi thăm chúng tôi khi thấy nhà hôm nay bỗng có người lạ.
        _Vâng,chào bà! Chúng tôi về đây thăm gia đình ...
         Vợ chồng bà Mừng thuê sân trái nhà của anh Quý Hiếm cũng đã lâu để bán hàng ăn sáng cho người trong khu phố.Bà vội vã mang vịt ra cắt tiết,nhặt lông bên cạnh lu nước, tranh thủ lúc ông chồng đang nổi lửa nấu nồi nước lèo to đùng đàng trước.Thế là sáng nay chúng tôi không phải đi đâu xa,bún bò đã mang đến tận miệng.


  .
       Bún bò Huế là món ăn đặc biệt truyền thống Huế có mặt khắp nơi không kể giàu nghèo sang hèn.Nói một cách thiển cận,người ta tổng hợp bò trong phở bò nổi tiếng xứ Bắc ,giò heo trong bánh canh giò heo trong Nam nấu pha với ruốc Huế ở tại chỗ.Và để chế ngự các chất liệu đối kháng nhau người ta cho vào đấy vài củ sả và ớt sa tế để dung hợp. Tất nhiên phải có bún sợi to chứ không nhuyễn nhỏ. Gia vị là hành tây,hành ta,ngò, tiêu,chanh,ớt,rau rác đủ loại như bắp chuối,rau muống bào,giá sống,rau quế, tía tô, húng lủi. . . Đấy là cái văn hoá ẩm thực tổng hợp ba miền,thể hiện vai trò trung tâm văn hoá khi Huế được chọn là kinh đô trước đây.Bún bò Huế có mặt trong cung đình và khắp hang cùng ngõ hẹp xứ Việt,rồi theo chân người Huế ra hải ngoại góp phần làm xán lạn cái văn hoá ẩm thực người Việt.Vừa rồi cơm tấm và bún bò là hai món ăn hè phố Việt Nam từng được trang web CNNGo.com bình chọn là những món ngon được bạn bè nước ngoài yêu thích .
        Tuy nhiên bún bò dừng chân ở đâu thì nó được chế biến khác đi cho hợp khẩu vị người vùng đó.Ngay cả trong Thành Huế các hiệu ăn cũng nấu khác nhau theo cách riêng của mình.Còn ở đây cứ xem cái bảng hiệu thì có thể biết,tô bún bò Huế quán bà Mừng cho thêm chả cua hoặc cái đùi vịt nếu khách kêu.
          Bà Mừng hôm nay vui mừng ra mặt vì đã được các người khách phương xa đến  mở hàng.Bốn tô bún bò thơm lừng bốc khói nghi ngút được bưng ra,ai ăn cũng xì xụp khen ngon ở cái vị mặn ngọt chua cay đậm đà rất  đặc trưng Huế.Và cái giá trả rất phải chăng là 100 ngàn,bao gồm 4 tô và một cái đùi vịt gọi thêm.

          THĂM CỒN HẾN - ĂN CƠM HẾN

          Hôm trước tôi có giới thiệu với các bạn về Cồn Hến trên sông Hương,nhưng để dành đến hôm nay trong bài này mới xin được nói nhiều về Cồn Hến và cơm hến.
         Cồn Hến mang tên đúng nghĩa đen của nó,là nơi tụ họp sinh sống của họ nhà hến trôi dạt trên sông Hương từ thời xửa thời xưa.Cái của trời cho này dân cồn cứ việc vớt lên xài,không phải nuôi trồng chăm sóc gì cả.Ấy vậy mà có thời hến buồn lòng người “chỉ biết ăn chơi chẳng biết gì ”,nên đã bỏ bãi ra đi nơi nào không biết,báo hại dân cồn một phen đói khổ thảm thương.Sau nhờ một vị quan nổi tiếng biết chuyện,bày cho dân làng cồn lập đàn cúng bái long trọng,trời thương mới bảo hến về lại cồn. . .Từ đó dân trên cồn cứ lệ hàng năm tổ chức lập đàn cúng Tổ nghề hến vào 2 ngày 24-25/6 âm lịch rất linh đình.



          Dân Cồn Hến chủ yếu sống nghề khai thác hến để chế biến thực phẩm.Các món ăn từ hến ra đời cách đây khoảng 200 năm,vào thời vua Gia Long. Lúc đầu hến là món ăn cải thiện cuộc sống dân dã,sau vào cung đình vua Thiệu Trị thấy ăn ngon mà người làm hến lại vất vả nên đã ra chỉ dụ miễn thuế cho nghề này.Đến giờ, món ăn từ hến đã tiếp cận với giới thượng lưu bởi cách nấu điêu luyện, cho ra các món ngon lạ lại hết sức rẻ.Ngoài việc cào hến, người dân trên cồn còn trồng thêm bắp là nguồn lương thực chính.
           Đến thăm Cồn Hến người ta không thể ngờ rằng đây là một khu công nghiệp chế biến hến thật sự,nhà nhà làm hến,người người làm hến.Các quán cơm hến chè bắp dày đặc như thể một khu chuyên doanh món ăn hến của kinh thành Huế vậy.



         Đi đâu trong khắp thành phố Huế cũng gặp gánh cơm hến.Đa số thực khách là những người dân nghèo lam lũ,học sinh sinh viên ăn cho chắc bụng mà chẳng lo túi tiền có đủ hay không.Có gì đâu : một ít cơm nguội để qua đêm chan với nước luộc hến,một muỗng cà phê hến xào,vài miếng bánh phồng,vài hột đậu phộng rang và vài ba cọng rau thơm,ớt sa tế . . . là xong.Thế nhưng nước luộc hến dùng phải nghe mùi thơm của hến,nấu đủ sôi để chan vào cơm nguội ăn vừa đủ nóng, và hẳn nhiên phải có vị đậm đà của ruốc Huế hoà trộn vào.Cái chính của cơm hến là nước hến,nên khi ăn cơm mà chán thì người ta có thể thay đổi mì gói,bún,phở,cháo hến.Hến mộc mạc thân thuộc với Huế như một câu ca dao :

                                     “Thương thay con hến con sò
                                       Nắng mưa chịu vậy biết bò đi đâu”




          Dạo chơi trên Cồn Hến,chúng tôi tìm được một quán ăn sân vườn khá tươm tất,tên “Hoa Đông”.Khi biết chúng tôi từ phương xa tới,bà chủ quán giọng Huế ngọt ngào niềm nở : “Mời các anh vào dùng thử món cơm hến nhà em ạ !” Chưa thưởng thức nhưng qua giọng ngọt ngào của bà chúng tôi đã cảm nhận được cái ngon của tô cơm hến do bàn tay khéo léo của người chủ quán trực tiếp chan múc và bưng tới tận bàn.




       Và ăn như thể chưa đã,chúng tôi gọi thêm tô bún hến xem có khác gì với cơm hến,và thêm nữa ly chè bắp cho đủ vị ẩm thực của làng Cồn Hến.Thú vị biết bao khi nhìn thấy khăn giấy chùi miệng ở đây được cắt xếp đẹp mắt,và khuyến mại thêm bình trà đá thơm ngát mùi gừng.




           Qua Cồn để ăn một tô cơm hến cho đúng chỗ,nghe một giọng Huế đúng điệu,cuộc hành trình thăm Huế mang lại một cảm xúc tuyệt vời đến giờ về Sài Gòn khi ngồi viết những dòng này tôi vẫn không quên.
                                                                                                                           TTQ

7 thg 4, 2012

NUỐC HUẾ, DƯA GANG TÔM ĐÁNH

     
         Quán Bình nằm trên đường Trịnh Công Sơn nhìn ra bờ Sông Hương.Từ xa quán đã rực sáng với những bóng đèn tròn trắng xoá treo ngược trên các trụ đèn.Quán còn  được giăng mắc thêm những dãy đèn tuýp 1.2m càng tăng phần huyên náo ồn ào của một khu công nghiệp ăn uống. Quán có phong cách bình dân,nét đặc trưng giống như các quán liền kề.Chúng mọc ra rất nhanh khi cả dãy phố này đua nhau mở nhà hàng ngàn sao nhắm vào những người khách là dân bản địa vốn bình dị mộc mạc,làm việc ở mọi nơi trong thành phố và cả những du khách từ nơi khác đến.
          Chiều hôm nay quán Bình đông nghịt khách.Thực khách ngồi la liệt  trong nhà và cả mặt tiền trông ra khoảng không gian khoáng đãng của bờ sông Hương trước mặt.Họ thích quán Bình vì ở đây có các món nhậu đặc sản,không những  rẻ tiền,mùa nào thức ấy,lại còn được hưởng khuyến mại cái trời cho là ...gió mát Sông Hương.Trong tiết trời mùa hè oi bức,được bạn bè rủ ra đây ai mà chẳng thích.
         Các em phục vụ chỉ cỡ tuổi học sinh sinh viên,cá biệt cũng có vài em nhỏ đang chạy bàn thoăn thoắt.Có điều tất cả đều là phá nam cả.Hình như con gái Huế đài các hơn, ít chịu lụy mình bưng bê phục vụ người khác thì phải ?
          Vài chai bia Huda được mang ra sau khi đá được gắp vào ly cho từng người rồi đặt trước mặt họ.Chỉ ít phút sau,món nuốc Huế được dọn ra theo yêu cầu của khách : một đĩa nuốc trắng trong như những sợi bánh lọt tinh khôi được đặt giữa bàn kèm theo lỉnh kỉnh nào là một chén mắm ruốc Huế đánh lỏng ra nhưng phải hơi sền sệt, có màu nâu đỏ và thoảng lên một mùi thơm đậm đà rất Huế,một chén ớt bột cay hăng hắc,một dĩa đậu phọng rang giòn,một dĩa bắp chuối rau thơm không thiếu những lát vả,chuối chát làm nền.À quên phải có vài miếng chanh và ớt hiểm nữa chứ ! 


          Nuốc là tên gọi riêng của Huế chỉ một loại sứa trắng nhỏ bằng chiếc chén sinh sống ở vùng nước lợ Phá Tam Giang mà ngư dân chỉ đánh bắt được trong mùa hè.Con sứa nếu lấy phần chân thì ăn sần sật ngon hơn phần mình.Theo Đông y sứa có tác dụng làm mát trong người, nhất là với bọn trẻ con hay bị rôm sải.Ấy là nghe ai ở đây cũng nói thế chứ mình chưa tự kiểm chứng được điều này.Nhưng tôi có thể cam chắc một điều là nếu bạn thử gắp một miếng nuốc rồi dầm dầm vào chén mắm ruốc đã pha chế hương vị Huế đậm đà,cay cú,- tựa như nhúng cả cuộc đời một đứa trẻ tinh khôi vào vũng lầy nhem nhuốc cuộc sống -  kèm theo một vài cọng rau thơm,một lát quả vả rồi...".nhập khẩu" thì bạn có thể thốt lên một tiếng : “TUYỆT”- chứ không phải chỉ“TIỆT”- mà thôi  !!!

  
    Thêm một món nữa được gọi ra cho những người con của Huế đãi khách trong Nam thưởng thức đó là dưa gang chấm Tôm Đánh Huế (không phải loại mắm tôm dân Bắc hay ăn đâu nhé).Gọi là Tôm Đánh nhưng thật ra là món tôm với thịt băm nhỏ kho lên với mắm muối tiêu,hành,ớt bột cho cay nồng và sắc lại .Món này ăn hấp dẫn chẳng khác gì các món kho quẹt trong Nam.Hầu như sau này, các tay nhậu do chán ngấy các món cao lương mỹ vị, nên hay gọi món rau củ quả chấm mắm kho quẹt vừa rẻ lại vừa dễ ăn như món ăn cơm ở nhà vậy.Các món ăn ở quán Bình đây hẳn nhiên là quá ngon,lại nhắm với bia Huda của Huế nữa thì thật là đúng điệu !
      Nhưng hương vị của Huế chua cay mặn ngọt có đầy đủ phải ở mức đậm đà,cũng tợ như lúc bạn đang ngồi ăn uống ngon lành,bỗng xuất hiện một Mệ già trên 80 tuổi hom hem đến gần mời mọc bạn mua giúp vài tờ vé số ! Bạn có thể khựng lại và trầm ngâm giây lát,hỏi han để biết rằng cụ bà không con cháu nuôi dưỡng này đang phải bán vé số để nuôi cụ ông bệnh nằm liệt giường ở nhà.Và chẳng cần nghĩ suy mua bán gì cả,bạn sẵn lòng trao tặng cụ bà một trăm để cụ về sớm mà thuốc thang cho cụ ông mau khoẻ.Sau đó bạn dẫu có cảm thấy cay hơn trong miệng hay mặn chát trong cổ họng, thì món Huế bạn đang ăn dở tự nhiên sẽ ngon hơn gấp bội lần. Nó ngon ở chỗ bạn cảm thấy nhẹ lòng vì đã làm được một điều có ích cho những người già nghèo khó.Nó còn ngon hơn ở chỗ ngoài kia tiếng loa ầm ỹ của bài ca vọng cổ “Tình anh bán chiếu “ đang được một nhóm bạn trẻ bán kẹo kéo trong Nam ra cất lên, ru hồn bạn vào một âm điệu u buồn thấm thía,hoà lẫn nhịp điệu của tiếng sóng Sông Hương đang xô bờ mà bạn chỉ nghe thấy khi trong lòng thật trầm lặng. . .
        
                                                                                                                                            TTQ

HOA HỌC TRÒ-Trời đất dành riêng tuổi học trò.Một loài hoa đỏ rất nên thơ...

HOA HỌC TRÒ-Trời đất dành riêng tuổi học trò.Một loài hoa đỏ rất nên thơ...
Mỗi năm hoa nở mùa thi đến.Chạnh nhớ trường xưa nhớ bạn bè .Nguyenuthang ..